• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

Kỷ Niệm 45 Công Đồng Vatican II: Kim Chỉ Nam Cho Thế Kỷ XXI

Bài của AIMÉ SAVARD, nhà báo công giáo Pháp.

THIÊN AN  chuyển ngữ

 

Khai mạc ngày 11-10-1962 theo quyết định của Đức Giáo hoàng Gioan XXIII, Công đồng Vatican II đã bế mạc ngày 8-12-1965 dưới thời Đức Giáo hoàng Phaolô VI. Đã có trung bình mỗi khóa khoảng 2.500 nghị phụ tham gia vào bốn khóa họp của Công đồng vào Mùa Thu các năm từ 1962 đến 1965. Trong tổng số các nghị phụ tham gia Công đồng, 39% đến từ châu Au, 22% từ châu Mỹ Latinh, 13% từ Bắc Mỹ, 10% từ châu Phi, 10% từ châu Á, 3,5% từ thế giới Arập, 2,5% từ châu Úc.

Công đồng Vatican II đã thông qua và công bố 16 văn kiện, trong đó (theo loại và theo thứ tự thời gian công bố):

-  Ba Hiến chế:

1/. Hiến chế về Phụng vụ Thánh (Sacrosanctum Concilium, ngày 4-12-1963.

2/. Hiến chế Tín lý về Mặc khải của Thiên Chúa (Dei Verbum), ngày 18-11-1965.

3/. Hiến chế Mục vụ về Giáo hội trong Thế giới Ngày nay (Gaudium et Spes), 7-12-1965.

- Chín Sắc lệnh:

1/. Sắc lệnh về những phương tiện truyền thông xã hội (Inter Mirifica), ngày 4-12-1963.

2/. Sắc lệnh về Đại kết (Unitatis Redintegratio), ngày 21-11-1964.

3/. Sắc lệnh về Các Giáo hội Công giáo Đông phương (Orientalium Ecclesiarum), ngày 21-11-1964.

4/. Sắc lệnh về Mục vụ của các Giám mục trong Giáo hội (Christus Dominus), ngày 28-10-1965.

5/. Sắc lệnh về việc Đào tạo Linh mục (Optatam Totius), ngày 28-10-1965.

6/. Sắc lệnh về Canh tân thích nghi đời sống dòng tu (Perfectae Caritatis), ngày 28-10-1965.

7/. Sắc lệnh về Tông đồ Giáo dân (Apostolicam Actuositatem), ngày 18-11-1965.

8/. Sắc lênh về chức vụ và đời sống linh mục (Presbyterorum Ordinis), ngày 7-12-1965.

9/. Sắc lệnh về hoạt động truyền giáo của Gíao hội (Ad Gentes).

- Ba Tuyên ngôn:

1/. Tuyên ngôn của Giáo hội đối với những Tôn giáo ngoài Kitô giáo (Nostra Aetate), ngày 28-10-1965.

2/. Tuyên ngôn về nền Giáo dục Kitô giáo (Gravissimum Educationis, ngày 28-10-1965.

3/. Tuyên ngôn về Tự do Tôn giáo (Dignitatis Humanae), ngày 7-12-1965.

Nhân dịp kỷ niệm 45 năm ngày bế mạc Công đồng Vatican II, xin giới thiệu với Bạn đọc một số tài liệu và bài viết về sự kiện được coi là một cuộc cách mạng, một Mùa Xuân mới, của Giáo hội Công giáo hoàn vũ này.

Phiên họp Khai Mạc Công Đồng Vatican II ngày 11 - 10 - 1962

 

CÔNG ĐỒNG VATICAN II: KIM CHỈ NAM CHO THẾ KỶ XXI

Ngày 8-12-1965, Đức Phaolô VI long trọng tuyên bố bế mạc Công đồng Vatican II. 45 năm sau, bốn khóa họp của cuộc tập hợp rộng rãi các giám mục công giáo của toàn thế giới đang đi vào lịch sử. Đối với người tín hữu, “Công đồng”, như người ta thường gọi, đã gây nên những phản ứng khác nhau. Tính chính đáng của Công đồng ngày càng bị những nhóm bảo thủ chống đối một cách công khai. Và Công đồng không phải lúc nào cũng được chấp nhận bởi không ít những tín hữu “chuộng cổ”. Nhưng đó cũng chỉ là những thiểu số. Còn nhìn thẳng vào thực tế, chúng ta thấy trong tổng thể, đối với các thế hệ trẻ, Công đồng Vatican II chẳng nói lên điều gì rõ ràng. Cụ thể như ở Pháp, trong tình trạng chung là thiếu kiến thức trầm trọng về các vấn đề tôn giáo, những người Pháp dưới 50 tuổi biết về Công đồng Vatican II cũng chẳng nhiều hơn về công đồng Vatican I hay Công đồng Trente (mà đôi khi họ nghe nói đến trong các giờ học môn lịch sử).

Dẫu vậy, Công đồng Vatican II đã tạo nên một sự đảo lộn to lớn trong một Giáo hội Công giáo đang co cụm lại từ gần hai thế kỷ qua, một Giáo hội đang ẩn náu trong một thái độ tự vệ trước thế giới hiện đại. Và người ta còn cảm nhận được ảnh hưởng của sự biến chuyển này bên ngoài những ranh giới của đạo công giáo. Công đồng Vatican II đã có những tác động không những trên các nhánh khác của Kitô giáo mà còn cả trên thế giới thế tục.

Để bắt đầu, tôi muốn cùng với Bạn đọc nhìn xem như thế nào và vì sao sự thay đổi này, dưới con mắt của các sử gia, đã trở nên như một cuộc cách mạng thực sự. Tiếp đó, tôi đề nghị chúng ta cùng đọc lại các giáo huấn của Công đồng vốn là nguồn gốc của sự thay đổi này bằng cách nêu lên những nét chính yếu. Cuối cùng, chúng ta sẽ tự hỏi về cách mà Công đồng đã được đón nhận trong Giáo hội, đối chiếu những cách nhìn của chúng ta trong việc đánh giá Công đồng Vatican II và tương lai của Giáo hội.

1. Một cuộc cải cách sâu sắc của Giáo hội Công giáo bằng việc trở về nguồn

Trên tờ báo “La Croix” (Thánh Giá) ngày 11-7-2007, nữ thông tín viên tại Rôma của tờ báo này có viết : “Đây là một xác tín mạnh mẽ của Đức Bênêđictô XVI : phải diễn tả Vatican II không phải như một sự đứt đoạn, nhưng như một sự tiếp nối với những gì đã có trước đó”. Thực ra đây là tinh thần của nhiều phát biểu gần đây của Đức Giáo hoàng. Nhưng đây cũng là một nghịch lý. Bởi vì hơn 40 năm sau, dưới mắt các sử gia, Công đồng này đã được coi như một cuộc cải cách căn bản và do đó là một sự đứt đoạn thực sự. Đứt đoạn với một quá khứ tương đối gần, với lịch sử của Giáo hội công giáo trong những thế kỷ gần đây. Tuy nhiên sự đứt đoạn này không phải là một sự chối bỏ, nhưng là trở về nguồn của Tin Mừng và của Giáo hội những thời kỳ đầu. Và sự đứt đoạn này đã được chuẩn bị một cách ít nhiều âm thầm trong suốt những thập niên trước đó.

ĐGH Gioan XXIII ký quyết định triệu tập Công Đồng Vatican II

Ngay sau cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai, Giáo hội phải đương đầu với “một thế giới đang đột biến” như cách nói trong các giới công giáo cởi mở nhất lúc đó. Cả châu Au lao vào việc tái thiết lục địa bị chiến tranh tàn phá này. Điều đó mở ra, ít nhất ở phương Tây, một thời kỳ phát triển thần kỳ về kinh tế  – và cũng cần nhấn mạnh, về xã hội -, dựa trên sự tiến bộ về khoa học và kỹ thuật. Đó là “Ba mươi năm huy hoàng” kéo dài cho đến giữa thập niên 70. Nhưng cái Phương Tây này cũng phải đương đầu với thách đố của chủ nghĩa cộng sản mà vào thời kỳ đó, dưới con mắt của nhiều người, ngay cả những người không theo ý thức hệ Mác-Lê, như sẽ là tương lai của nhân loại. Thế giới đã bị nhấn chìm trong cuộc chiến tranh lạnh như thế đó. Đồng thời các dân tộc bị châu Au đô hộ cũng đang khát khao tìm lại tự do của họ và đến lượt mình, họ cũng biết được những lợi ích của phát triển.

Lúc đó, nhiều Kitô hữu dấn thân bên cạnh những anh em vô thần trong những cuộc đấu tranh xã hội và chính trị vì công bằng và tự do. Giai đoạn sau chiến tranh đánh dấu thời kỳ hoàng kim của các phong trào Công giáo Tiến hành chuyên biệt trong đó, bằng chứng tá Tin mừng trong đời sống hàng ngày của mình, các công nhân muốn là “những tông đồ cho giới thợ thuyền”, các nông dân muốn trở thành “những tông đồ cho giới nông dân”… Đó cũng là thời kỳ của các linh mục thợ. Nhiều phong trào đổi mới lớn đưa Giáo hội đi vào chiều sâu : đổi mới cách đọc Kinh Thánh bởi trước tiên cần phải trở về nguồn, đổi mới thần học, giáo lý, phụng vụ, mục vụ… Các cuộc gặp gỡ đại kết, trước kia còn họa hiếm, nay đã trở nên thường xuyên hơn. Tất cả việc dậy men này đã bắt đầu từ đầu thế kỷ XX và có thể sớm hơn nữa. Những “Kitô hữu dấn thân”, như người ta thường gọi, đã kín múc từ đó của ăn tinh thần cho mình. Nhưng ngoại trừ một vài ngoại lệ đáng khâm phục của vài giáo sĩ lớn và can đảm, hàng giáo phẩm, và đặc biệt Trung ương La Mã của Giáo hội, đã nhìn tất cả những biến chuyển đó với ánh mắt hoài nghi, gia tăng cảnh giác và cả lên án.

Trước những biến chuyển của thế giới, Giáo hội La Mã lúc đó như chống lưng vào quá khứ, co rút lại một cách yếu đuối. Đây không phải là điều gì mới. Sau lần thức tỉnh tinh thần và bác ái của thời kỳ Chống Cải cách, Giáo hội đã phải trải qua thời kỳ Anh sáng và Cuộc Cách mạng Pháp ở thế kỷ XVIII, tiếp đó là sự phát triển của nền dân chủ ở thế kỷ XIX như những cuộc tấn công Giáo hội. Năm 1864, trong Thông điệp Syllabus, Đức Giáo hoàng Piô IX kết án toàn bộ những gì có tính hiện đại. Năm 1870, Công đồng Vatican I tuyên bố tín điều bất khả ngộ của Đức giáo hoàng. Cuộc chiến tranh và việc chiếm giữ các Quốc gia của Giáo hoàng bởi quân đội của Garibaldi đã làm gián đoạn công việc của Công đồng Vatican I, và công đồng này đã phải cân bằng trở lại cho tín điều nói trên bằng cách xác định vai trò của các giám mục. Từ nay, bị mất quyền độc lập lãnh thổ, vị giáo hoàng trở thành “người tù của Vatican”, nhưng cũng chưa bao giờ việc lãnh đạo Giáo hội lại trung ương tập quyền như thế. Đó là kết quả của một thiên niên kỷ trong đó Giáo hội Phương Tây, bị chia cắt khỏi Giáo hội Phương Đông là Giáo hội từ thời khởi đầu đã truyền bá Tin Mừng cho Giáo hội Phương Tây, đã tự tổ chức trong những cơ cấu ngày càng có hệ thống đồng thời khẳng định tham vọng của mình về tính hoàn vũ và cả tính độc quyền. “Ngoài Giáo hội không có sự cứu rỗi” : và nói Giáo hội, tức là phải hiểu Giáo hội công giáo Rôma. Cũng có cả trường hợp là người ta rửa tội lại cho những Kitô hữu xuất thân từ các nhánh Kitô giáo khác mà nay muốn trở lại đạo công giáo – đây thực sự là một xcăng-đan về thần học bởi vì chỉ có một Phép Rửa duy nhất.

Năm 1907, Đức Piô X lên án chủ nghĩa hiện đại vốn được coi như một cố gắng để diễn tả đức tin trong nền văn hóa hiện đại. Năm 1950, Đức Piô XII công bố Thông điệp “Humani Generis” trong đó lên án những nhà thần học tìm cách làm sao để truyền giáo cho thế giới đương thời. Vị giáo hoàng này, cai trị Giáo hội từ năm 1938 đến 1958, là hiện thân rõ ràng cho một Giáo hội tiền công đồng. Đó là một con người thánh thiện sống trong một sự cô đơn khắc khổ và cao ngạo. Để cho công bằng hơn, chúng ta cũng phải nhớ ngài là người khởi đầu cho việc canh tân phụng vụ, cụ thể là tái lập lại nghi thức vọng phục sinh đã bị xóa bỏ từ nhiều thế kỷ. Chung quanh Đức Piô XII, Giáo triều Rôma quan tâm trước hết đến việc bảo vệ và kéo dài cơ chế theo một khuôn mẫu cực kỳ phẩm trật và độc đoán. Giáo triều sẵn sàng lên án tất cả những gì Giáo triều coi là “lạc lối”. Những người như Congar, de Lubac, vốn là những nhà thần học lớn, những người đã mang đến nguồn cảm hứng cho Công đồng Vatican II sau này và là những hồng y trong tương lai, cũng đã phải hứng chịu những trận sấm sét của Rôma cùng với nhiều người khác nữa. Tác phẩm của Teilhard de Chardin, Dòng Tên, là một nhà khoa học có hạng đồng thời cũng là một nhà tư tưởng Kitô giáo, đã không thể xuất bản trước khi chết.

Cái Giáo hội nặng về phẩm trật này cũng là thành lũy của một trật tự xã hội nào đó : “sự mất trật tự được công nhận”, như cách nói của Emmanuel Mounier. Và những người có tư tưởng “chuộng cổ” vốn thường là những người giàu có cũng ra sức tố cáo với Rôma những ai trong Giáo hội mà dưới con mắt của họ có khả năng làm cho cái trật tự này bị đe dọa. Cái Giáo hội này vun trồng những giá trị tinh thần và đạo đức cá nhân (Tôi chỉ có một linh hồn…) dù có gây thiệt hại cho chiều kích cộng đồng, và cả cho việc làm chứng và sự dấn thân. Giáo hội đó duy trì trong thực tế sự lưỡng phân giữa việc thờ phụng và cuộc sống hàng ngày, đặc biệt trong chiều kích xã hội của nó. Giáo hội này, tuy cũng bao gồm nhiều người thánh thiện đang sống Tin Mừng, nhưng lại có khuynh hướng dành ưu tiên cho việc áp đặt lâu dài những cơ chế trên sứ mệnh của mình – vốn là một nguy cơ đe dọa tất cả mọi cơ chế của con người.

Năm 1958, khi vị hồng y già nua Roncalli được bầu làm giáo hoàng với danh hiệu Gioan XXIII, những người công giáo đang trông chờ một sự thay đổi xem ra bị thất vọng. Họ coi ngài như một người bảo thủ dễ thương. Và họ đã tự an ủi khi nói rằng ngài sẽ là một “vị giáo hoàng của thời kỳ chuyển tiếp”. Và thực tế ngài  đã là như vậy. Nhưng quả là đáng một thời kỳ chuyển tiếp ! Vị giáo hoàng tốt bụng này bảo thủ do tính khí. Chứ thật ra ngài là con người biết đón nhận Thần Khí và đã mở toang những cánh cửa của Giáo hội, theo cách nói của ngài. Một tuần sau khi được bầu, ngài có ý tưởng triệu tập một công đồng. “Một cảm hứng bất chợt Chúa mang đến”, về sau ngài nói như thế. Ba tháng sau, trong Tuần lễ Hiệp nhất, ngài chính thức công bố triệu tập công đồng này. Với hai mục tiêu : “aggiornamento” (cập nhật hóa) Giáo hội trước thế giới hiện đại và tìm lại sự hiệp nhất đã bị đánh mất. Và một mong muốn : “rằng công đồng này trở thành một Lễ Hiện Xuống mới cho Giáo hội”. Một Lễ Hiện Xuống mới, điều đó có nghĩa cụ thể là mỗi người có thể nghe Tin Mừng bằng chính ngôn ngữ của mình, trong chính nền văn hóa của mình – chứ không phải chỉ trong lãnh vực phụng vụ.

Trong diễn văn khai mạc, Đức Giáo hoàng tuyên bố phải “chuyển tải học thuyết công giáo với sự toàn vẹn tinh tuyền của nó”. Nhưng ngài cũng xác định rằng chúng ta không được lẫn lộn học thuyết đó với một thứ chủ nghĩa bất động chỉ hướng về quá khứ, cũng như “không lập lại những gì mà các Giáo phụ và các nhà thần học đã nói rồi”. Người ta nhận ra trong tinh thần của vị giáo phẩm già nua, đạo đức và trung thành này sự táo bạo một cách cẩn trọng. Cho đến khi qua đời vào năm 1963 sau kỳ họp thứ nhất của Công đồng, ngài đã biết chế ngự bản chất con người của mình để cho Thần Khí Chúa hoạt động. Và điều đó diễn ra trước sự bực bội của những vị hồng y của Giáo triều, những người mà cũng theo chính cách nói của Đức Gioan XXIII (ngài không thiếu tính hài hước) đã “há hốc miệng sửng sốt” khi nghe tin ngài triệu tập Công đồng.

Tuy vậy, Giáo triều đã rất nhanh chóng giành lại thế chủ động trong việc chuẩn bị công đồng theo chiều hướng làm sao để Giáo triều có thể kiểm soát hoàn toàn diễn tiến của công đồng. Nhưng ngay trong phiên họp đầu tiên, Đức Hồng y Liénart, giáo phận Lille, đã phá vỡ những nghi thức lạnh lùng khi lên tiếng yêu cầu từ bỏ việc bầu các ủy ban làm việc do Giáo triều đề nghị để đại hội đồng các nghị phụ thực sự nắm quyền chủ động trong công việc. Ai cũng nhanh chóng nhận ra là vị hồng y người Pháp già nua và can đảm này có được sự cổ vũ của nhiều đồng nghiệp. Và nhờ sự ủng hộ của Đức Giáo hoàng, ngài đã thắng thế. Từ đó, cuộc cách mạng đã được khởi động trong Giáo hội. 2.400 giám mục đến từ khắp nơi trên thế giới trước đó chưa hề biết nhau, kể cả những vị cùng quê hương, từ nay đang tìm hiểu lẫn nhau. Và cứ thế họ dần dần ý thức, gần như một cách rất cụ thể, về tính phổ quát thực sự của Giáo hội, nghĩa là tính hoàn vũ và cả tính đa dạng của Giáo hội. Và đương nhiên là đã nhanh chóng hình thành nên một đại đa số các Nghị phụ đang trông chờ Công đồng có những thay đổi sâu sắc để có thể loan báo Tin Mừng cách tốt hơn cho thế giới đương thời. Ngược lại, cũng có một nhóm nhỏ đứng đầu cụ thể là các Đức Hồng y Ottaviani và Ruffini, và cũng có một vị người Pháp, Đức Giám mục Marcel Lebebvre, đã tiến hành một cuộc đấu tranh  dữ dội và đưa đến kết quả là làm cho một số văn kiện bớt đi một chút mạnh mẽ.

Nhưng cuối cùng, 16 văn kiện được công bố trong quá trình 4 khóa họp của Công đồng đã vẽ nên một khuôn mặt mới của Giáo hội. Đến độ một số tín hữu – và cả một số người không có đạo – mà đối với họ một thứ đạo công giáo cổ hủ nào đó mới quen thuộc với những kỷ niệm tuổi thơ của họ hay mới là nơi ẩn thân chắc chắn cho họ trong một thế giới đầy biến động, đã phải kêu kên : “Người ta đã thay đổi đạo của chúng tôi mất rồi”. Nhưng thực ra khuôn mặt mới này của Giáo hội được vẽ lên từ một sự trở về nguồn thực sự, từ Tin Mừng, từ sức bật của Lễ Hiện Xuống. Các văn kiện công đồng mang nhiều tầm quan trọng khác nhau : bốn hiến chế như là những văn kiện căn bản, 9 sắc lệnh cụ thể hóa các hiến chế này trong áp dụng thực tế của Giáo hội, và ba tuyên ngôn trong đó hai tuyên ngôn thực sự mang tính cách mạng : tuyên ngôn về các quan hệ với các tôn giáo ngoài Kitô giáo, và nhất là tuyên ngôn về tự do tín ngưỡng.

2. Giáo hội, Cộng đồng Dân Chúa, có ơn gọi đón nhận toàn thể nhân loại

Sự đóng góp của Công đồng Vatican II có tính nhất quán và lôgic nội tại của nó mà Đức Gioan-Phaolô II, năm 1994, đã tóm lược thành một công thức trong Tông thư “Ngàn năm thứ ba đang đến” của ngài : “Một Công đồng giống như các công đồng trước đó nhưng lại rất khác; một Công đồng tập trung vào mầu nhiệm Đức Kitô và Giáo hội của Ngài, nhưng đồng thời cũng mở ra với thế giới”. Đó là lý do vì sao, trong trung tâm của công trình Công đồng, người ta thấy một văn kiện nền tảng : Hiến chế “Anh sáng muôn dân” (Lumen gentium) nói về Giáo hội. Văn kiện to lớn và đẹp đẽ này đã khởi đầu như thế này : “Đức Kitô là ánh sáng cho muôn dân”. Và “Giáo hội ở trong Đức Kitô, như bí tích, đồng thời là dấu chỉ và là khí cụ của sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa và của sự hiệp nhất của toàn thể nhân loại”. Đây là tín hiệu gởi đến cho mọi người vốn được Thiên Chúa yêu thương, và là phương tiện, là công cụ để thực hiện sự hiệp nhất ấy. Đã rõ : Giáo hội không phải hiện diện vì bản thân mình, mà là để phục vụ cho sứ vụ của mình. Và Hiến chế định nghĩa Giáo hội như là “Dân của Chúa” trước khi đề cập đến những cơ cấu phẩm trật của Giáo hội. Ở đây có một sự đảo lộn về cách nhìn. Tất cả mọi sự bắt đầu từ cơ sở, từ “Dân của Chúa” là cộng đoàn quy tụ tất cả những người chịu phép Rửa – tất cả, chứ không phải chỉ có người công giáo – và tất cả mọi người cũng được mời gọi để tham gia vào. Hơn nữa, Công đồng cũng khẳng định tất cả những ai tuy chưa đón nhận Tin Mừng nhưng đang tìm kiếm Thiên Chúa một cách chân thành thì cũng đã thuộc về cách nào đó cộng đồng Dân Chúa này.

ĐTC Phaolô VI khai mạc khóa 2 Công Đồng Vatican II (1963)

Tinh thần này quả là quá xa lạ với cái công thức nổi tiếng được hiểu trong nghĩa hạn hẹp nhất trước đây: “Ngoài Giáo hội thì không có ơn cứu rỗi”. Và người ta cũng thấy nó hoàn toàn trái ngược với những gì mà Đức Grêgoa XVI (làm Giáo hoàng từ 1831 đến 1848) đã viết : “Ai cũng phải biết rằng Giáo hội là một tổ chức bất bình đẳng trong đó Thiên Chúa đã ấn định những người này ở vai trò lãnh đạo, những người khác ở vào thế phải vâng phục. Những người này làm giáo dân, những người kia làm giáo sĩ”. Còn Công đồng Vatican II thì ngược lại khi nhấn mạnh đến chức tư tế phổ quát của mọi người đã chịu Phép Rửa, đây là một khái niệm được rút ra từ Tân Ước, nhưng Công đồng Trente đã phản đối sau khi được Luther nêu lên. Hiến chế về Giáo hội như sắc lệnh về giáo dân nhấn mạnh rằng tất cả mọi thành phần Dân Chúa thì bình đẳng về phẩm giá, tất cả đều được mời gọi nên thánh, điều này không có nghĩa là buộc con người phải sống khổ hạnh và chủ nghĩa anh hùng, nhưng là làm triển nở ngay trong môi trường sống hàng ngày của mình những quà tặng, những “ân sủng” mà mỗi người đã nhận được từ Chúa Thánh Thần. Vì thế, Công đồng không phải là không đề cao vai trò của điều mà Công đồng gọi là “chức linh mục thừa tác hay phẩm trật”, nhưng nhấn mạnh rằng “chức tư tế phổ quát của tín hữu” cũng tham gia vào chức linh mục duy nhất của Đức Kitô. Ngoài ra, mọi sứ vụ là phục vụ. Giám mục, linh mục, phó tế vĩnh viễn – một chức vụ do Công đồng Vatican khôi phục lại và có thể phong cho một người đã lập gia đình (vai trò này ngày hôm nay diễn ra phong phú hơn là Công đồng đã tiên liệu) -, tất cả là để phục vụ cộng đồng Dân Chúa.

Công đồng Vatican II đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của giám mục, và đến tính tập thể của giám mục đoàn. Hiệp thông với Đức giáo hoàng, các giám mục có nhiệm vụ thánh hóa, giáo huấn và lãnh đạo cộng đoàn Dân Chúa đã được giao phó cho mình trong mối hiệp thông với Giáo hội hoàn vũ. Là những người kế vị các tông đồ, các giám mục tạo nên một tập thể. Tính chất này được diễn tả  bằng một cụm từ cụ thể ở mức độ toàn cầu (hoặc ở mức độ một vùng trong thế giới) là “Thượng hội đồng các giám mục”, Thượng hội đồng này do Đức giáo hoàng triệu tập, và theo quy định của Đức Phaolô VI, chỉ có tính để tham khảo; và ở mức độ từng quốc gia là các Hội đồng giám mục. Các linh mục cũng được Công đồng Vatican II xác định là những “cộng sự và là bạn hữu” của giám mục. Công đồng Vatican II nhấn mạnh về linh mục đoàn mà các linh mục tạo nên xung quanh vị giám mục trong một Giáo hội địa phương. Sắc lệnh của Công đồng về các linh mục tuyên bố rằng các linh mục “sống với những người khác như những người anh em”. Đó là để chỉnh lại tinh thần mang tính chất cá nhân chủ nghĩa về chức linh mục đã được phát triển từ Công đồng Trente và đã đồng hóa con người linh mục với Đức Kitô là vị linh mục tối cao. Linh mục là một con người khác với những người khác nhờ sự thánh hóa. Do đó chức vụ linh mục được thể hiện như một tình trạng chứ không như một chức vụ hay một công việc. Minh họa tốt nhất cho điều này là thánh lễ mà mỗi linh mục phải cử hành mỗi ngày, ngay cả khi không có sự tham dự của giáo dân.

Được định nghĩa lại và được tổ chức lại như thế, Giáo hội không còn tự coi mình như một thứ pháo đài bị thế giới vây hãm, tiếc nuối quá khứ và đương nhiên tự cho mình chống đối lại tính hiện đại.  Cũng như người ta không thể tách Hiến chế Vui mừng và Hy vọng (Gaudium et Spes), một hiến chế nói về “Giáo hội trong thế giới ngày nay”, ra khỏi Hiến chế Anh sáng muôn dân (Lumen Gentium) về Giáo hội. Gaudium et Spes không chỉ ngỏ lời với “con cái Giáo hội” như Lumen Gentium, nhưng là với “toàn thể gia đình nhân loại”. Câu đầu tiên của Gaudium et Spes thật ý nghĩa : “Vui mừng và Hy vọng, sầu khổ và lo âu của con người thời nay, nhất là của những người nghèo và của tất cả những ai đang đau khổ, cũng là những niềm vui và hy vọng, cũng là sầu khổ và lo âu của các môn đệ Đức Kitô, và không có gì liên quan đến con người mà lại không tạo nên những âm vang trong lòng những môn đệ Chúa.” Đức Gioan XXIII rõ ràng đã mong muốn rằng Giáo hội phải quan tâm đến điều mà ngài gọi là “những dấu chỉ của thời đại”. Và đó là điều mà Công đồng Vatican II đã làm trong văn kiện vĩ đại này khi muốn “xem xét và diễn giải các dấu chỉ của thời đại theo ánh sáng của Tin Mừng”. Công đồng đã làm điều này không vì để làm vừa lòng ai một cách ngây ngô nhưng với một thái độ tích cực dứt khoát. Đa số các nghị phụ đã phải đấu tranh gian khổ để cho văn kiện này được thông qua, bởi vì đã có một số các nghị phụ quen với việc Giáo hội lên án thế giới hiện đại chống lại.

Hiến chế Vui mừng và Hy vọng mạnh mẽ đặt con người vào trung tâm của công trình Sáng tạo mà trong đó con người phải có trách nhiệm. Hiến chế nhấn mạnh đến nhân phẩm và “tuyên bố các quyền của con người” và vui mừng vì tính năng động của thời đại chúng ta trong việc làm cho các quyền đó được công nhận, trong khi trong hai thế kỷ trước đó, Giáo hội đã rất dè dặt, kể cả chống đối việc công nhận các quyền của con người. Trong phần hai, Hiến chế đề cập đến “một số vấn đề có tính khẩn cấp”. Lúc đó, Công đồng đã giữ lại 5 vấn đề cấp bách : về lòng quý mến mà Công đồng dành cho tình yêu con người, cho hôn nhân và cho đời sống gia đình; về sự thúc đẩy chính đáng cho tiến bộ văn hóa : việc điều hành đời sống kinh tế và xã hội làm sao để con người luôn là “tác giả, là trung tâm và là cùng đích”; về đời sống chính trị trong đó mọi người phải có thể tham gia; cuối cùng là hành động để ủng hộ hòa bình và sự phát triển của các dân tộc. Ngày hôm nay, nếu có một công đồng mới thì có thể sẽ thêm vào đó một số chủ đề nữa như là đạo đức sinh học hay môi trường, nhưng đại thể, những gì Công đồng Vatican II nói về các vấn đề của thời đại chúng ta vẫn mang tính thời sự. Vì ở đây tôi không thể đi vào chi tiết của văn kiện này hơn nữa, nên chỉ xin đề nghị với Bạn đọc tìm đọc toàn văn văn kiện, một văn kiện mà theo tôi, đã tránh được cách hành văn mang tính giáo sĩ để có thể trở nên dễ hiểu đối với mọi người.

Tôi xin đưa ra một ví dụ : khi khẳng định tính chính đáng của quyền tư hữu sau khi đã cẩn thận rào trước đón sau với đầy các quy chiếu, Công đồng đã quan tâm nói về việc sử dụng của cải của thế giới (số 69). Đây là một đoạn văn kiện đáng để cho mỗi người chúng ta ngày hôm nay, đặc biệt là những người tự nhận là Kitô hữu và đang mang những trách nhiệm trong lãnh vực kinh tế và chính trị, nghiền ngẫm:

“Của cải trần gian là để cho mọi người hưởng dụng. Thiên Chúa đã đặt định trái đất và mọi vật trên trái đất thuộc quyền sử dụng của mọi người và mọi dân tộc. Chính vì thế, của cải được tạo dựng phải được phân phối cho tất cả mọi người một cách hợp lý theo luật công bằng là luật đi liền với bác ái. Dù chấp nhận bất cứ hình thức tư hữu nào đã được nhìn nhận bằng các định chế hợp pháp của các dân tộc, tuy nhiên tùy theo hoàn cảnh khác biệt và thay đổi, phải luôn luôn lưu ý đến mục đích chung hưởng của cải. Vì thế, khi sử dụng của cải, con người phải coi của cải vật chất mà mình làm chủ một cách chính đáng không chỉ như của riêng mình, nhưng còn là của chung nữa : nghĩa là, của cải đó có thể sinh ích không những cho riêng mình mà còn cho cả người khác. Vả lại, mọi người đều có quyền có một phần của cải đầy đủ cho mình và cho gia đình mình. Các Giáo phụ và các Tiến sĩ Giáo hội đã nghĩ như thế. Các ngài dạy rằng mọi người có bổn phận phải nâng đỡ người nghèo và không chỉ giúp đỡ bằng của dư thừa. Còn những người sống trong cảnh cùng quẫn cực độ, họ có quyền lấy ở của cải người khác những gì cần thiết cho mình. Trước con số quá lớn những người đói khổ trong thế giới, Thánh Công đồng thiết tha kêu gọi mọi người hoặc mọi chính quyền hãy nhớ lại lời sau đây của các Giáo Phụ : “Hãy cho kẻ sắp chết đói của ăn, vì nếu không cho họ ăn tức là đã giết chết họ”. Tùy theo khả năng, họ nên thực sự san sẻ và dùng của cải của mình đặc biệt để giúp phương tiện cho mỗi người hoặc cả một dân tộc để chính họ có thể tự túc và phát triển.

“Trong những xã hội kinh tế kém mở mang, đôi khi sự chung hưởng của cải được thể hiện đầy đủ phần nào là do những tập tục và truyền thống riêng của cộng đoàn xã hội, nhờ đó, mỗi phần tử được hưởng những của cải tối cần. Tuy nhiên điều nên tránh là đừng coi một số tập tục như thể hoàn toàn bất biến, nếu thực sự nó không còn đáp ứng những đòi hỏi mới của thời đại này. Đàng khác, cũng đừng vì thiếu khôn ngoan mà hành động ngược lại những tập tục tốt đẹp, vì một khi được thích nghi với hoàn cảnh hiện đại, những tập tục này vẫn còn đem lại nhiều lợi ích. Cũng thế, ở những quốc gia kinh tế rất phát triển, một hệ thống gồm những tổ chức xã hội nhằm vào việc bảo hiểm và an ninh có thể góp phần giúp vào việc thực hiện sự chung hưởng của cải. Vả lại, cần phải cổ võ những dịch vụ gia đình và xã hội, nhất là những dịch vụ đóng góp vào văn hóa và giáo dục. Tuy nhiên khi thành lập mọi tổ chức trên cần phải lưu tâm đừng để người công dân có thái độ phần nào thụ động hoặc trốn tránh trách nhiệm hoặc từ chối phục vụ xã hội.” (Gaudium et Spes, số 69, bản dịch của Giáo hoàng Học viện Đà Lạt, năm 1972).

Chúng ta thấy: Công đồng Vatican II nhấn mạnh rằng Giáo hội không hiện hữu vì chính mình, như một thứ đảng phái của người công giáo như Giáo hội đã khá thường xuyên tỏ ra như thế trong hai thế kỷ qua, nhưng như là bí tích gặp gỡ thân mật giữa Thiên Chúa và nhân loại. Do đó các nghị phụ công đồng đã phải coi đây như sự Mặc khải. Đó là điều các nghị phụ đã làm trong một hiến chế quan trọng khác : Hiến chế Lời của Chúa (Dei Verbum). Văn kiện này đã gây nên những căng thẳng dữ dội giữa các nghị phụ bảo thủ và đại đa số các nghị phụ khác của Công đồng. Đối với nhóm bảo thủ, Mặc khải được hiểu như một tổng thể chân lý phải tin mà cách học giáo lý kiểu hỏi-đáp cũ có thể là một minh họa tiêu biểu. Thực tế, nhất là từ thời Cải cách, Giáo hội công giáo có những e ngại Sách Thánh vì những người Tin Lành coi đó là nguồn Mặc khải duy nhất. Cho nên Giáo hội đã nhấn mạnh đến một nguồn thứ hai, Truyền thống, vốn, bên cạnh Sách Thánh, cho phép diễn giải Sách Thánh và nuôi dưỡng tốt hơn những cách trình bày độc đoán. Công đồng Vatican II đã mạnh mẽ chối bỏ việc giam hãm Mặc khải trong những công thức trừu tượng, và muốn diễn tả Mặc khải bằng ngôn ngữ Kinh Thánh. Mặc khải là sáng kiến của Thiên Chúa để ngỏ lời với con người “như những người bạn”. Đối với Vatican II, Sách Thánh, Kinh Thánh, “là” Lời của Chúa, và Truyền thống của Giáo hội “truyền tải” Lời đó. Huấn quyền của Giáo hội không phải ở trên Lời của Chúa mà là để “phục vụ Lời của Chúa”.

Hiến chế Dei Verbum khẳng định các sách Kinh Thánh “đã được viết dưới sự thúc đẩy của Chúa Thánh Thần”, nhưng bởi những con người trong môi trường đương thời của họ và với nền văn hóa, cá tính và sự tự do của họ. Do đó phải tìm ra ở đó không phải là những sự thật lịch sử hay khoa học, mà là điều Thiên Chúa đã muốn nói với chúng ta vì sự cứu rỗi của chúng ta. Kinh Thánh nói với chúng ta rằng Thiên Chúa là Đấng Tạo dựng nên vũ trụ và Ngài cũng đã tạo dựng nên con người theo hình ảnh của Ngài, nghĩa là như một sinh vật có trí khôn, có lương tâm, có tự do và có khả năng yêu thương. Kinh Thánh đã sử dụng nền văn hóa của thời mà Sách Sáng thế được viết để diễn tả điều đó. Điều đó không bắt buộc chúng ta phải tin rằng thế giới đã được tạo dựng trong 6 ngày, cũng như không bó buộc chúng ta phải chối bỏ những gì mà khoa học hiện đại có thể cho chúng ta biết về lịch sử hình thành vũ trụ và sự thăng tiến của các sinh vật. Công đồng Vatican II nói với chúng ta rằng để “diễn giải Sách Thánh”, phải tìm hiểu ý đồ của các tác giả, phải quan tâm đến các thể loại văn chương cũng như truyền thống giải thích của Giáo hội. Như thế Công đồng đã đứng ra gánh về cho mình những thành quả của việc nghiên cứu Kinh Thánh vốn từ khá lâu bị Vatican nghi ngờ và ngay cả kết án. Công việc khoa học của các nhà chú giải là rất cần thiết và không làm cho việc đọc Kinh Thánh đưa đến việc giảm bớt niềm tin vào Giáo hội, mà chính là nuôi dưỡng niềm tin đó. Đối với chúng ta, đây cũng là một mời gọi phải có những nỗ lực trí tuệ về niềm tin chuyển biến theo trình độ giáo dục và văn hóa của chúng ta.

Nếu Dei Verbum nhấn mạnh đến việc đọc Sách Thánh với lòng tin, thì Hiến chế về phụng vụ, về mặt thời gian, là văn kiện đầu tiên được Công đồng thông qua, đã mở rộng đáng kể việc chọn lựa các văn bản Kinh Thánh đọc trong thánh lễ và mời gọi vị chủ tế diễn giải các văn bản này trong bài giảng thay vì làm một bài cổ vũ đạo đức như trước đây. Là kết quả từ một quá trình nghiên cứu và thử nghiệm lâu dài ở cơ sở từ đầu thế kỷ XX, cụ thể tại Pháp, Hiến chế này đã đưa ra những nguyên tắc của một trong những cải cách phụng vụ quan trọng nhất mà Giáo hội công giáo chưa bao giờ thực hiện. Đó là sự thay đổi ngoạn  mục nhất, nhưng cũng là gây nhiều tranh cãi nhất của Công đồng Vatican II. Và không phải là không có những bước mò mẫm. Nguyên tắc căn bản của việc cải cách là cộng đoàn Dân Chúa phải được hiệp thông chặt chẽ với việc cử hành phụng vụ. Từ đó, một cách cụ thể, đưa đến việc có thể sử dụng các sinh ngữ khác nhau – điều này đã nhanh chóng được áp dụng khắp nơi -, việc vị chủ tế làm lễ quay mặt xuống cộng đoàn nhằm đề cao việc cùng tham dự vào bữa tiệc phục sinh trong đó mọi người cùng chia sẻ mình và máu Đức Kitô (các tín hữu lại được rước lễ cả mình và máu Thánh nếu việc đó không gây ra những vấn đề thực tế). Tôi sẽ không đi thêm vào chi tiết cuộc cải cách phụng vụ này vốn là những cải cách mà chúng ta nhận thấy rõ nhất từ Công đồng. Các thế hệ lớn tuổi trong chúng ta chắc chắn biết rõ các lễ nghi công giáo đã được thay đổi và đổi mới như thế nào.

Khi đề cao “việc tham gia tích cực của các tín hữu”, Hiến chế về Phụng vụ nhấn mạnh rằng khi dâng Đức Kitô lên cho Thiên Chúa, “không chỉ nhờ tay của vị linh mục, mà cũng còn hiệp thông với vị linh mục”, thì các tín hữu cũng tự hiến chính bản thân mình. Đây là sự đáp trả tự do của các tín hữu đối với tình yêu của Chúa Cha. Tự do : hai từ này đầy dẫy trong tất cả các văn kiện Công đồng. Hiến chế về Mặc khải trình bày đức tin không còn như một sự tuân phục quyền hành của Giáo hội như vẫn thường thấy trước đây, nhưng như một “sự tán đồng trong tự do”, một quá trình dấn thân cá nhân trong việc đáp lại việc lắng nghe Lời Chúa.

Nhưng tự do này không phải chỉ có giá trị nơi người công giáo, vì nếu chỉ như thế thì nó chẳng có nghĩa gì. Thiên Chúa tôn trọng sự tự do mà Ngài đã ban cho chúng ta, và tự do trước hết là tự do lương tâm. Gaudium et Spes nhấn mạnh đến phẩm giá của đạo đức lương tâm. Theo văn kiện này, «lương tâm là tâm điểm sâu kín nhất và là cung thánh của con người, nơi đây con người chỉ hiện diện một mình với Thiên Chúa và tiếng nói của Ngài vang dội trong thâm tâm họ”.

Từ trực giác này, từ xác tín rằng Thiên Chúa tôn trọng tự do của con người này, Công đồng Vatican II đã rút ra tất cả những hệ quả trong một văn kiện mà trong lịch sử của Giáo hội công giáo, là văn kiện đáng ngạc nhiên nhất mà công đồng đã thông qua: Tuyên ngôn về tự do tín ngưỡng. Đây là đoạn văn chủ chốt của văn kiện này, trong đó nói đến tự do tín ngưỡng một cách dứt khoát, không mơ hồ: “Quyền tự do này hệ tại con người không bị lệ thuộc vào áp lực của cá nhân, đoàn thể xã hội hay của bất cứ quyền bính trần gian nào khác. Với ý nghĩa đó, trong lãnh vực tôn giáo, không ai bị ép buộc hành động trái với lương tâm, cũng không ai bị ngăn cấm hành động theo lương tâm, dù cho đó là hành động riêng tư hay công khai, một mình hay cùng với người khác, trong những giới hạn chính đáng.”

Như thế người ta tìm thấy trong tuyên ngôn này việc khẳng định sự tự do lương tâm, được đề cập đến trong những Hiến chế quan trọng của Vatican II. “Mỗi người có bổn phận và quyền tìm kiếm chân lý, nhất là chân lý liên quan đến tôn giáo.” Văn kiện cũng dựa trên sự Mặc khải: Thiên Chúa mời gọi chứ không cưỡng bức. Cũng thế, Đức Kitô “vì không muốn mình là một Đấng Thiên sai đến để làm chính trị và cai trị bằng sức mạnh, nên Ngài muốn tự xưng là Con Người đến để phục vụ”.

Từ những lập luận vừa có tính triết học vừa có tính thần học tạo nên phẩm giá và tự do của lương tâm này, tuyên ngôn đã đề cập một cách rõ ràng hơn đến  tự do tín ngưỡng trong bối cảnh xã hội và dân sự, những tương quan giữa các công dân và quyền lực công cộng, Nhà nước. Đây quả là rất mới mẻ bởi vì, cho tới lúc đó, như lịch sử cho thấy, như là một quy luật, Giáo hội công giáo thường đòi hỏi tự do tín ngưỡng cho mình khi nào Giáo hội công giáo là thiểu số, còn trong các quốc gia mà Giáo hội là đa số thì lại từ chối quyền này. Và không chỉ Giáo hội công giáo mới hành xử như thế – đó cũng còn là thái độ của Hồi giáo trong các quốc gia Hồi giáo. Nhưng nếu chúng ta nhớ lại về Tòa án Truy tà, về những cuộc chiến tranh tôn giáo trong đó sự bất khoan dung nằm ở cả hai phía, về những cuộc trở lại đạo khổng lồ dưới sự che chở của chính quyền trong các nước bị thực dân đô hộ, và ngay cả về những đau khổ mà những người công giáo Pháp phải chịu để chấp nhận việc tách biệt giữa Giáo hội và Nhà nước cách đây một thế kỷ…, thì mới thấy Tuyên ngôn tự do tín ngưỡng của Công đồng là một bước ngoặt thực sự.

“Quả là cần thiết để quyền tự do về mặt tín ngưỡng được công nhận và đồng thời được tôn trọng cho mọi công dân và mọi cộng đồng tín ngưỡng”. Đó là lý do tại sao có những người công giáo ở Pháp, và ở khắp châu Au hiện nay, đang bảo vệ quyền của những người Hồi giáo đang sống ở châu Au được có những nơi đàng hoàng để thờ tự; những người công giáo đó đang sống tinh thần của Vatican II. Và đó cũng là lý do tại sao có những Kitô hữu phản đối các nước Hồi giáo đang hạn chế quyền tự do thờ phượng, kể cả cấm cử hành thánh lễ, ngay cả trong những nơi riêng tư, như trường hợp ở Arập Xêút. Ngoài ra tuyên ngôn về tự do tín ngưỡng cũng xác định là các chính quyền không được “ngăn cản quyền của cá nhân được tự ý gia nhập hay từ bỏ một cộng đoàn tín ngưỡng”.

Đối với chúng ta, nhất là những người trẻ, vốn đã quen sống trong một xã hội thế tục, những điều đó chẳng có vẻ gì là cách mạng. Tuy nhiên, trong giáo huấn của Vatican II, thì đó là một sự thay đổi ngoạn mục nhất về học thuyết mà Giáo hội công giáo giảng dạy. Chính sự khẳng định quyền tự do về tín ngưỡng – chứ không phải việc cử hành thánh lễ bằng tiếng la tinh, như các phương tiện truyền thông hay nói – là lý do trước tiên đưa Giám mục Lefebvre và các đồ đệ của ông chống lại giáo huấn của Công đồng Vatican II. Năm 1985, trước khi bước vào giai đoạn đoạn tuyệt bằng việc phong chức giám mục cho những người chống lại Công đồng Vatican II, vị cựu giám mục của Dakar viết thư cho Đức Gioan-Phaolô II : “Chúng tôi không ngừng chống lại Công đồng và chống lại cái xcanđan là Tuyên ngôn sai trái của Công đồng về tự do tín ngưỡng …” Về điểm này, Giám mục Lefebvre vẫn trung thành với điều mà Giáo hội đã dạy khi ông còn ở vào tuổi học giáo lý, rồi vào thời ông ở chủng viện : “Chỉ có Chân lý là có quyền. Và vì Giáo hội có Chân lý. Nên chỉ có Giáo hội có quyền”. Thay vì như thế, Công đồng Vatican II khẳng định rằng Thiên Chúa là Chân lý, rằng Ngài mặc khải cho chúng ta qua Đức Giêsu Kitô và Chân lý đó không thể bị giam hãm trong những công thức giáo điều theo cách suy nghĩ của chúng ta. Công đồng cũng nói rằng hành động của niềm tin để đáp lại lời mời gọi của Chúa Cha nhằm gắn bó với Đức Kitô, chỉ có thể là một quá trình tự do lương tâm của mỗi người dưới sự soi sáng của Chúa Thánh Thần.

Khi căn vặn Đức Gioan-Phaolô II về việc Giáo hội tuyên bố tự do về tín ngưỡng, Giám mục Lefebvre chắc chắn không thể gặt hái được một chút kết quả nào. Ở Công đồng, sự ủng hộ của Đức Giám mục Wojtyla đối với quyền tự do tín ngưỡng là hết sức mạnh mẽ. Từ kinh nghiệm của mình trong những nước cộng sản, vị giáo hoàng tương lai đã suy nghĩ nhiều về phẩm giá và về quyền tự do lương tâm của con người. Ngài xác tín một cách sâu sắc rằng về mặt tín ngưỡng không ai có thể bị bắt buộc tin hay không tin.

Sự cởi mở của Giáo hội công giáo về tự do tín ngưỡng chắc chắn đã tạo điều kiện để cho Công đồng hướng về các tôn giáo Kitô khác trong Sắc lệnh về Đại kết và trong Tuyên ngôn về các tôn giáo ngoài Kitô giáo. Thực ra, từ chỗ nhìn nhận là phải tôn trọng tự do lương tâm của mỗi con người, thì dễ dàng chấp nhận sự đa nguyên trong lãnh vực tín ngưỡng và nhất là sự thành tâm của những người tìm kiếm Thiên Chúa, với tất cả lòng tin, trên những con đường khác với chúng ta.

Liên quan đến vấn đề đại kết, Công đồng Vatican II nhấn mạnh về ý muốn thúc đẩy việc phục hồi sự hiệp nhất giữa mọi Kitô hữu, vốn là một trong hai mục tiêu lớn mà Đức Gioan XXIII đề ra cho Công đồng. Nhưng nếu trước đây, Giáo hội công giáo muốn đạt đến mục đích này bằng việc tái hội nhập vào trong Giáo hội những Kitô hữu chia lìa, thì nay Giáo hội cải thiện sự tiếp cận của mình. Người ta không còn nói về “đại kết công giáo”, nhưng là về “những nguyên tắc công giáo về đại kết”. Công đồng nhìn nhận : “Những ai tin vào Đức Kitô và đã nhận Phép Rửa một cách có giá trị thì cũng ở trong một sự hiệp thông nào đó với Giáo hội công giáo dù chưa hoàn toàn”. Nếu văn kiện công đồng có những phân biệt với các Giáo hội và các cộng đoàn tín hữu tùy theo tính chất gần gũi nhiều hay ít với cách diễn tả Đức tin của Giáo hội công giáo, là do Công đồng cho là có một “phẩm trật của các chân lý” tùy theo mối tương quan của các chân lý đó với nền tảng Đức tin Kitô giáo. Đây là một điểm quan trọng trong việc thúc đẩy một cuộc đối thoại đại kết mà Công đồng quan niệm rằng mục tiêu là hiệp nhất (unité) chứ không phải đồng nhất (uniformité) (từ thời các tông đồ, người ta đã sống sự hiệp nhất trong đa dạng – xin xem sách Tông đồ Công vụ), một sự hiệp nhất – như sách Tông đồ công vụ nói – chỉ đạt được “nhờ một nỗ lực đổi mới và cải cách”, liên quan đến cả người công giáo chứ không phải chỉ liên quan đến những người khác.

Còn về Tuyên ngôn Nostra aetate, Tuyên ngôn về liên lạc của Giáo hội với các tôn giáo ngoài Kitô giáo, đây là thực sự là tuyên ngôn đầu tiên đề cập đến vấn đề này của Giáo hội công giáo, và không phải là kết quả của một quá trình chuẩn bị âm thầm trước đó của các khuynh hướng tiến bộ trong Giáo hội như các văn kiện khác. Nhưng tuyên ngôn này là một điểm khởi đầu cho một suy tư thần học và một sự đối thoại được ngày càng tăng tốc dưới sự thúc đẩy của Đức Gioan-Phaolô II sau cuộc gặp quan trọng tại Thành phố Assise, và cũng sau nhiều nghĩa cử khác hướng về Do Thái giáo và Hồi Giáo – nghĩa là những người đại diện cho hai tôn giáo khác của Sách Thánh, hai tôn giáo mà tuyên ngôn đã đề cập đến nhiều hơn. Khẳng định chính yếu của Tuyên ngôn về các tôn giáo ngoài Kitô giáo là điều này:

“Giáo hội Công giáo không hề phủ nhận những gì là chân thật và thánh thiện nơi các tôn giáo đó. Với lòng kính trọng chân thành, Giáo hội xét thấy những phương thức hành động và lối sống, những huấn giới và giáo thuyết kia, tuy rằng có nhiều điểm khác với chủ trương mà Giáo hội duy trì, nhưng cũng thường đem lại ánh sáng của Chân lý chiếu soi cho hết mọi người”.

Xác tín này không ngăn cản Giáo hội thực hiện sứ mệnh của mình : loan báo Đức Giêsu Kitô, Đấng là “Đường, Sự thật, Sự sống”. Nhưng, khác với những gì thường làm trong quá khứ, Giáo hội muốn thực hiện sứ mệnh này trong khi vẫn tôn trọng tự do lương tâm của mỗi con người và những nguyên tắc đưa ra trong các văn kiện khác của Công đồng. Điều đó thể hiện trong Sắc lệnh về hoạt động truyền giáo của Giáo hội (Ad Gentes) vốn không phải là một văn kiện xuất sắc xét về hình thức. Tuy nhiên chúng ta cũng điểm qua một số nguyên tắc quan trọng. Truyền giáo không còn là độc quyền của những nhà truyền giáo « chuyên nghiệp », mà là trách nhiệm của tất cả những người chịu Phép Rửa. Giáo hội chỉ có một sứ mệnh duy nhất : loan báo Tin Mừng và sống Tin Mừng khắp nơi qua những cộng đoàn hội nhập với những nền văn hóa tại chỗ. Sắc lệnh viết : “Đời sống Kitô giáo sẽ được thích nghi với tinh thần và đặc tính của từng nền văn hóa” : tóm lại đó là sự công nhận ít nhất về mặt nguyên tắc sự giao tiếp văn hóa cần thiết của Đức tin, trong khi trước đó Giáo hội công giáo thường không chấp nhận là sứ điệp của mình có thể được diễn tả một cách khác với nền văn hóa Latinh-Hy Lạp hay, rộng hơn, nền văn hóa châu Au. Chúng ta có thể nhớ lại cuộc tranh cãi về nghi thức đã làm bế tắc công cuộc rao giảng Tin Mừng tại Trung Hoa. Dĩ nhiên cũng có nhiều nhà truyền giáo tiên phong đã truyền giáo trong một tinh thần khác : một Bartolome Las Casas với các thổ dân ở châu Mỹ, một Lebbe ở Trung Hoa, một Jules Monchanin ở An Độ, một Charles de Foucauld ở Bắc Phi. Công đồng Vatican II đã nhìn nhận những người đó đã làm đúng.

Sau khi đọc lại những gì là trọng tâm của giáo huấn của Công đồng Vatican II, tôi hy vọng là chúng ta nhận ra rõ hơn sự gắn bó sâu sắc của các sứ điệp của Công đồng với Tin Mừng đồng thời tầm rộng lớn của cuộc cách mạng thực sự mà Công đồng muốn thực hiện trong Giáo hội công giáo. Vị viện trưởng Viện Đại học Thánh Phaolô ở Ottawa, Canađa, đã tóm tắt sự thay đổi căn bản này như sau:

“Chúng ta đã chuyển từ một Giáo hội giáo sĩ sang một Giáo hội Dân Chúa, từ một Giáo hội của thế giới Kitô giáo sang một Giáo hội truyền giáo, từ một Giáo hội của lễ nghi sang một Giáo hội của Lời Chúa, từ một Giáo hội của lề luật sang một Giáo hội của kinh nghiệm nhân bản, từ một Giáo hội đồng nhất sang một Giáo hội đa dạng, từ một Giáo hội thích nghi với thế giới sang một Giáo hội tham gia vào sự đột biến của thế giới, từ một Giáo hội bảo lãnh cho trật tự xã hội sang một Giáo hội đứng về phía người nghèo, từ một Giáo hội cung cấp những dịch vụ tôn giáo sang một Giáo hội cộng đồng trách nhiệm”. Thực tế, đó chính là cuộc cách mạng mà Giáo hội công giáo  có được sau Công đồng Vatican II : các nhà sử học sẽ có những xem xét mức độ triển khai trong thực tế. Nhưng dưới góc độ đức tin, điều đó đúng hơn nên được gọi là một sự hoán cải. Và đối với Giáo hội, cũng như đối với mỗi người chịu Phép Rửa, sự hoán cải phải không ngừng được thực hiện, được đào sâu và được đổi mới.

3. Sau 45 năm: cuộc khủng hoảng của Giáo hội hay cuộc khủng hoảng của thế giới Kitô giáo?

Như tôi đã trình bày trong phần 1, Giáo hội công giáo đã thay đổi sâu sắc khi áp dụng các đường hướng của Công đồng Vatican II. Giáo hội đã tìm cách giải quyết những thách đố của thế giới hiện đại như đã từng xảy ra từ thời Phục hưng, Thế kỷ Anh sáng, các cuộc cách mạng dân chủ và xã hội.  Nhưng thế giới cũng đã thay đổi từ đó. Và những vấn đề mà Giáo hội và các Kitô hữu ngày hôm nay phải đương đầu không còn là những vấn đề cũ.

ĐTC Phaolô VI trong lễ Bế mạc Công Đồng Vatican II (8 - 12 - 1965)

Từ những năm 60, ở Tây phương, xã hội đã tục hóa dưới áp lực của một chủ nghĩa duy vật thực dụng đặt nền tảng trên sự thống trị của cá nhân, trên sức thu hút của lợi lộc và trên sự khát khao tiêu thụ. Chủ nghĩa duy vật này có thể là nguy hiểm đối với Đức tin – và rộng hơn đối với đời sống nội tâm và tinh thần – hơn là chủ nghĩa duy vật ý thức hệ của các quốc gia cộng sản trước đây. Việc toàn cầu hóa đang tự do diễn ra, làm gia tăng một cách thảm hại những bất bình đẳng, mặc cho một sự tăng trưởng ngoạn mục toàn cầu những của cải sản xuất ra được, đôi khi phải trả giá bằng nguy cơ phá hủy những tài nguyên môi trường của hành tinh. Tuổi thọ con người được tăng thêm. Tiến bộ khoa học và kỹ thuật chấp cánh ước mơ cho con người. Trong bối cảnh đó, đặt ra những vấn đề về Thiên Chúa xem ra có vẻ vô bổ. Với những tiến bộ về kiến thức, người ta không còn có thể tin như trước đây.

Nhưng thế giới này không chỉ toàn màu hồng như người ta muốn quảng cáo. Còn có cả thất nghiệp, đói khát, cô đơn, bệnh tật, và cuối cùng, không thể tránh được, cái chết. Bỗng chốc bị đau khổ, hay đơn giản là bị mất phương hướng trong cái thế giới toàn cầu này mà trong đó mọi thứ không ngừng thay đổi, nhiều người phụ nữ và đàn ông đang phải đi tìm những điểm quy chiếu. Để tìm ra những điểm quy chiếu, đôi khi họ hướng về các tôn giáo truyền thống, nhưng cũng có khi hướng về cả những giáo phái, về những tín ngưỡng bí truyền, về những thiên đường nhân tạo. Cho nên khi họ hướng về tôn giáo, hay đôi khi họ trở về với tôn giáo, thì thường là để mong tìm thấy ở đó một căn tính, một sự an toàn, những câu trả lời có sẵn cho những vấn đề đang dằn vặt họ, hơn là đi tìm sự tự do của con cái Chúa mà Công đồng Vatican II đề cao. Vì thế người ta chứng kiến trong tất cả các tôn giáo sự gia tăng nguy hiểm của những trào lưu tương tự, những chủ nghĩa bảo thủ. Trong Hồi giáo, Do Thái giáo, Kitô giáo, Phật giáo, An Độ giáo, những trào lưu tôn giáo cực đoan này muốn tự coi mình là sở hữu chân lý và điều thiện, còn tất cả những người khác phải bị dẹp bỏ bởi vì họ đại diện cho sai lầm và cái ác. Người công giáo cũng không thoát được hiện tượng đáng lo âu này.

Tại châu Âu và, phần nào đó, tại Bắc Mỹ, các Giáo hội Kitô giáo gặp một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng. Sự sút giảm ào ạt số người giữ đạo và số ơn gọi (trong số 20.000 linh mục của Pháp có tới một nửa là trên 70 tuổi), những biểu hiện tôn giáo trong đời sống xã hội cũng mờ nhạt đi. Từ đó sự sợ hãi xâm chiếm nhiều tín hữu. Và một câu hỏi được đặt ra: Có phải Công đồng Vatican II, một công đồng đã “thay đổi tôn giáo của chúng ta”- như một số người công giáo nói, phải chịu trách nhiệm về tất cả những tình hình đó ? Trong những người trẻ mới khám phá ra hay tìm lại được đức tin, ngay cả trong các chủng sinh và linh mục trẻ, nhiều người cũng đặt ra câu hỏi đó. Do đó mà có người cho rằng phụng vụ đã bị đảo lộn, việc mở ra với thế giới làm cho Giáo hội bị ô nhiễm, sự dấn thân của các Kitô hữu vào các cuộc đấu tranh hiện nay làm họ thờ ơ với những lãnh vực thiêng liêng, chủ trương đại kết đưa đến chủ nghĩa tương đối, đến cuộc đối thoại với các tôn giáo khác…

Những vấn nạn này tác động lên một số giáo phẩm nào đó, cụ thể tại Giáo triều Rôma, và cả nơi những gia đình có não trạng “chuộng cổ” vốn đã xem Công đồng Vatican II như một tai họa và đang chờ đợi gió đổi chiều. Dấu chỉ của thời cuộc : qua thông tin của một số các thân hữu của tôi đang là giám mục hay là một nhân vật này hay nhân vật khác của Vatican, thì “những người công giáo tốt lành” đã có lại thói quen tố cáo với các giám mục sở tại của họ, và thường là với Tòa Thánh Vatican, những điều mà họ cho là lệch hướng trong Giáo hội. Đặc biệt là có khá đông người Pháp cũng tham gia vào việc này.

Dẫu sao thì những dấu hiệu của tình trạng phục hồi quá khứ có vẻ nhiều hơn trong những năm gần đây. Những chủng viện được mở ra để đón nhận những ứng sinh bị từ chối vì lý do thiếu trưởng thành trong giáo phận của họ. Công cuộc đại kết dẫm chân tại chỗ. Từ năm 1985, người ta thích giới thiệu Giáo hội như một “sự hiệp thông” (và Giáo hội cũng có yếu tố này) hơn là “Dân của Chúa”, một thành ngữ bị coi là quá có tính xã hội, và nhất là quá chú trọng vào tính bình đẳng của mọi người chịu Phép Rửa. Người ta lại thấy tái xuất hiện nơi các linh mục trẻ một tinh thần tư tế mang tính cá nhân chủ nghĩa. Hiện tại đang có một sự cám dỗ quay về quá khứ. Xu hướng này được đề cao một cách mạnh mẽ trong một số tổ chức nào đó được thiết lập gần đây, và cả trong những thượng tầng của Giáo hội công giáo. Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI không ngừng khẳng định sự gắn bó của ngài với Công đồng Vatican II, nhưng nỗi ám ảnh của ngài về tính tiếp nối bị lẫn lộn với Truyền thống, sự phân biệt của ngài giữa cách nói của Công đồng với những lệch lạc mạo xưng nhân danh “tinh thần của Công đồng”, đang làm cớ cho những người muốn đi lùi về phía sau.

Tuy nhiên, nếu đối chiếu với tổng số những người công giáo thực hành, xu hướng này chắc chắn là một thiểu số. Nhưng họ lại huyên náo hơn, trong khi đại đa số lại âm thầm và đồng thời tiếp tục tan rã ra bởi vì đa số này bao gồm số người lớn tuổi đang dần dần mất đi và bởi vì nhiều người, thất vọng một cách vô lý hay có lý, đang lặng lẽ rời bỏ Giáo hội. Đây là một hiện tượng không mới nhưng đáng dừng lại để suy nghĩ.

Tôi vừa gợi lên sự biến chuyển, sự tục hóa của thế giới. Nhiều người có trách nhiệm trong Giáo hội có khuynh hướng coi đó là nguyên nhân chủ yếu của cuộc khủng hoảng của Giáo hội đồng thời để lên án Công đồng Vatican II đã quá chạy theo sau sự thay đổi này của thế giới. Vấn đề có đơn giản như thế?

Tất cả mọi cuộc điều tra xã hội thực hiện vào thời đó tại châu Au và Bắc Mỹ đều cho thấy Công đồng Vatican II nhìn chung đã được tích cực đón nhận bởi người công giáo và ngay cả những người khác. Ngay sau khi kết thúc Công đồng, người ta đã ghi nhận được cả một sự gia tăng việc giữ đạo. Nhưng tình hình đó đã không kéo dài được lâu. Việc giữ đạo bỗng bị sụp xuống kể từ năm 1968. Chắc chắn là do cuộc cách mạng các não trạng đã tác động lên phương Tây lúc đó, nhưng cũng là do… việc công bố, vào năm 1968, Thông điệp “Humanae Vitae” (Sự sống con người) cấm việc ngừa thai bằng các phương pháp bị coi là không tự nhiên. Vấn đề này đáng ra đã được Công đồng giải quyết. Đức Phaolô VI là một vị giáo hoàng vĩ đại và can đảm, nhưng cũng là một con người hay bối rối, bị ám ảnh bởi nỗi sợ bị sai lầm, nên ngài đã can thiệp với tính cách cá nhân để đưa vấn đề này ra khỏi chương trình nghị sự của Công đồng và giao cho một ủy ban đặc biệt. Công việc của ủy ban này sắp đưa đến kết quả là một văn kiện mục vụ chấp nhận những phương pháp hiện đại trong việc điều hòa sinh sản trong khi vẫn kêu gọi tinh thần trách nhiệm của các cặp vợ chồng. Nhưng các giám mục đã can thiệp một cách mạnh mẽ với Đức giáo hoàng để ngài có một quyết định khác ? Một trong số các giám mục này, và có thể là người có sức thuyết phục nhất, là vị tổng giám mục của Cracovie, Karol Wojtyla, mà đối với ngài, việc ngừa thai nhân tạo là một sự xúc phạm đến sự cao cả của tình dục và đến phẩm giá của hôn nhân. Cuối cùng, Đức Phaolô VI đã công bố Thông điệp của ngài. Các cuộc thăm dò thực hiện lúc đó tại nhiều nước phương Tây cho thấy là khoảng 90% người công giáo giữ đạo cho rằng đây là “một quyết định sai” và 60% các cặp vợ chồng công giáo tuyên bố là không tuân theo thông điệp. Nhiều người lúc đó – và đặc biệt là nhiều phụ nữ, vốn là thành phần đông đảo hơn nam giới trong việc giữ đạo – đã xa rời Giáo hội và trong một số trường hợp, xa rời đức tin. Tình trạng này đã đưa đến một hiện tượng mới trong giới công giáo, kể cả nơi những tín hữu giữ đạo : nhiều người không còn cảm thấy cần phải tuân thủ một cách máy móc những lề luật của Giáo hội như trước đây nữa. Họ đòi hỏi quyền tự quyết – một quyền mang tính thời đại.

Khi chúng ta suy nghĩ về những gì vừa nói và về việc một số người đặt lại vấn đề về Vatican II, về những hiện tượng phục hồi quá khứ đang diễn ra trong Giáo hội, về ý muốn của một số xu hướng triệt để chống lại thế giới hiện đại bằng một căn tính công giáo xưa cũ và cố chấp – một ám ảnh về căn tính mà người ta thấy hầu như khắp nơi và nguyên do căn bản là vì sợ hãi – thì chúng ta có thể tự hỏi : Đó phải chăng là cách tốt nhất để làm chứng cho niềm tin vào Đức Giêsu Kitô trước một thế giới đang ngày càng xa lạ với những quan tâm về tôn giáo?

Nỗi ám ảnh tự trói mình trong căn tính của mình vì sợ một thế giới đang thay đổi và đang xô đẩy chúng ta, thì đó không phải là thái độ thích hợp cho người công giáo, chúng ta đã thấy điều đó. Nhưng nỗi khát khao muốn quay về với quá khứ của một số người công giáo nào đó lại được nuôi dưỡng bằng hai nuối tiếc.

Thứ nhất là nuối tiếc về Vương quốc công giáo. Về điều này chúng ta biết là đã có một vương quốc đã ngự trị ở phương Tây từ thời Constantin cho đến khoảng năm 1500, trong đó tất cả mọi người về nguyên tắc là theo đạo công giáo và trong đó quyền hành chính trị và quyền hành tôn giáo hỗ trợ cho nhau, cho dù hai quyền lực này cũng thường đối chọi nhau. Tới thời Cải cách, Thế kỷ Anh sáng, Cuộc Cách mạng Pháp và với đà phát triển dân chủ, sự cộng sinh giữa Giáo hội và quyền lực chính trị đã bị đặt lại vấn đề. Nhưng một số người nào đó không bao giờ tiêu hóa nổi điều này. Hãy nhớ lại thời mà ở Pháp, những người công giáo theo quân chủ và những người cộng hòa chống giáo sĩ đã chia rẽ nhau như thế nào. Phong trào Bảo hoàng Pháp (Action francaise) đã sống nhờ sự chống đối này. Đối với ông Charles Maurras, nhà tư tưởng của phong trào này, thì Giáo hội La Mã, với vẻ huy hoàng và cơ cấu phẩm trật của nó, là nằm trong sự tiếp nối của Đế quốc La Mã, phải là một sự nâng đỡ và là một quy chiếu cho sự phục hồi của chế độ quân chủ. Cho nên ông ta nói rằng : “Quả là thảm họa khi Giáo hội cũng loan truyền những tư tưởng nguy hiểm của một người Do Thái nhỏ nhoi có tên là Giêsu”. Đừng quên rằng, mặc dù bị Đức Piô X lên án, Phong trào Bảo hoàng Pháp đã có một ảnh hưởng mạnh mẽ trên Giáo hội Pháp cho đến năm 1945 – điều này giải thích cho thái độ của một phần đáng kể của Hội đồng Giám mục  đối với cuộc Cách mạng dân tộc của Thống chế Maréchal. Chịu ảnh hưởng của Phong trào Bảo hoàng này, Giám mục Lefebvre đã là một lý thuyết gia của chủ trương phục hồi một Vương quốc công giáo do Đức Kitô Vua lãnh đạo (xin xem tạp chí “Etudes” số tháng 9-2009). Thái độ của những người bảo thủ trước hết mang tính chính trị. Cho dù còn có ảnh hưởng nơi một số thành viên nào đó của Giáo triều Rôma, lập trường cực đoan này không thể thuyết phục được những ai coi Tin Mừng là chuyện nghiêm túc. Vì thế, trong mức độ còn có những bế tắc về lập trường này, tôi không tin vào khả năng tái hòa nhập vào Giáo hội của các đồ đệ của Giám mục Lefebvre vì lẽ rằng Đức Bênêđictô XVI sẽ không bao giờ nhượng bộ họ về vấn đề tự do tín ngưỡng và về những đường hướng cơ bản của Công đồng Vatican II mà ngài đã gắn bó một cách sâu đậm. Tuy nhiên, cũng có một số các phong trào hiện đại nào đó như Phong trào “Hiệp thông và Giải phóng” hay Tổ chức Opus Dei luôn nhấn mạnh đến một hành động chính trị thuần túy công giáo để gieo vãi đức tin. Và trong một số các quốc gia nào đó, vẫn luôn có cơn cám dỗ về một đảng phái Kitô giáo – bên cạnh các đảng phái chính trị khác.

Phổ biến hơn là nỗi tiếc nuối thứ hai vốn đôi khi lẫn lộn với nỗi tiếc nuối thứ nhất, nhưng cũng có thể được biểu lộ trong một Giáo hội thực sự chấp nhận tính thế tục của Nhà nước : đó là nỗi tiếc nuối về một Giáo hội – chỉ có kể từ thời Trung Cổ, xin nhớ điều này – đã thiết lập tại phương Tây một bàn cờ lãnh địa với những giáo phận, giáo xứ, bổ sung thêm bởi cả một hệ thống tu viện và cơ sở do các nhà dòng quản lý. Cuộc khủng hoảng hiện nay và nhất là sự sút giảm ơn gọi linh mục đang phá hủy mạng lưới này : tình trạng này diễn ra đặc biệt tại Pháp. Tình trạng đó làm dấy lên nhiều nỗi lo,  kể cả nỗi sợ trong giới công giáo. Tuy nhiên thực tế đó cũng dẫn tới việc cần phải suy nghĩ sâu sắc hơn về sứ mệnh của Giáo hội và về việc sử dụng những phương tiện mà Giáo hội có. Đó là chủ đề chính của đại hội toàn thể các giám mục Pháp tại Lộ Đức hồi tháng 11-2009: các giám mục đã nhận thấy có một sự khác nhau to lớn giữa các phương thức hành động do mỗi giám mục đề xuất trong giáo phận mình. Từ đó mà các giám mục thấy cần phải có một sự suy nghĩ tập thể.

Tuy nhiên xem ra cái Vương quốc Kitô giáo của ngày hôm qua ngày càng càng không thể quay lại. Có nên tiếc nuối không ? Có lẽ là không nếu người ta nhớ rằng trong số những người ngày xưa đi lễ mỗi chủ nhật trong những vùng rất công giáo, thì nhiều người đi vì áp lực xã hội, vì vâng lời cha mẹ hay vì những ân huệ của Trời theo một quan niệm ít nhiều mang tính dị đoan. Ngày nay, trong một quốc gia như nước Pháp, những người đi lễ là tự nguyện để cử hành và chia sẻ niềm tin vào Đức Giêsu Kitô. Chỉ thuộc lòng giáo lý, điều mà người ta gọi là những chân lý phải tin để sống Tin Mừng, thì không đủ. Nước Ruanđa cách đây 20 năm được coi là quốc gia Kitô giáo nhất châu Phi: có 97% dân số được rửa tội. Nhưng rồi hãy nhớ lại điều gì đã xảy ra vào năm 1994! Ngay cả các linh mục cũng tham gia vào việc diệt chủng. Ruanđa có đã được đón nhận Tin Mừng?

Trong xã hội toàn cầu hóa và tục hóa của chúng ta, sứ mệnh của Giáo hội vẫn là sứ mệnh từ muôn thuở: truyền bá Tin Mừng của Đức Giêsu Kitô. Là Thiên Chúa. Là Đấng tạo hóa, nghĩa là nguồn gốc của vạn vật. Nhưng đó không phải là một nguyên tắc trừu tượng. Thiên Chúa không phải là vị kiến trúc sư vĩ đại của Vũ trụ như cách nghĩ của các triết gia Thế kỷ Anh sáng. Ngài là Tình yêu. Và Ngài đã thương yêu chúng ta, và thương yêu chúng ta đến mức nhập thể qua Đức Giêsu Kitô, bị giết chết và đã sống lại, để cho mọi con người được chia sẻ sự sống của Thiên Chúa. Về điều này, Thánh Phaolô đã viết: "Đối với người Do Thái, đó là một gương mù, gương xấu ; còn đối với người ngoại giáo, thì đó là một sự điên khùng". Cho nên việc tuyên xưng những điều này đã không là dễ dàng cho các Kitô hữu đầu tiên,  tuy nhiên họ đã thay đổi được bộ mặt của thế giới cổ xưa bằng chứng từ của họ, bởi vì họ đã coi sự hiện diện của Đức Kitô phục sinh là một chuyện nghiêm túc.

Không phải khi đưa ra cho thế giới một bài học đạo đức, một bài giáo lý hay ngay cả thần học là Giáo hội có thể làm cho thế giới nghe được sứ điệp này, mà chính là khi làm chứng về tình yêu của Thiên Chúa được mặc khải nơi và nhờ Đức Giêsu Kitô, về sự trìu mến mà Thiên Chúa dành cho con người, nhất là những người nghèo khổ nhất, và cho số người khá đông đảo bị cái xã hội sung túc của chúng ta bỏ mặc. Đâu là những Kitô hữu của thời đại chúng ta có thể làm rung động trái tim của con người ngày hôm nay? Đó là Mẹ Têrêxa, là Nữ tu Emmanuelle, là Linh mục Pierre, là Giám mục Don Helder Camara và hàng ngàn con người khác ít được nói đến hơn đã dấn thân vì những người nghèo, vì những người bị đau khổ, vì những người bị đói khát hay bị cô độc. Tôi cũng không quên nhắc đến Đức Gioan-Phaolô II, một con người đã ít làm rung động trái tim con người với cách ngài lãnh đạo Giáo hội hơn là cách ngài nói với các đám đông, đặc biệt là với giới trẻ.

Ngày mai cũng như hôm qua, Giáo hội sẽ hoàn thành sứ mệnh của mình nếu Giáo hội biết quan tâm trước hết đến việc làm chứng cho Đức Giêsu Kitô và loan báo sứ điệp của Ngài, chứ không phải quan tâm đến chính mình và cách nhìn của mình. Đó chính là điều Công đồng Vatican II yêu cầu Giáo hội. Điều đó chắc chắn cũng bao hàm việc tìm ra những cách thức tổ chức và hoạt động. Điều đó không thể tránh khỏi việc phải suy nghĩ lại về vai trò của giáo dân trong lòng các cộng đoàn Kitô hữu cũng như vai trò của linh mục. Những công việc này đã được khởi sự và có thể ngày nào đó đưa đến việc phong chức linh mục cho những người đàn ông đã lập gia đình và – biết đâu – cả phụ nữ, để đáp ứng tình trạng đói khát thánh thể của những người đã được Rửa tội – công việc này không liên quan đến Đức tin, nhưng đến luật lệ mà Giáo hội đã đề ra. Để trả lời cho một số những câu hỏi nào đó chưa được đặt ra cách đây nửa thế kỷ, chắc chắn sẽ phải có những bổ sung cho Công đồng Vatican II; có thể bằng một công đồng hoàn vũ mới như nhiều người mà đứng đầu là Đức Hồng y Martini yêu cầu, nhưng Đức Bênêđictô XVI đã từ chối? Có thể. Chúng ta hãy tin tưởng vào Chúa Thánh Thần. Và thay vì cứ mơ tưởng đến một sự quay lui, thay vì bị ám ảnh bởi mối hiểm nguy ảo tưởng khi phải dứt khoát với một quá khứ được lý tưởng hóa, thì hãy bắt đầu bằng việc áp dụng đầy đủ Công đồng Vatican II, một Công đồng mà như Đức Gioan-Phaolô II nói vào năm 2000: “Một Công đồng ban tặng cho chúng ta một kim chỉ nam đáng tin cậy để hướng dẫn chúng ta trên con đường của thế kỷ đang đến”.

 

 

 

Catechesis.Net