• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

Thánh Bêđa, Khả Kính

 

Thánh Bêđa, Khả Kính

Trích "36 thánh tiến sĩ" Học viện Đa Minh, 2017, trang 227-237.

 

Đây là một đan sĩ thánh thiện, một học giả uyên bác thời kỳ đầu Trung cổ. Ngài say mê nghiên cứu Kinh Thánh và tổng hợp các giai đoạn lịch sử. Ngài được xem là “bậc thầy của các nhà sử học Anh Quốc.” Đức Bênêđictô XVI dành buổi tiếp kiến chung ngày 18 tháng 02 năm 2009 để giới thiệu những giáo huấn nổi bật nhất của thánh Bêđa.

*****

Anh chị em thân mến,

Hôm nay, chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu cuộc đời và giáo huấn của thánh Bêđa Khả Kính. Thánh nhân chào đời vùng Northumbria, Đông Bắc Anh quốc, khoảng năm 672 (673). Chính thánh nhân kể lại cuộc đời của ngài như sau: khi được bảy tuổi, thì cha mẹ trao gởi cho vị viện phụ của một đan viện Biển Đức gần đó, để được dạy dỗ, giáo dục và “từ đó về sau cứ sống trong đan viện.” Thánh nhân hồi tưởng lại: “Tôi đã dấn thân hết mình cho việc học hỏi, nghiên cứu Kinh Thánh; trong khi tuân giữ kỷ luật đan viện và đảm trách việc xướng hát mỗi ngày trong nguyện đường, tôi vẫn luôn ham thích học hành, giảng dạy và viết lách.”[1]

Thật vậy, thánh Bêđa đã trở thành một trong những học giả uyên bác nhất thời kỳ đầu Trung Cổ, vì ngài có cơ hội tiếp cận và sử dụng rất nhiều bản chép tay quý giá, do các vị viện phụ mang về sau những chuyến đi đại lục và Rôma. Việc giảng dạy, cộng với tiếng tăm của các bài viết là những điều kiện thuận lợi để Bêđa kết liên bạn hữu với nhiều nhân vật quan trọng trong thời đại của ngài. Họ khích lệ thánh nhân kiên trì làm việc, nhờ thế, nhiều người sẽ hưởng lợi. Khi Bêđa ngã bệnh, ngài vẫn không ngừng làm việc, luôn giữ được niềm hoan lạc nội tâm, thể hiện qua những lời cầu nguyện và bài hát. Ngài khép lại tác phẩm quan trọng nhất của mình “Historia Ecclesiastica gentis Anglorum” với một lời khẩn nguyện tha thiết như sau: “Lạy Chúa Giêsu Nhân Từ, những ai Chúa đã cho hưởng nếm lời chân lý mang lại sự hiểu biết về Chúa, thì, vì lòng nhân hậu vô biên, xin cũng cho họ một ngày kia được đến bên Chúa, là nguồn mạch mọi sự Khôn Ngoan, và được diện kiến Thánh Nhan Ngài mãi mãi”. Thánh Bêđa qua đời ngày 26 tháng 05 năm 737, đó là ngày lễ Chúa Thăng Thiên.

Kinh Thánh chính là nguồn mạch chính yếu cho những suy tư thần học của thánh Bêđa. Ngài nghiên cứu, phê bình bản văn (có một bản sao của quyển Vulgata chép tay rất lớn mà thánh nhân đã làm việc trên đó, vẫn còn để lại cho chúng ta hôm nay) rồi chú giải Kinh Thánh, diễn giải lời Kinh Thánh dựa trên nền tảng Kitô học, liên kết hai điểm sau đây:

- (1) thánh nhân cố gắng tìm hiểu, lắng nghe, để xem chính xác bản văn muốn nói điều gì. Ngài luôn cố gắng học và hiểu chính bản văn.

- (2) thánh nhân cho rằng chìa khoá để hiểu Kinh Thánh là hãy xem Kinh Thánh như lời duy nhất của Thiên Chúa, là chính Đức Kitô.

Cùng với Đức Kitô, trong ánh sáng của Người, chúng ta sẽ hiểu Cựu Ước và Tân Ước chỉ là “một” Sách Thánh mà thôi. Những biến cố trong Cựu Ước và Tân Ước liên kết với nhau, đều là đường dẫn tới Đức Kitô, dù rằng chúng được diễn đạt bằng những dấu hiệu và thể thức khác nhau (thánh nhân gọi là concordia sacramentorum - sự hài hoà của các dấu chỉ). Chẳng hạn, Lều Hội Ngộ mà Môsê dựng lên trong sa mạc, rồi đến Đền thờ Giêusalem thứ nhất và thứ hai, tất cả đều là những hình ảnh tiên trưng về Giáo Hội. Giáo Hội chính là Đền thờ mới, được xây dựng trên đá tảng Đức Kitô và các tông đồ, đó là những viên đá sống, được gắn kết với nhau bởi tình yêu của Thánh Thần. Xưa kia, các dân ngoại đã cộng tác xây dựng Đền thờ bằng cách chuẩn bị, cung cấp vật liệu quý giá, lại có kinh nghiệm kỹ thuật lâu năm của những thợ xây chuyên nghiệp. Cũng vậy, ngày nay, đóng góp vào việc xây dựng Giáo Hội có các tông đồ cùng các bậc thầy dạy, họ không chỉ xuất thân là những người nói tiếng Dothái, Hylạp và Latinh, mà còn có cả các dân tộc mới, trong đó thánh Bêđa phấn khởi liệt kê các dân tộc nói tiếng Celtic của Ailen và các dân tộc thuộc hệ Anglo-Saxons. Thánh Bêđa đã nhìn thấy sự phát triển chiều kích hoàn vũ của Giáo Hội, vốn không bị giới hạn trong một nền văn hoá cụ thể nào, mà liên kết với tất cả các nền văn hoá trên thế giới biết mở ra với Đức Kitô và tìm thấy mục đích của mình nơi Đức Kitô.

Có một chủ đề khác thánh Bêđa cũng rất yêu thích, đó là lịch sử Giáo Hội. Sau khi nghiên cứu về một giai đoạn được trình bày trong sách Công vụ Tông đồ, thánh nhân bắt đầu tìm hiểu về lịch sử thời các Giáo phụ và các Công đồng, xác tín rằng Chúa Thánh Thần vẫn tiếp tục hoạt động trong Giáo Hội. Trong quyển “Chronica Maiora,” thánh Bêđa phác thảo những nét đại cương về một niên đại đã trở thành nền tảng cho niên lịch hoàn vũ “ab incarnatione Domini”. Trong thời đại của thánh nhân, thời gian được tính trên nền tảng niên lịch của thành Rôma. Nhận thấy điểm tham chiếu đích thực, điểm trung tâm của lịch sử, đó là biến cố Giáng Sinh của Đức Kitô, thánh Bêđa đưa cho chúng ta niên lịch này vốn diễn giải lịch sử từ biến cố Nhập Thể của Ngôi Hai Thiên Chúa. Thánh Bêđa ghi chép lại sáu Công đồng hoàn vũ đầu tiên và bước phát triển của chúng, trung thành trình bày đạo lý Kitô giáo, bao gồm cả lãnh vực Thánh mẫu học và Cứu độ học, và tố giác các lạc thuyết như Monophysite (cho rằng Đức Giêsu có một bản tính), Monothelite (cho rằng Đức Giêsu có một ý chí), Iconoclastic (bài trừ ảnh tượng) và Tân-Pelagio. Cuối cùng, thánh Bêđa còn biên soạn một bộ tài liệu rất chính xác về Lịch sử Giáo Hội Anh Quốc, từ đó ngài được xem là tổ phụ của những nhà sử học Anh quốc”. Những đặc tính của Giáo Hội mà thánh Bêđa luôn cố gắng nhấn mạnh là:

(a) Công Giáo, được xem là lòng trung thành với truyền thống trong khi vẫn cởi mở với những bước phát triển của lịch sử, và mời gọi sự hiệp nhất trong đa dạng, trong những khác biệc về lịch sử cũng như văn hoá, theo những lời hướng dẫn của đức giáo hoàng Grêgôriô Cả gởi cho thánh Augustinô thành Canterbury, vị tông đồ của Anh quốc.

(b) Tông Truyền và theo truyền thống Rôma: về điểm này, thánh nhân thấy rằng cần phải thuyết phục các Giáo Hội Pict, Celtic và Ailen, cử hành cùng một lễ Phục Sinh theo lịch Rôma. Bộ “Computo”, là một bản văn mà thánh Bêđa biên soạn một cách rất khoa học để thiết định một ngày chính xác cho việc cử hành đại lễ Phục Sinh, thế nên chu trình năm Phụng vụ, trở thành một bản văn tham chiếu cho toàn thể Giáo Hội.

Thánh Bêđa cũng là một bậc thầy lỗi lạc trong lãnh vực thần học Phụng vụ. Trong các bài giảng Tin Mừng Chúa nhật và các ngày đại lễ, thánh nhân thật sự đã đạt đến một khoa sư phạm thần thiêng, khi hướng dẫn tín hữu cử hành các mầu nhiệm đức tin với tâm tình hoan lạc và trung thành sống các mầu nhiệm đó, với niềm hy vọng vào sự biểu lộ viên mãn của các mầu nhiệm vào ngày Đức Kitô quang lâm. Lúc đó, cùng với thân xác vinh quang, chúng ta sẽ bước vào đoàn rước tiến dâng lễ vật trong Phụng vụ vĩnh cửu trên thiên đàng. Theo hướng duy thực trong các bài giáo lý của thánh Syrilô, của thánh Ambrôsiô và thánh Augustinô, đan sĩ Bêđa Khả Kính cũng dạy rằng các bí tích khai tâm Kitô giáo làm cho mỗi người không những trở thành một Kitô hữu mà còn là một Kitô khác.” Thực vậy, mỗi khi đón nhận và suy ngẫm Lời Chúa với lòng yêu mến, theo gương mẫu của Đức Maria, người tín hữu cũng cưu mang và hạ sinh Đức Kitô mới. Và mỗi khi có một nhóm các anh chị em tân tòng đón nhận các bí tích trong ngày lễ Phục Sinh, thì Giáo Hội “tái sinh chính mình”, (hay sử dụng một thuật ngữ táo bạo, có thể nói Giáo Hội trở thành Mẹ Thiên Chúa”, thông dự vào việc hạ sinh dưới tác động của Chúa Thánh Thần).

Qua việc tạo ra một nền thần học đặc biệt, kết hợp Kinh Thánh, Phụng vụ và Lịch sử, đan sĩ Bêđa mang đến một sứ điệp rất thời sự cho nhiều “hoàn cảnh và bậc sống” khác nhau:

(a) Cho các bậc học giả (các vị thầy dạy), thánh nhân nhắc nhớ hai nhiệm vụ căn bản: hãy học hiểu và suy ngẫm về muôn vẻ diệu kỳ của Lời Chúa, hầu có thể trình bày Lời Chúa cho người tín hữu với một phong cách hết sức lôi cuốn; hãy giải thích các chân lý đức tin, tránh những suy tư lầm lạc và trung thành với “đạo lý tinh tuyền của Giáo Hội Công Giáo”, với thái độ đơn thành của một người tôi tớ khiêm hạ, bé mọn, được Thiên Chúa vui lòng mạc khải các mầu nhiệm Nước Trời.

(b) Cho các vị mục tử, thánh Bêđa nhắc nhớ rằng họ phải ưu tiên cho việc giảng thuyết, nhưng đừng dừng lại ở thứ ngôn ngữ nói hay kể chuyện các thánh, mà còn phải chú ý đến tầm quan trọng của các hình ảnh, các cuộc rước kiệu và các chuyến hành hương. Thánh Bêđa đề nghị các vị mục tử sử dụng bản văn Vulgata như chính ngài vẫn dùng, vẫn đang diễn giải “Kinh Lạy Cha”, “Kinh Tin Kính” ở vùng Northumbrian, và ngài còn tiếp tục hoàn thành bản chú giải Tin Mừng Gioan theo bản Vulgata cho đến cuối đời.

(c) Cho các tu sĩ thánh hiến, là những người đã dành trọn cuộc đời để suy ngẫm và nguyện kinh thần vụ, để sống trong niềm vui của tình hiệp thông huynh đệ, không ngừng thăng tiến về mặt tâm linh nhờ nếp sống nhiệm nhặt và chiêm niệm, thánh Bêđa khuyên nhủ rằng: các tu sĩ cũng phải tham dự các hoạt động tông đồ, vì không ai sở hữu Tin Mừng cho chính mình, nhưng phải chia sẻ Tin Mừng với người khác như trao tặng một món quà, hãy cộng tác với các giám mục trong các hoạt động mục vụ khác nhau hầu phục vụ các cộng đoàn Kitô hữu non trẻ, đồng thời, phải sẵn sàng cho sứ mạng truyền giáo, vượt qua khỏi biên giới quốc gia, đến với các dân ngoại, trở nên “peregrini pro amore Dei” (những kẻ lữ hành vì lòng mến Thiên Chúa).

Thánh Bêđa đã đưa ra một quan điểm rất riêng khi chú giải sách Diễm ca, diễn tả Hội đường Dothái và Giáo Hội là những cộng sự viên trong việc loan truyền Lời Chúa. Đức Kitô, vị Hôn Phu, muốn có một Giáo Hội chăm chỉ làm việc, “hao gầy vì đã nỗ lực rao giảng Tin Mừng,”[2] tư tưởng này rõ ràng đã tham chiếu một lời trong sách Diễm ca, trong đó, vị Hôn Thê đã nói: “Da tôi đen nhưng nhan sắc mặn mà.” Sắc da đen sẫm vì mải mê cày bừa trên những cánh đồng hay vườn nho, và cũng đen sẫm vì đã nỗ lực thiết lập giữa các dân tộc “một nơi cư trú mãi mãi chứ không phải chiếc lều tạm thời.” Nói cách khác, sắc da trở nên đen sẫm vì nỗ lực hội nhập Tin Mừng vào các cơ sở xã hội và thiết chế văn hoá. Trong viễn ảnh này, thánh Bêđa, vị tiến sĩ thánh thiện, thúc giục giáo dân hãy chuyên chăm trong việc giáo dục tôn giáo, bắt chước “những đám đông của Tin Mừng, là những kẻ thậm chí đã không để cho các Tông đồ có thời gian ăn uống.” Thánh nhân cũng dạy các tín hữu phải không ngừng cầu nguyện, “áp dụng vào đời sống thực tiễn những gì chúng ta cử hành trong Phụng vụ”, dâng hiến công khó của bản thân hiệp với Đức Kitô làm của lễ thiêng liêng. Thánh nhân giải thích cho các bậc cha mẹ, trong khung cảnh gia đình, cũng có thể hiện thực “chức năng tư tế như những vị mục tử và những người dẫn đường” qua việc giáo dục con cái theo tinh thần Kitô giáo. Ngài cũng khẳng định rằng ngài biết có nhiều Kitô hữu (cả nam lẫn nữ, cả những người lập gia đình cũng như những người độc thân) “sống đức hạnh không có gì đáng chê trách, những người, nếu được hướng dẫn cách thích hợp, mỗi ngày có thể rước lễ.”[3]

Ngay trong thời đại của ngài, thánh Bêđa đã rất nổi tiếng là người thánh thiện và khôn ngoan, được mang danh hiệu “khả kính”. Chính đức giáo hoàng Sergius I cũng gọi ngài bằng danh hiệu cao quý ấy, khi viết một lá thư gởi cho vị viện phụ của Bêđa vào năm 701, thỉnh cầu cho phép ngài tạm thời đến Rôma để hướng dẫn những vấn đề quan trọng toàn cầu. Sau khi thánh nhân qua đời, các tác phẩm của ngài được phổ biến khắp quê hương và châu Âu. Giám mục Bônifaciô, nhà truyền giáo vĩ đại của Đức quốc, đã nhiều lần xin tổng giám mục xứ York và viện phụ của đan viện Wearmounth gởi các tác phẩm chép tay của thánh Bêđa, nhờ thế, ngài và các cộng sự viên cũng có cơ hội tiếp cận và thụ hưởng nguồn ánh sáng thiêng liêng toả ra từ những tác phẩm ấy. Một thế kỷ sau, Notker Balbulus, viện phụ của đan viện Sankt Gallen, nhắc đến tầm ảnh hưởng lớn lao của thánh Bêđa, ví thánh nhân là vầng thái dương mới mà Thiên Chúa đã cho mọc lên, không phải ở Đông phương nhưng ở Tây phương, để soi chiếu thế gian. Ngoài cách diễn tả so sánh nhấn mạnh này, chúng ta biết rằng: qua những tác phẩm của mình, thánh Bêđa đã đóng góp hiệu quả trong việc xây dựng một châu Âu Kitô giáo, nơi đó nhiều dân tộc và nhiều nền văn hoá liên kết hài hoà, hiệp nhất với nhau, từ đó làm nên một diện mạo chung, được truyền cảm hứng bởi niềm tin Kitô giáo.

Anh chị em thân mến, chúng ta hãy cầu nguyện, để ngày nay, có nhiều nhân vật lẫy lừng như hình tượng thánh Bêđa, giúp cho toàn thể châu lục này được hiệp nhất với nhau. Hãy cầu nguyện để chính chúng ta biết sẵn sàng tái khám phá những cội rễ chung, ngõ hầu có thể trở thành những người xây dựng một châu Âu vừa rất nhân văn vừa đậm chất Kitô giáo.

 


[1]Historia Ecclesiastica gentis Anglorum, v, 24.

[2]Dc 1, 5

[3]Epist. ad Ecgberctum, ed. Plummer, p. 419.

Catechesis.Net