• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

Thần Học Các Tôn Giáo: Ngoài Giáo Hội Không Có Ơn Cứu Độ?

THẦN HỌC VỀ CÁC TÔN GIÁO

Lm. Phanxicô Xavie Nguyễn Tiến Dưng, AA.

***

***

PHẦN I: CÁC TÔN GIÁO TRONG KINH THÁNH

PHẦN II: THẦN HỌC NGÔI LỜI NƠI CÁC GIÁO PHỤ ĐẦU TIÊN

***

PHẦN III

NGOÀI GIÁO HỘI KHÔNG CÓ ƠN CỨU ĐỘ?

 

Trong phần thứ hai vừa rồi, chúng ta đã thấy các Giáo Phụ thuộc thế hệ đầu tiên, khi đề cập tới thần học lịch sử, đã có một cái nhìn tích cực về con người và các tôn giáo khác trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Cách nhìn của họ đã được những thế hệ kế tiếp giữ lại phần nào. Origène và Augustin, hai cây đại thụ của hai truyền thống Giáo phụ Hy Lạp và Latin, phần lớn cũng đi theo hướng của Justino, Irénée và Alexandria, ơn cứu độ trong Đức Kitô là khả dĩ cho người Do Thái và dân ngoại sống trước biến cố nhập thể của Đức Giêsu. Đương nhiên, vấn đề ơn cứu độ đến nay đối với những người đã từng sống trước, thì sau biến cố Đức Kitô lại là một câu hỏi khác. Ngoài ra, còn câu hỏi liên quan đến những người con cái (những người đã lãnh nhận Bí tích Rửa Tội)tự mình tách ra khỏi Giáo Hội, số phận của họ sẽ như thế nào?

Sau khi Clemente thành Alexandria qua đời (khoảng năm 211), một trào lưu mới hình thành trong lịch sử Giáo Hội. Trào lưu này có châm ngôn: Ngoài Giáo Hội không có ơn cứu độ (Extra ecclesiam nulla salus). Việc diễn giải châm ngôn này, qua chiều thời gian, nhiều khi phát triển theo hướng giản lược. Vì vậy, chúng ta sẽ nghiên cứu xuất xứ của câu châm ngôn, nội dung thật sự của châm ngôn, cũng như cách hiểu câu châm ngôn qua dòng thời gian.

Trước hết, cần phải xác định rõ rằng, bên cạnh những lối nhìn tích cực nơi văn hóa và tôn giáo ngoài Kitô giáo của các Giáo phụ, vẫn còn đó những cách nhìn bi quan liên hệ đến vấn đề cứu độ dành cho họ. Những cách nhìn bi quan này không phải không có cơ sở. Trước hết, Tân ước đã khẳng định một cách rõ ràng sự cần thiết của Đức Tin để được ơn cứu độ. Hay nói cách khác, chỉ có ơn cứu độ trong Đức Giêsu Kitô (Cv 4,12). Chính vì thế, Tân ước: nhấn mạnh tới sự cần thiết của Đức Tin và Phép Rửa (Ga 3,5; xem Cv 2,37-41; Mc15-16). Bản văn của Gioan, khi đối lập với tinh thần, đã đặt trọng tâm vào đời sống mới trong Thần Khí như là điều bắt buộc cho ơn cứu độ. Riêng bản văn của Marcô thì khẳng định: “Những ai tin và chịu phép rửa thì sẽ được cu rỗi, những ai không tin thì sẽ bị luận phạt” (Mc 16,16).

Như vậy, rõ ràng là trong mọi trường hợp, Đức Tin cần thiết cho sự cứu độ. Tuy nhiên, ta không thể khẳng định rằng, Tân ước loại trừ ơn cứu độ những người chưa đón nhận Phép Rửa mà không phải do lỗi từ phía họ, nghĩa là những người chưa bao giờ được nghe loan báo Tin Mừng. Dầu sao thì vai trò của Giáo Hội trong việc cứu độ con người là cần thiết để người ta trở thành thành viên qua Đức Tin và Phép Rửa. Thánh Phêrô đã so sánh những người được cứu thoát nhờ con tàu của Noê và những người được cứu độ nhờ nước Rửa Tội (x. 1Pr 3,18-22). Sau này, một số tác giả Kitô giáo đã lấy bản văn này làm nền móng cho quan niệm về Giáo Hội, để khẳng định rằng, ngoài con thuyền Giáo Hội không có ơn cứu độ.

I. LỊCH SỬ CỦA CHÂM NGÔN ĐẦY TRANH CÃI

1. Các Giáo phụ trước Thánh Augustin

Câu châm ngôn “ngoài Giáo Hội không có ơn cứu độ” thường được gắn liền với tên của Thánh Cyprien.

Tuy nhiên, về mặt lịch sử, đã có nhiều người khác đề cập đến vấn đề này, dù có khác nhau về cách nói hoặc cách hiểu vấn đề.

- Thánh Inhaxio thành Antiokhia có lẽ là Giáo phụ đầu tiên đã đề cập tới chủ đề này. Thánh Inhaxio đặt trọng tâm vào sự cần thiết của hiệp nhất trong lòng Giáo Hội và sự hiệp thông với Giám mục như là điều kiện cho sự hiệp thông với Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô. Khi đề cập tới những người ly giáo muốn cố tình phá vỡ sự hiệp nhất này, thánh nhân đã viết: Anh em thân mến, anh em đừng lầm tưng: nếu có người nào đi theo các phong trào ly giáo, người đó không được thừa hưởng gia tài Nước Thiên Chúa”.[1] Trong bản văn đầu tiên này, việc cố tình tách rời khỏi Giáo Hội là lý do rõ ràng của việc bị loại trừ ơn cứu độ.

- Thánh Irénée, trong một hoàn cảnh khác, cũng tóm tắt rằng những người tự tách rời khỏi Giáo Hội cũng bị cắt đt khỏi ơn cứu độ. Irénée nói tới những người ngộ đạo, tức là những người tự cho mình có một sự hiểu biết cao hơn những người Kitô hữu bình thường. Ngài cảnh báo những người ly giáo rằng, chỉ có khi họ trong một Giáo Hội thật, h mới tham dự vào đời sống ân sủng: Nơi nào có Giáo Hội, nơi đó có Thánh Thần của Thiên Chúa; và nơi nào có Thánh Thần của Thiên Chúa, đó có Giáo Hội”.[2]

- Với Origène, vấn đề trở nên phức tạp hơn. Một mặt, ngài tiếp tục thần học về Logos của Justino; theo đó, Logos hoạt động trong tất cả các “hữu thể có lý trí” (logikoi), còn Thần Khí chỉ ở trong những vị thánh (pneumatikoi): hoạt động của Logos rộng hơn hoạt động của Thần Khí. Mặt khác, Origène rất rõ ràng trong vấn đề khả năng lãnh nhận ơn cứu độ chỉ có trong Giáo Hội. Ngài xem Giáo Hội là căn nhà nơi gia đình tụ họp: “Nếu ai đó muốn được cứu chuộc, họ phải đến trong căn nhà của Giáo Hội. Và ngay cả gia dân tộc xưa kia, nếu ai muốn được cứu rỗi, họ phải đến trong căn nhà này đng ơn cứu độ. Ước gì họ đến trong căn nhà này, nơi có máu của Đức Kitô, dấu ch của sự cứu chuộc [...]. Ước gì đừng ai ảo tưng, cũng đừng có ai khinh thường; ngoài ngôi nhà này, tức là ngoài Giáo Hội, không ai được cứu độ (extra hanc donum, id est extra ecclesiam, nemo salvatur). Nếu ai ra khỏi ngôi nhà này, họ tự nhận lấy trách nhiệm về cái chết của mình”.[3] Như vậy, ơn cứu độ chỉ được đảm bảo cho những ai ở trong ngôi nhà Giáo Hội. Origène đã ám chỉ tới những người Do Thái không tiếp nhận sứ điệp của Đức Kitô, và đặc biệt tới những người trước đây thuộc về Giáo Hội, song cố tình lìa bỏ Giáo Hội; họ chỉ tự mình tìm đến sự thất sủng.

Tuy nhiên, trong một số đoạn khác, Origène nới rộng quan niệm về Giáo Hội. Khi bình luận về 1Cr 15, 28, Origène viết: “Đức Kitô [...] là Đấng mà tất cả mọi người, hay hơn thế nữa, tất cả mọi tạo vật là thân thể và mỗi người trong chúng ta là một chi th.[4] Ở đây, ngài cũng cho rằng, sẽ có thời gian các chi thể bệnh tật tìm lại được sức khỏe và tất cả sẽ được cứu chuộc. Đây có lẽ là cách nhìn về thời cánh chung. Dù sao thì quan niệm về cứu chuộc của Origène vẫn còn nhiều khuất tất.

- Riêng đối với Thánh Cyprien, cùng thời với Origène và là Giám mục Carthare, thì rất rõ ràng. Cũng chẳng ngạc nhiên chút nào khi người ta cho rằng, châm ngôn “ngoài Giáo Hội không có ơn cu độ” là của ngài. Châm ngôn này được lặp đi lặp lại nhiều lần trong các bản văn của ngài. Tuy nhiên, cần phải lưu ý rằng, trong mọi trường hợp, thánh nhân luôn viết cho những người có nguy cơ rời bỏ Giáo Hội hoặc đã từ bỏ Giáo Hội. Sau đây là những ví dụ.

Với những người bị khai trừ vì đã chống lại các Giám mục của họ, Cyprien viết: “Họ không tin rằng, có một con đường cứu độ dành cho họ khi họ từ chối vâng lời các Giám mục hoặc các linh mục [...]. Những người kiêu ngạo và trâng tráo phải chết vì những lưỡi gươm của Thánh Thần một khi họ bịkhai trừ khỏi Giáo Hội. Họ không thể sống bên ngoài vì chỉ có một ngôi nhà của Thiên Chúa và ch có ơn cứu độ cho những người trong lòng Giáo Hội”.[5]

Với những người dị giáo, Cyprien nói rằng, ngay cả sự tử đạo cũng không bảo đảm cho họ sự cứu độ, “vì không có sự cứu độ bên ngoài Giáo Hội”.[6] Và việc tử đạo không có khả năng xóa bỏ những lỗi lầm khi sống trong tình trạng ly giáo: “Ngay cả khi họ phải chịu cực hình đến chết vì tuyên xưng Thánh Danh, lỗi lầm của những người này không được tẩy xóa, cả đi với máu của họ; những tội li trầm trọng và không thể tha thứ của những người ly giáo không được rửa sạch, ngay cả khi họ tử đạo”.[7] Một cách rõ ràng hơn, khi nghĩ tới những người dị giáo và những người ly giáo mới, Cyprien viết: “Hiền thê của Đức Kitô không thể bị tỳ vết, nhưng trong trắng và tinh tuyền [...]. Ai từ bỏ Giáo Hội và có liên kết ngoại tình ngoài Giáo Hội đều lỗi lời thề với Giáo Hội; và bất cứ ai quay lưng lại với Giáo Hội của Đức Kitô đều không nhận được phần thưởng của Đức Kitô: họ là những người ngoài, người phàm tục, kẻ thù. Bạn không thể có Thiên Chúa là Cha, nếu bạn không có Giáo Hội làmẹ”.[8]

Trong tư tưởng của Cyprien, số phận của những người lạc giáo và ly giáo rất rõ ràng: vì họ xúc phạm đến Giáo Hội, cắt đứt liên hệ với Giáo Hội, nên ơn cứu độ không dành cho họ. Ngoài ra, cũng theo Cyprien, Phép Rửa được cử hành bên ngoài Giáo Hội không có kết quả hữu hiệu; nhận định này bị những người sau này phản đối. Tuy nhiên, nó phản ánh tư tưởng cứng rắn của Cyprien: ngoài Giáo Hội, không có ơn cứu độ. Vấn đề đặt ra là Cyprien nhận định như thế nào về những người ngoại giáo, những người vẫn ở bên ngoài Giáo Hội? Họ có bị kết án, có bị loại trừ khỏi ơn cứu độ hay không? Về vấn đề này, F.A. Sullivan viết như sau: “Không có một chỗ nào trong các bản văn của Cyprien áp dng công thức “ngoài Giáo Hội không có ơn cứu độ” cho đại đa số những người ngoại giáo cùng thời với ngài. Chúng ta biết rằng, ngài kết án những người dị giáo và ly giáo, đó là những Kitô hữu tự mình xa ri Giáo Hội. Ngài có kết án những người ngoại giáo không chấp nhận Tin Mừng hay không nối kết với Giáo Hội không? Chúng ta hoàn toàn không biết gì cả”.[9]

Và khi đề cập tới tư tưởng của Inhaxio, Irénée, Origène và Cyprien, Sullivan thêm vào rằng: “Mi khi các Giáo phụ nói tới những người bị khai trừ khỏi ơn cứu độ với lý do họ ở ngoài Giáo Hội, thì luôn là lời cảnh báo đối với những Kitô hữu phạm những trọng tội lạc giáo hoặc ly giáo. Nếu có ai đó hỏi, thì có khả năng họ cũng trả li là không có ơn cứu độ cho những người Do Thái và người ngoại đạo, vì họ ở ngoài Giáo Hội. Tuy nhiên, có một điều lý thú là, lịch sử của châm ngôn này chưa bao giờ áp dụng cho một ai khác ngoài những người Kitô hữu, vào thời điểm mà những người Kitô hữu đang là thiểu số bị bách hại [...]. Điều này hoàn toàn khác sau khi Kitô giáo trở thành quốc giáo của hoàng đế Roma và đa số dân chúng chấp nhận Đức Tin Kitô giáo”.[10]

Như vậy, chỉ khi Kitô giáo được nhìn nhận là tôn giáo chỉnh thức của hoàng đế Roma, thì các Giáo Phụ mới áp dụng châm ngôn “ngoài Giáo Hội không có ơn cứu độ” cho người Do Thái và dân ngoại. Vì vậy, Thánh Ambroise mới viết: “nếu ai không tin vào Đức Kitô, người đó không được hưởng phúc lộc phổ quát, tựa như một người không tiếp nhận các tia sáng ca mặt trời khi đóng ca sổ [...]. Vì tình thương của Thiên Chúa, qua Giáo Hội, được lan tỏa trên tt cả các dân tộc; Đức Tin cũng được gieo vãi trên khắp các quốc gia”.[11]

2. Thánh Augustin và sau đó

Trong cuộc tranh cãi với nhóm lạc thuyết Donato, Thánh Augustin không chia sẻ quan điểm với Cyprien liên quan đến vấn đề không-có -hiệu -lực đối với Phép Rửa do lạc giáo và ly giáo tiến hành; theo Augustin, một Phép Rửa như thế vẫn có hiệu lực. Nhưng ngài cũng đồng quan điểm với Cyprien khi cho rằng, một Phép Rửa như thế không đưa tới sự cứu độ. Lý do được đưa ra là một phép rửa do một giáo phái tự tách ra khỏi Giáo Hội thực hiện không có sự đồng thuận, cũng không thể có sự đồng thuận của Chúa Thánh Thần, nên không có hồng ân cứu độ. Những người lìa xa Giáo Hội, mặc dù đã lãnh nhận Phép Rửa và vẫn thực hành các Bí tích, vẫn bị khai trừ khỏi ơn cứu độ. Đề cập tới một Giám mục thuộc phái Donato, Thánh Augustin viết: “Ngoài Giáo Hội, ngài có tất cả ngoại trừ ơn cứu độ. Ngài có thể có các danh dự, nhận các Bí tích, hát alléluia, lặp lại amen, ngài có th có Tin Mừng, giảng dạy Đức Tin nhân danh Cha và Con và Thánh Thần; nhưng ngài không thể tìm thấy ơn cứu độ bất cứ một nơi nào khác ngoài Hội Thánh Công Giáo”.[12]

Mặt khác, Thánh Augustin cũng đã từng khẳng định: có những người trong” Giáo Hội, song trên thực tế lại “ở ngoài” Giáo Hội; và có những người “ở ngoài” Giáo Hội song lại “ở trong” Giáo Hội. Nhận định này cho phép nhiều người nghĩ rằng, một số người xa rời Giáo Hội vẫn có cơ may sống trong con đường cứu độ của Thiên Chúa. Theo F.A Sullivan, “cách phân biệt này dựa trên sự tiền định (prescience) của Thiên Chúa”; tức là chỉ một mình Thiên Chúa biết được, trong số những người lạc giáo, ai sẽ trở về với Giáo Hội, và từ đó tìm lại được ơn cứu độ.

Còn đối với những người Do Thái và người ngoại đạo sau biến cố Đức Giêsu Kitô, Thánh Augustin xác tín rằng, nếu họ không tin vào Đức Kitô và nhận lãnh Phép Rửa, thì ơn cứu độ không dành cho họ. Một khi Tin Mừng được rao giảng và Giáo Hội được thiết lập, những người này sẽ chịu trách nhiệm về tội lỗi của mình vì đã không vào trong Giáo Hội, nơi có ơn cứu độ: “Thiên Chúa muốn cho tất cả mọi người được giải thoát và đạt tới sự hiểu biết chân lý (1Tm 2,4), nhưng không tước đoạt ý chí tự do của họ [...]. Những người không tin đã hành động chng lại thánh ý của Thiên Chúa khi từ chối tin vào sứ điệp của Tin Mừng [...]. Họ phải cảm nhận, trong sự đau khổ, sức mạnh của Đấng mà họ đã khinh thường lòng thương xót và ân huệ”.[13]

Có một điểm khác gây tranh cãi trong tư tưởng của Thánh Augustin, đó là thánh nhân biết chắc chắn ở Phi Châu, có những bộ lạc chưa bao giờ được nghe loan báo Tin Mừng. Thế mà thánh nhân khẳng định những người này vẫn bị loại trừ khỏi ơn cứu độ. Thánh nhân đưa ra hai giải thích:

- Thứ nhất, nếu như Thiên Chúa từ chối ơn cứu độ của một số người, đó là vì họ không xứng đáng: Thiên Chúa tiên liệu họ sẽ bị từ chối hồng ân này.

- Thứ hai, được giải thích trong bối cảnh có cuộc tranh cãi với nhóm Pelagio: tính cách phổ quát của tội tổ tông và hậu quả của nó là đủ để Thiên Chúa kết án những trẻ nhỏ chết mà không được lãnh nhận Phép Rửa Tội và những người lớn chết mà không biết tới Đức Tin Kitô giáo. Thánh nhân đã đi đến kết luận rằng, tất cả hậu duệ của Adam giống như một massadamnata, chỉ được cứu độ nhờ vào lòng thương xót của Thiên Chúa bằng cách nhận lãnh Đức Tin và Phép Rửa Kitô giáo. Theo thánh nhân, ý định cứu độ của Thiên Chúa không phổ quát; nó chỉ được dành sẵn cho những ai mà Thiên Chúa hoàn toàn tự do tiền định từ trước.[14]

J.P. Theisen đã đi đến kết luận như sau: “Trong khi Thánh Augustin thừa nhận hiệu-lực của Phép Rửa bên ngoài Giáo Hội, ngài nhấn mạnh đến sự cần thiết của Giáo Hội cho việc cu độ con người. Việc kết hợp với Giáo Hội được nhìn nhận một cách cứng nhắc; đây là điều bắt buộc đ nhận lãnh Thánh Thần và đời sống vĩnh hằng”.[15]

Prosper thành Aquitaine, một đệ tử trung thành của Augustin, trong khi theo chân thầy mình, vẫn khẳng định điều kiện tiên quyết của ân sủng và tự do của Thiên Chúa trong việc cứu chuộc con người, đã khẳng định ngược lại quan điểm của Thánh Augustin. Theo Prosper, Thiên Chúa muôn cứu độ tất cả mọi người. Trong cuốn sách Lappel de loutes les nations (Lời mời gọi tất cả các dân tộc), Prosper đã khai trừ tư tưởng của Thánh Augustin bằng cách nhấn mạnh rằng, Đức Kitô đã chết không phải chỉ cho những người tin, nhưng cho tất cả mọi người, kể cả những người không tin và những người tội lỗi.[16] Liên quan tới những người chưa có dịp nghe Tin Mừng, Prosper có giải pháp thế này: khi họ chưa nhận được ân sủng “đặc biệt” để nghe Tin Mừng, một ân sủng mà Thiên Chúa hoàn toàn tự do ban phát cho những ai Ngài tuyển chọn, họ vẫn nhận được một trợ lực chung”, một trợ lực dành cho tất cả mọi người, ngay cả những người sống trước biến cố Đức Kitô, nhờ đó mà xem ra họ có thể được cứu độ. “Chúng ta không có quyền nghi ngờ rng, trong sự phán xét bí nhiệm của Thiên Chúa, một thời gian kêu mời được ấn định cho họ, để có một lúc nào đó họ nghe và đón nhận Tin Mừng, dù rằng lúc này vẫn chưa biết. Họ luôn nhận được một sự giúp đỡ phổ quát mà Trời Cao ban phát cho tất c mọi người”.[17] Như vậy, Prosper đã giảm nhẹ quan niệm cứng rắn của Augustin liên quan đến ơn cứa độ dành cho những người chưa nghe và chưa đón nhận ánh sáng Tin Mừng.

Trái lại, Fulgence de Ruspe (468-533), một đệ tử khác của Augustin, đồng thời là Giám mục Bắc Phi giống như Augustin, đã theo sát từng chữ của thầy mình. Trong cuốn De la vérité de la prédestination (V chân lý tiền định), ngài viết: “Nếu thánh ý phổ quát của Thiên Chúa là cứu độ tất cả mọi người và mọi người đạt tới sự hiểu biết về chân lý này, thì tại sao Chân lý lại phải che giấu như là một mầu nhiệm đối với một s người? Chắc chắn là, đối với những ai đã bị từ chối sự hiểu biết chân lý, thì cũng bị từ chối ơn cứu độ. Như vậy, Ngài đã muốn cu độ những ai Ngài ban phát cho sự hiểu biết về mầu nhiệm cứu độ, và Ngài không muốn cứu những ai Ngài đã từ chối sự hiểu biết về mầu nhiệm này. Nếu Ngài muốn cứu độ những người này hay người kia, thì Ngài cũng đã ban cho họ sự hiểu biết về chân lý”.[18]

Chính vì thế, chúng ta không ngạc nhiên khi tìm thấy nơi Fulgence châm ngôn “ngoài Giáo Hội không có ơn cứu độ” được áp dụng một cách triệt để cho cả dân ngoại và người Do Thái, cũng như cho những người lạc giáo và ly giáo. Công Đồng Florence (1442) vào chín thế kỷ sau đã trưng dẫn một cách rõ ràng quan diêm của Fulgence. Đề cập tới những người lạc giáo và ly giáo, Fulgence viết: “Hãy có một xác tín tuyệt đối và đừng ghi ngờ rằng, những người chịu Phép Rửa ngoài Giáo Hội CôngGiáo không thể đạt tới sự sống vĩnh cửu, nếu trước khi lìa đời, họ không tr về với Giáo Hội Công Giáo và trở thành một thành viên trọn vẹn. Bởi vì thánh tông đồ đã nói: “Nếu tôi có Đức Tin toàn diện, nếu tôi có sự hiểu biết về tất cả các mầu nhiệm, mà tôi thiếu Đức Ái thì tôi không là gì hết (1Cr 13,2). Và chúng ta cũng đọc thấy rằng, vào thời Đại Hồng Thủy, không ai được cứu thoát ngoài con thuyền”.[19]

Rồi, gộp cả những người Do Thái và dân ngoại, Fulgence thêm rằng: “Hãy có xác tín tuyệt đi và không được nghi ngờ rằng, không chỉ dân ngoại mà thôi, nhưng cả dân Do Thái và tất cả những người lạc giáo và dị giáo chết bên ngoài Giáo Hội Công Giáo sẽ đi vào ngọn lửa đi đi đã đưc dành sn cho quỷ dữ và các thiên thần của chúng nó”.[20]

3. Huấn quyền của Giáo Hội: các Đức Giáo Hoàng và các Công Đồng

Thánh Cyprien và Fulgence de Ruspe là hai người chủ xướng châm ngôn “ngoài Giáo Hội không có ơn cứu độ”. Sau này, các bản văn của Giáo Hội liên quan đến vấn đề cứu rỗi trong Giáo Hội cũng trích dẫn nguồn từ họ. Có bốn bản văn cần chú ý: hai tuyên bố của hai vị Giáo Hoàng và hai đến từ các Công Đồng của Giáo Hội.

a. Thư Giáo Hoàng Innocent III gửi Tổng Giám mục Tarragone

Tài liệu thứ nhất là bức thư của Giáo Hoàng Innocent III gửi Tổng Giám mục Tarragone (ngày 18 tháng 12 năm 1208). Bức thư này hàm chứa một bản tuyên ngôn Đức Tin bắt buộc đối với Drand de Huesca, khi ông này rời giáo phái Vodois để quay về với Giáo Hội Roma. Bản tuyên xưng Đức Tin này gồm những điểm tranh cãi mà giáo phái Vodois không đồng tình với Giáo Hội Roma. Ta tìm thấy trong những điểm đó điều cần thiết phải thuộc về Giáo Hội để đạt tới ơn cứu độ: “Chúng tôi tin từ trái tim mình và tuyên xưng từ mệng của chúng tôi rằng: ch có một Giáo Hội, chứ không phải Giáo Hội của những người lạc giáo, nhưng là Thánh Giáo Hội Roma, Công Giáo, Tông Truyền; ngoài Giáo Hội này, chúng tôi tin rng không có người nào được cứu độ”.[21]

b. Công Đồng Latran thứ IV (1215)

Tài liệu thứ hai là bản văn của Công Đồng Latran thứ IV (1215). Công Đồng chung này chủ yếu nhắm vào việc chống lại trào lưu thiêng liêng và chống Giáo Hội, một trào lưu có quan niệm đơn giản hóa Giáo Hội như là tập hợp những người tin (congregatio fidelium), họ khước từ bản tính nhập thể và vai trò trung gian của Giáo Hội, qua đó chối từ cấu trúc hữu hình và chiều kích Bí tích của Giáo Hội. Vì thế, trong phần định nghĩa chống lại những người Albi và giáo phái Cathares, Công Đồng đã đưa vào bản tuyên xưng Đức Tin vào một cộng đoàn hữu hình, Bí tích và Thánh Thể, “ngoài cộng đoàn này, nhất định không có ai được cứu chuộc”: “Ch có một Giáo Hội phổ quát của các tín hữu, ngoài Giáo Hội này, không ai được cứu độ, và trong Giáo Hội này, Đức Kitô vừa là linh mục vừa là hy lễ, chính mình và máu của Ngài, trong hy lễ trên bàn thờ, được biết dưới hình thức bánh và rượu, bánh trở nên Thân Thể Ngài và rượu trở nên Máu Ngài, nhờ sức mạnh của Thiên Chúa; để kiện toàn mầu nhiệm hiệp nhất, chúng ta nhận từ Ngài những gì màNgài nhậntừ chúng ta.[22] Như vậy, điềuđáng chúý nhất của bản văn là mầu nhiệm hiệp nhất trongGiáo HộiđượcthểhiệnquaBítíchThánhThể,trong khi đó vấn đề ơn cứu độ ở bên ngoài Giáo Hội xem ra như một đề nghị thứ yếu.

c. Sắc chỉ “Unam Sanctam” của Đức Giáo Hoàng Boniface VIII

Bản văn thứ ba, một bản văn có giá trị nhất trong lịch sử liên quan đến châm ngôn “ngoài Giáo Hội không có ơn cứu độ”, đó là Sắc chỉUnam Sanctam của Đức Giáo Hoàng Boniface VIII (ngày18tháng11năm1302). Bản văn này ra đời vào giai đoạn có hai loại quyền lực xung đột nhau: thế quyền vàthần quyền. Vì thế, tương quan giữa hai quyền lực này là trọng tâm của tư tưởng Giáo Hội thời đó. Bản văn nhìn nhận sự hiện diện của “hai lưỡi gươm” (thế quyn và thn quyn), nhưng lý tưởng nhất vẫn là sự hiệp nhất của hai quyền lực này. Bản văn cũng xác nhận thế quyền chịu sự lãnh đạo của thần quyền, nghĩa là thế quyền nằm dưới quyền kiểm soát của Đức Giáo Hoàng. Chính trong bối cảnh này mà bản văn khẳng định sự cần thiết phải thuộc về Giáo Hội để đạt tới ơn cứu độ. Phần chính yếu của Sắc chỉ như sau:

“Đức Tin bắt buộc chúng ta tin và ở trong một Giáo Hội Công Giáo, Thánh Thiện và Tông Truyền. Chúng ta tin điều này một cách chc chắn và chúng ta tuyên xưng một cách đơn giản rằng, ngoài Giáo Hội không có ơn cứu độ, cũng chẳng có phép tha tội (...); Giáo Hội đại diện duy nhất thân thể nhiệm mầu của Đức Kitô: thân thể mà Đức Kitô là đầu, Thiên Chúa chính là Đức Kitô. Trong Giáo Hội, ch có “một Chúa, một Đức Tin và một Phép Rửa” (Eph 4,5). Thời đại hồng thủy chỉ có một con thuyền duy nhất của Nô-ê là biểu tượng của Giáo Hội duy nhất; được hoàn thành, con thuyền ch có một người lái duy nhất, đó là Nô-ê, và ngoài con thuyền này, như chúng ta biết, tất cả những gì sống trên trái đất đều bị phá hủy (...).[23]

Đó là lý do vì sao Giáo Hội này là một và duy nhất chỉ có một thân thể, một đầu, chứ không phải hai đầu như con quỷ; cầm đầu Giáo Hội là Đức Kitô và đại diện Đức Kitô là Phêrô và các người kế vị Phêrô; vì chính Chúa đã nói với Phêrô: “Hãy chăn dắt đàn chiên của Thầy” (Ga 21, 17). Chúa nói “của” Ngài một cách tổng quát, chứ không nói phần này hay phần kia; do vậy, chúng ta hiểu rằng, tất cả được trao phó cho Phêrô và các người kế vị của ngài. Nếu những người Hy Lạp hay những người khác nói rằng họ không được trao phó cho Phêrô và các Đấng kế vị Phêrô. Họ phải biết rằng, họ không thuộc đàn chiên của Đức Kitô, vì Chúa đã nói trong Gioan: “Ch có một chuồng chiên và một chủ chăn” (Ga 10, 16) (...).[24]

Vì vậy, chúng tôi tuyên bố và xác định rằng,“điều tối cần thiết cho ơn cứu độ đối với tất cả mọi người là tuân phục Giáo Hoàng Roma”.[25]

Kết luận của sắc chỉ là một tuyên bố tín điều: sự tuân phục Đức Giáo Hoàng Roma là cần thiết để đạt tới ơn cứu độ. Sắc chỉ này được xem như là một bản văn tín lý và có tính cách bắt buộc. Tuy nhiên, phải hiểu bản văn ra đời trong bối cảnh về mặt pháp lý, người ta đề cao vai trò của của Giáo Hoàng. Về mặt tích cực, Sắc chỉ khẳng định rõ ràng tính hợp nhất và sự cần thiết của Giáo Hội cho ơn cứu độ, nguồn gốc thần linh của Giáo Hội cũng như cơ sở của quyền bính Giáo Hoàng Roma. Về giá trị tín lý của Sắc chỉ luôn mở cho mọi diễn giải khác nhau. F.A. Sullivan kết luận: “Chúng ta có thể nói rằng, ngày hôm nay, không một thần học gia Công Giáo nào có thể đồng ý với lý thuyết của Boniface, khi cho rằng, thần quyền vưt trên thế quyền là một tín điều Công Giáo. Tuy nhiên, ta có thể yên tâm khẳng định rằng, nếu Sắc chỉ có định nghĩa một cái gì đó thì chính là một giáo lý truyền thống; theo đó, không có ơn cứu độ bên ngoài Giáo Hội Công Giáo”.[26]

d. Công Đồng Florence

Tài liệu thứ tư là bản tuyên bố của Công Đồng thành Florence (ngày 4 tháng 2 năm 1442). Công Đồng này, dưới sự hướng dẫn của Đức Giáo Hoàng Eugène IV, muốn hiệp nhất các Giáo Hội Đông Phương, bao gồm các Giáo Hội Armenia, Hy Lạp và Copte ở Ai Cập với Roma. Bản tuyên bố thực chất là một Sắc chỉ được Giáo Hoàng Eugène IV chuẩn bị trước. Bản văn này là một bản tóm lược Đức Tin Kitô giáo, qua đó nói lên sự cần thiết của Giáo Hội để đạt tới ơn cứu độ. Bản văn này vay mượn gần như nguyên bản cuốn Luận về Đức Tin của Fulgence de Ruspe mà chúng ta đã có dịp đề cập tới. Bản văn trình bày trật tự của sự cứu độ như sau: Đức Giêsu Kitô là mặc khải trọn vẹn của Thiên Chúa; sứ vụ của Ngài được ủy thác cho Giáo Hội; vì thế, xa rời Giáo Hội là xa rời Đức Kitô, nên thiếu ơn cứu độ.Đây là bản văn chính thức đầu tiên của Giáo Hội; trong đó, ngoài những người lạc giáo và ly giáo, cả những người Do Thái và dân ngoại cũng được đề cập tới, liên quan đến châm ngôn “ngoài Giáo Hội không có ơn cứu độ”. Do bối cảnh đặc thù, Công Đồng tái khẳng định châm ngôn này:

“(Hội Thánh Công Giáo Roma) tin cách chc chắn, tuyên xưng và rao giảng rằng, bất kỳ ai ở ngoài Giáo Hội Công Giáo, không chỉ là dân ngoại, nhưng cả người Do Thái hay lạc giáo và ly giáo đều không được tham dự vào đời sống vĩnh hằng, nhưng đi vào lửa đời đời được chuẩn bị từ trước cho quỷ dữ và các thiên thần của chúng (Mt 25, 41), nếu như trước khi chết họ không trở lại đoàn tụ với Giáo Hội; Giáo Hội cũng tuyên xưng rằng, sự hiệp nhất thân thể của Giáo Hội có một quyền bính, các bí tích của Giáo Hội chỉ được dùng cho phần rỗi của những ai ở trong Giáo Hội, và chỉ cho họ mà việc ăn chay, bố thí và các việc đạo đức khác được thực hiện trong lòng Giáo Hội sinh hoa kết quả là sự sống đời đời, và không một ai được cứu rỗi dù những việc bố thí của họ ln lao đến chừng nào, ngay cả khi họ đổ máu mình ra vì Đức Kitô, nếu như họ không trong lòng Giáo Hội và trong sự hiệp nhất với Giáo Hội Công Giáo”.[27]

Vấn đề đặt ra là có phải Đức Giáo Hoàng và Công Đồng nhắm vào dân ngoại và những người chưa bao giờ được nghe Tin Mừng hay không? Để trả lời câu hỏi này, chúng ta cùng đọc nhận định của F. A. Sullivan:

“Chúng ta có lý do để đọc Sắc lệnh này dưới ánh sáng của niềm tin chung thời đó rằng: dân ngoại, người Do Thái, người lạc giáo và ly giáo là những người phạm tội thất trung, vì đã có ý chối từ chấp nhận Đức Tin thật. Sc lệnh này ch được hiểu dưới ánh sáng của những phán xét liên quan đến tội trạng của những người đã bị kết án xứng đáng xuống hỏa ngục.

(...) Chắc chắn các Giám mục của Công Đồng Florence tin rằng, Thiên Chúa là Đấng tốt lành, vì là Đấng tt lành nên Ngài công chính, và một Thiên Chúa công chính không thể kết án những người vô tội vào la hỏa ngục. Một kết luận không thể chối cãi, đó là họ phải tin rằng: dân ngoại, người Do Thái, người lạc giáo và người ly giáo là những người phạm tội và họ xứng đáng chịu luận phạt đời đời”.[28]

II. CHÚ GIẢI CHÂM NGÔN

Vấn đề diễn giải châm ngôn “ngoài Giáo Hội không có ơn cứu độ” đã gặp phải và tiếp tục gặp nhiều trắc trở. Có hai câu hỏi cần phải phân biệt rõ ràng. Câu hỏi thứ nhất được đặt ra là tại sao, về mặt lịch sử, các Giáo Phụ đã đi đến một thái độ cứng rắn, và các ngài tiếp tục bênh đỡ với một xác tín mãnh liệt về sự cần thiết của Giáo Hội để đạt tới ơn cứu độ; và tại sao các tài liệu chính thức của Giáo Hội, dù còn có một số nghi ngờ về tính chính xác của các giá trị tín lý, đã đưa các phán quyết này vào trong các bản văn? Câu hỏi thứ hai là, sau khi suy nghĩ và có thời gian để soi xét, đâu là ý nghĩa của tín điều cho chúng ta hôm nay?

1. Chú giải châm ngôn trong bối cảnh lịch sử

Câu hỏi mang tính lịch sử rất phức tạp và hiện ra với nhiều chiều kích khác nhau. Một trong những câu hỏi đó là sự kết án một cách phổ quát, không chỉ những người lạc giáo hoặc ly giáo, nhưng cả người Do Thái và dân ngoại. Đối với những người cố tình lìa xa Giáo Hội, hoặc ly giáo hay giáo phái, thì chính lỗi lầm trầm trọng của họ đã khai trừ họ khỏi ơn cứu độ. Điều này được xem như hiển nhiên vào thời đó; Bởi vì, tình trạng xa lìa Giáo Hội, trong mọi trường họp là một sự xúc phạm nặng nề vô phương cứu chữa. Biểu tượng Giáo Hội như “conthuyền cứu độ”, mà con thuyền của Nô-ê là biểu tượng đã thêm vào xác tín này. Trường hợp của người Do Thái và dân ngoại đòi hỏi những giải thích khác.

Tân ước nhiều lần đề cập tới phần đông dân Do Thái thời đó không chấp nhận sứ điệp của Tin Mừng. Trong thư gửi tín hữu Roma, Thánh Phaolô đã nhiều lần tranh cãi về vấn đề dân của ngài từ chối sứ điệp, và chỉ có một “số ít” đón nhận Đức Tin vào Chúa Giêsu mà ngài rao giảng. Thánh Phaolô xác tín rằng: “ân sng và lời mời gọi của Thiên Chúa thì không hề thay đổi” (Rm 11,29), dân Israel luôn là dân tộc “nghĩa tử, vinh quang, giao ước, luật, thờ tự, lời hứa” (Rm 9,4). Với câu hỏi: “Thiên Chúa có ruồng bỏ dân Ngài không?”, thánh nhân trả lời “dt khoát là không” (Rm 11,1). Ngài phải đối diện với sự cứng đầu khắp Israel. Giải pháp mà ngài đề nghị như sau: khi thời gian dành cho dân ngoại bắt đầu (Rm 11,13-24) mà dân tộc Israel vẫn đứng ngoài (Rm 11,15), dân tộc cứng lòng tin vẫn có thể từ bỏ thái độ cứng tin và tiếp tục được ghép mới vào cây Ôliu (Rm 11,23). Trong tất cả mọi trường hợp, sự cứng lòng của Israel không kéo dài mãi mãi, vào thời sau hết, tất cả dân tộc Israel sẽ được cứu độ (Rm 11,25-33).

Giải pháp hơi thất vọng của Thánh Phaolô, được khẳng định qua thái độ từ chối triền miên của Israel, đã đưa đến thái độ cứng rắn của Giáo Hội sau này. Ngoài ra, khoa chú giải Thánh Kinh gần đây cũng chỉ ra những dấu vết của thái độ bài Do Thái đã tiềm ẩn trong các sách Tin Mừng; ví dụ như Tin Mừng theo Thánh Matthew và Gioan. Những dấu vết này đã dẫn đến lý thuyết về “dân tộc giết Chúa”, một giả thuyết được lưu truyền nhiều thế kỷ và cuối cùng đã bị Công Đồng chung Vatican II chính thức bãi bỏ.

Ngoài Do Thái giáo, Kitô giáo cũng tiếp cận với thế giới Hy Lạp và tôn giáo của hoàng đế Roma. Một mặt, chúng ta thấy các Giáo phụ thuộc thế hệ đầu tiên rất cởi mở với dân ngoại. Các ngài xem nơi dân ngoại có “hạt giống Ngôi Lời”, hay “giao ước” giữa Thiên Chúa với Triết học Hy Lạp để chuẩn bị cho Tin Mừng.Nhưng chỉ một ít lâu sau đó, các Giáo phụ cho rằng, một khi ánh sáng tròn đầy đến từ Đức Kitô thì con đường duy nhất dẫn tới ơn cứu độ là tiếp nhận ánh sáng này: “Đức Kitô đã mang tới tất cả sự mới mẻ bằng cách đến với tất cả con người của Ngài” (Irénée). Và chấp nhận Đức Tin Kitô giáo đồng nghĩa với việc gia nhập Giáo Hội.

Trên mặt trận với người Roma, phải lưu ý đến cuộc chiến kịch liệt giữa tôn giáo của hoàng đế Roma và Kitô giáo, một cuộc chống đối dẫn đến sự bách hại khốc liệt các Kitô hữu. Tình trạng này kéo dài cho tới lúc hoàng đế Constantino trở lại đạo và hoàng đế Théodose Đệ Nhất nhìn nhận Kitô giáo là quốc giáo, về mặt lịch sử, hoàn cảnh này giải thích một phần thái độ cứng rắn kéo dài tới thế kỷ thứ IV.

Gió đổi chiều sau biến cố hoàng đế nhìn nhận Kitô giáo là quốc giáo. Biến cố này đã khơi mào cho việc bành trướng Kitô giáo một cách nhanh chóng trên lãnh thổ mà trong não trạng thời bấy giờ được xem là cả thế giới. Vì thế mà hình thành quan điểm Tin Mừng từ nay đã được loan báo khắp mọi nơi. Cũng không được quên rằng, nền tảng của quan niệm này có cơ sở từ chính trong Tin Mừng. Ở trong thư Rm 10,18, Thánh Phaolô khi trích dẫn Thánh Vịnh 19,5 đã xác nhận rõ ràng rằng, sứ điệp đã được loan báo khắp mọi nơi: “Nhưng tôi xin tự hỏi: phải chăng họ đã không được nghe giảng? Có chứ! Tiếng vang đã dội khắp hoàn cầu và thông điệp loan đi tới chân trời góc biển”. Và Luca, cuối sách Công Vụ Tông Đồ, đã cho chúng ta hay, ở Roma, Thánh Phaolô “rao giảng Nước Thiên Chúa và dạy về Chúa Giêsu Kitô, một cách mạnh dạn mà không hề gặp ngăn tr nào” (Cv 28,31). Qua đó, ngài thấy biểu tượng Tin Mừng đã chiếm lĩnh toàn thế giới. Trong bối cảnh này, ta dễ dàng hiểu được tại sao khi Kitô giáo được truyền bá trong thế giới mà họ tưởng là tất cả địa cầu thời bấy giờ, xác tín này càng thêm mạnh mẽ.

Chúng ta cũng có dịp quan sát rằng, vấn nạn đã được Prosper thành Aquitaine, một môn đệ của Augustin đề cập tới. Theo ngài, có nhiều quốc gia chưa bao giờ được nghe loan báo Tin Mừng.Chính lý luận này làm thay đổi quan niệm của ngài so với thái độ cứng nhắc của Augustin về khả năng cứu độ cho dân ngoại. Đáng tiếc là sau đó, quan niệm nghiêm khắc của Fulgence de Ruspe đã được đề cao.

Vào thế kỷ thứ VII, Kitô giáo giáp mặt với Hồi giáo. Một lịch sử căng thẳng xảy ra ngay từ khi hai tôn giáo mới tiếp cận nhau. Hồi giáo xuất hiện như một tôn giáo mang một Đức Tin mới, cùng với nhiệt huyết và cả cuồng tín thúc đẩy họ muốn chiếm lĩnh cả thế giới. Dù tôn giáo này cũng có gốc rễ từ niềm tin của Abraham, nhưng đối với người Kitô hữu thời bấy giờ, đó là một dị giáo của Kitô giáo, vì trong kinh Coran, dù Đức Giêsu được nhìn nhận như một vị ngôn sứ lớn, lớn hơn cả Mosê, nhưng Ngài lại đứng sau Mohammed; ngoài ra, mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi cũng như mầu nhiệm Nhập Thể bị họ từ chối, ít nhất là theo sự hiểu biết sai lạc của Mohammed. Rồi các biến cố lịch sử đau thương diễn ra. Hồi giáo bắt đầu xâm lược và thống lĩnh Kitô giáo Đông Phương, rồi từ đó đe dọa toàn thể thế giới Kitô giáo. Vào cuối thế kỷ thứ XI, thánh chiến bắt đầu gửi người Kitô hữu sang Đất Thánh đế giải phóng họ khỏi sự thống trị của Hồi giáo. Trong bối cảnh như thế, ta hiểu được tại sao Hồi giáo cũng bị Kitô giáo kết án như người Do Thái liên quan đến vấn đề cứu độ. Dù không được đề cập tới trong các bản văn chính thức của Giáo Hội ở trên đây, chúng ta biết chắc rằng, họ cũng bị liệt vào số những người lạc đạo.

2. Ý nghĩa của châm ngôn hôm nay

50 năm sau Công Đồng Florence (1442), người ta đã khám phá ra một thế giới mới (1492). Khi khám phá thế giới mới này, châm ngôn “ngoài Giáo Hội không có ơn cứu độ” không thể tiếp tục được khẳng định, vì có hàng hà sa số người chưa bao giờ nghe nói đến Tin Mừng. Châm ngôn cần được xem xét lại. Làm sao giải thích được cho con người ngày hôm nay về vấn đề ngoài Giáo Hội không có ơn cứu độ, trước viễn cảnh có hàng tỉ người, thậm chí phần lớn nhân loại chưa nhận được sứ điệp Tin Mừng, họ đang sống bên ngoài biên cương của Giáo Hội hữu hình?

- Hang Kung đề nghị: thay vì viết, “ngoài Giáo Hội không có ơn cứu đ, nên chuyển đổi cách viết sang dạng tích cực: “Trong Giáo Hội có ơn cứu độ”.[29]

- Yves Congar cho rằng, trong châm ngôn này hàm chứa những chân lý của Thánh Kinh:[30]

+ 1/. Giáo Hội là một cơ cấu duy nhất được Thiên Chúa tạo ra và ủy thác cho việc mang đến cho con người sự cứu rỗi trong Đức Giêsu Kitô;

+ 2/. Giáo Hội nhận được từ đấng sáng lập và từ Thiên Chúa tất cả những gì cần thiết để đem phần rỗi đến cho tất cả nhân loại.

Vì châm ngôn đã hình thành, nên không thể đọc và hiểu châm ngôn một cách máy móc. Để hiểu một cách chính xác châm ngôn, đòi hỏi một quá trình giải thích tường tận. Theo Y. Congar, “không nên áp dụng châm ngôn cho bất kỳ ai (...). Châm ngôn phải được xem như một câu trả lời, không phải cho câu hỏi: Ai được cứu độ?, nhưng là câu hỏi này: Ai được ủy thác để thi hành sứ vụ cứu độ?.[31]

Về phần chúng ta, chúng ta tiếp nhận giá trị của châm ngôn dưới dạng tích cực qua các khắng định của Công Đồng Vatican II. Theo Công Đồng, Giáo Hội “cần thiết cho sự cứu độ”,[32] hay Giáo Hội là “công cụ cứu độ cho tất cả mọi người”,[33]“dấu chỉ và là phương tiện nối kết mật thiết với Thiên Chúa và liên kết con người với nhau”.[34]

III. NHỮNG THÁI ĐỘ TÍCH CỰC VỚI CÁC TÔN GIÁO KHÁC

Trong thời kỳ châm ngôn “ngoài Giáo Hội không có ơn cứu độ” tìm được chỗ đứng trong các bản văn chính thức của Giáo Hội, cũng có nhiều động thái tích cực hướng về các tôn giáo khác. Trong bối cảnh thời đó, các bản văn sau đây chủ yếu nhắm tới người Do Thái và Hồi giáo.

Tài liệu đầu tiên là bức thư của Đức Giáo Hoàng Grégoire VII (1076) gửi nhà vua Hồi giáo Anzir de Mauritanie. Đức Giáo Hoàng cám ơn nhà vua về quà tặng nhà vua dâng hiến, cũng như việc nhà vua giải phóng cho một số tù nhân, đồng thời hứa thả các tù nhân khác. Đức Giáo Hoàng cũng gửi một phái đoàn đại diện tới nhà vua như là bảo chứng cho mối bang giao thân thiện của người Kitô giáo. Điều đặc biệt là bức thư mà trong đó Đức Giáo Hoàng giải thích rằng, người Kitô hữu và người Hồi giáo tôn thờ cùng một Thiên Chúa:

“Thiên Chúa, Đấng tạo thành mọi sự, không có Ngài chúng ta không thể làm hoặc suy nghĩ những gì tốt đẹp, đã khơi dậy hành động tốt đẹp này trong trái tim của nhà vua. Chính Ngài đã soi sáng mọi người khi đến trong thế gian (Ga 1,9), cũng đã soi sáng cho lý trí của nhà vua trong mục đích này; Thiên Chúa Quyền Năng muốn cứu độ tất cả mọi người (1Tm 2,4) và không muốn một ai phải hư mất; thật tuyệt vời để xác tín rằng, trong chúng ta, cao vời hơn tất cả mọi sự là tình yêu mang trong mình mọi người, chúng ta yêu mến nhau và không làm cho người khác nhng gì mà chúngta không muốn người khác làm cho mình (Mt 7,12). Cả nhà vua và chúng tôi đều có bổn phận làm gương cho các quốc gia khác qua hành động bác ái này, bởi vì chúng ta tin và tuyên xưng cùng một Thiên Chúa, dù qua cách thức khác nhau, và chúng ta ca ngi và tôn th Ngài hằng ngày như là Đấng Tạo Dựng của mọi thời và là vua của muôn loài. Như vị tông đồ đã nói: “Thật vậy, chính Người là sự bình an của chúng ta: người đã liên kết đôi bên thành một; Người đã phá v bức tường ngăn cách là sự thù ghét” (Eph 2,14). Những người quyền quý Roma, khi nghe chúng tôi thông tin về ân sng mà Thiên Chúa ban tặng cho nhà vua, đã thán phục và ca ngợi thiện tâm và đức tính của nhà vua (...). Thiên Chúa biết rõ chúng tôi yêu mến nhà vua, vì danh dự của nhà vua, và chúng tôi ước mong cho phần rỗi và vinh quang của nhà vua trên cõi đời này cùng như đi sau. Chúng tôi cầu nguyên t con tim và từ môi miệng của chúng tôi để Thiên Chúa dẫn nhà vua tới nơi cư ngụ của hạnh phúc, trong lòng tổ phụ Abraham, sau những năm dài sống trên cõi đời này”.[35]

Trong bối cảnh Giáo Hội bị xáo trộn vì sợ hãi thế giới Hồi Giáo, Thánh Phanxicô thành Assise (1182- 1226) là người ngay từ đầu đã chọn một giải pháp hòa bình trong tương quan với người Hồi giáo. Ngài mong ước thiết lập một tương quan bằng hữu với họ; đồng thời, ngài cho họ biết ngài xem họ như những người bạn chứ không phải là kẻ thù. Thái độ này của Thánh Phanxicô hình như đã khởi sự từ thời ngài bắt đầu “sám hối”. Tinh thần này đi vào trong tâm thức của ngài trước Công Đồng Latran (1215). Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Giáo Hội, một phương pháp tiếp cận với thế giới Hồi giáo được lập ra; một phương pháp hoàn toàn gợi hứng từ Tin Mừng. Đây cũng là lần đầu tiên, một chương dành cho việc loan báo Tin Mừng cho người Hồi giáo cũng như cách thức tiếp cận với họ được đưa vào trong “luật” của một Dòng tu. Tiếng nói của Thánh Phanxicô vang lên, kêu mời sự hiểu biết lẫn nhau cũng như sự hòa giải giữa người Kitô hữu và những người “anh em” Hồi giáo, đã trở thành một tiếng nói ngôn sứ và nó đã mang lại một hoa trái sau này; đặc biệt trong Công Đồng Vatican II.[36] Chương XVI của “bản luật đầu tiên” (Regula non bullata, 1221)- được viết trước Công Đồng, dựa theo các nhà phê bình[37] - viết như sau:

“Chương XVI: Về những người đi tới người Sarrasins và những người lương dân

1- Chúa nói: “Này Thầy sai anh em đi như chiên đi vào giữa bầy sói. 2- Vậy anh em phải khôn như rắn và đơn sơ như chim bồ câu” (Mt 10, 16). 3- Vì vậy, nếu một người anh em mun đi ti những người Sarrasins, anh được đi với phép của bề trên tổng quyền và người đặc trách.4- Ước gì bề trên tổng quyền cho phép và không chng đối, nếu ngài thấy họ xứng đáng để được gửi đi; vì bề trên phải chịu trách nhiệm trước mặt Thiên Chúa về việc này hoặc các việc khác, nếu ngài quyết định mà không suy xét. 5- Nhng anh em được sai đi có thể sống một cách thiêng liêng giữa họ bằng hai cách. 6- Cách thứnhất, là làm sao để không xảy ra tranh cãi, cũng như giao tranh, nhưng phục vụ mọi người vì Thiên Chúa và tuyên xưng mình là Kitô hữu. 7- Cách thứ hai, là một khi họ thấy đẹp lòng Thiên Chúa, thì loan báo Li Chúa, để những người lương dân tin vào Thiên Chúa toàn năng, Cha, và Con và Thánh Thần, Đấng tạo dựng mọi sự, và vào Chúa Con, Đấng cứu độ và chuộc tội, để họ được chịu phép rửa và trở thành Kitô hữu, bi ai không tái sinh bởi nước và Thánh Thần thì không thể vào nước Thiên Chúa (xem Ga 3,5).

(...). 10- Ước gì anh em, bất luận mình ở đâu, đều luôn nhớ rằng mình được dâng hiến và mình đã từ bỏ thân xác mình cho Chúa Giêsu Kitô. 11- Và vì tình yêu đối với Ngài, họ trực diện với kẻ thù, hữu hình cũng như vô hình, vì Chúa đã nói: “Ai liều mất mạng sống mình vì Ta thì sẽ cứu được nó cho sự sống muôn đời” (Mt 25, 46)”.[38]

Bản văn chi rõ lập trường của Thánh Phanxicô. Những người Hồi giáo và lương dân không phải là “kẻ thù của cây Thập Giá Đức Kitô”, nhưng là những người anh em và bạn hữu. ở chương XXII - được thêm vào sau Công Đồng Vatican II - Thánh Phanxicô tiếp tục viết:

1- Hi anh em, hãy coi trọng những li dạy của Chúa: “Hãy yêu kẻ thù và làm phúc cho những kẻ ghét anh em” (x. Mt 26, 50). 2- Vì Đức Giêsu Chúa chúng ta, Người mà chúng ta phải bắt chước (x. 1Pr 2,21), đã gọi những người phản bội Ngài là bạn hữu và tự trao ban cho những kẻ đóng đinh Ngài. 3- Họ là những người bạn của chúng ta, tất cả những ai, một cách bất công, làm cho chúng ta buồn sầu cay đắng, chán chường, đấu tố và chửi bới, đau khổ và tra tấn, tử đạo và chết chóc: 4- Chúng ta phải yêu mến họ nhiều, vì nhờ họ làm khổ mà chúng ta có sự sống đời đời (...).[39]

“Hãy gi lấy lời nói, đời sống, lời giảng dạy và thánh phúc âm của Đấng đã đoái thương cầu nguyện cùng Cha Ngài cho chúng ta và đã thương mặc khải Danh Ngài cho chúng ta (...)”.[40]

Trong tương quan với người Sarrasins, tinh thần theo Tin Mừng của Thánh Phanxicô xuất hiện như một bước canh tân lớn; vì những người cùng thời với ngài xem người Hồi giáo là những hổ thú xé nát đàn chiên của Đức Kitô. Đó cũng là lý do tại sao bản “luật đầu tiên” đã bị sửa đổi trong bản “luật thứ hai” (Regula bullata). Bản luật thứ hai được viết lại dưới sự điều khiển của Đức Hồng Y Ugolini và đã được Đức Giáo Hoàng Honorius III phê chuẩn (1223). Tác giả của bản luật mới không đồng quan điểm với Thánh Phanxicô về ý tưởng loan báo Tin Mừng cho người Hồi giáo, vì cho rằng đó là một việc làm ảo tưởng, nên đã quyết định loại bỏ nó.

IV. HƯỚNG VỀ MỘT ĐỨC TIN TIỀM ẨN TRONG ĐỨC KITÔ: THÁNH THOMAS AQUINAS

Khi khám phá ra một thế giới mới thì cũng là lúc các nhà thần học bắt buộc có một cái nhìn khác về vấn đề cứu độ. Thánh Thomas Aquinas là người đã khai phá một con đường thần học mới. Con đường này chú trọng đến vấn đề cứu độ trong Đức Kitô, không chỉ dành cho những kẻ sống trước biến cố Nhập Thể,mà cho cả những người sống sau biến cố này. Đương nhiên là ngài phân biệt rõ ràng hai vấn đề khác nhau.

Thánh Thomas Aquinas không bao giờ loại trừ một Đức Tin minh nhiên để được cứu độ. Đối với ngài, câu hỏi được đặt ra về vấn đề nội dung của Đức Tin này. Cũng như trong thư gửi tín hữu Hipri 11,6, Thánh Thomas cho rằng: “những người tiếp cận với Thiên Chúa phải tin rằng, Ngài hiện diện và ban phn thưng cho nhng ai tìm kiếm Ngài”. Ngài thêm vào: “tin một cách minh nhiên vào hai chân lý liên quan đến Thiên Chúa này rất cần thiết cho mọi người trong mọi thời đại”.[41] Điều này đủ cho những người sống trước biến cố nhập thể của Đức Giêsu; trong trường hợp này, một Đức Tin như thế có thể được xem là một cách tiền tham dự của Đức Tin vào Chúa Giêsu, vị Trung Gian duy nhất của ơn cứu độ dành cho tất cả mọi người. Liên quan đến những người sống trước Đức Giêsu Kitô, Thánh Thomas Aquinas viết: “Nếu một số người được cứu rỗi, dù không nhận được mặc khải, thì không phải là họ không có Đc Tin vào Đấng Trung Gian. Vì ngay cả khi họ không có một Đức Tin minh nhiên, thì họ cũng có một Đức Tin tiềm ẩn vào sự quan phòng của Thiên Chúa, khi tin rằng Thiên Chúa là Đấng giải thoát con người theo cách thức của Ngài”.[42]

Theo Thánh Thomas Aquinas, điều này cũng đúng sau biến cố Đức Giêsu, như trong trường hợp viên sĩ quan Corneille mà các hành động của ông, theo Công Vụ Tông Đồ, làm hài lòng Thiên Chúa trước khi Phêrô loan báo Đức Kitô cho ông (Cv 10,1-2): “Liên quan đến Corneille, ta phải biết rng, ông không phải là người ngoại đạo (...). Corneille đã có một Đức Tin tiềm ẩn, bởi vì ông chưa biết mặc khải chân lý của Tin Mừng. Vì thế, Phêrô được sai đến để dạy cho ông biết Đức Tin một cách trọn vẹn”.[43]

Corneille là một trường hợp ngoại lệ. Nếu như một Đức Tin tiềm ẩn vào Đức Kitô, trước khi Tin Mừng được loan báo, là đủ thì Thánh Thomas Aquinas lại cho rằng sau khi Tin Mừng được loan báo, cần phải có một Đức Tin minh nhiên vào các mầu nhiệm Kitô giáo. Tuy nhiên, làm sao để có một Đức Tin minh nhiên, nếu như những người sống sau biến cố nhập thể chưa được nghe loan báo Tin Mừng? Trong trường hợp này, Thánh Thomas Aquinas cũng như nhiều người khác trước ngài bảo vệ nguyên lý phổ quát của ơn cứu độ theo thánh ý của Thiên Chúa. Theo nguyên lý này, “những ai làm những gì trong phạm vi khả năng của mình, Thiên Chúa không từ chối ân sng của Ngài” (facienti quod in se est Deus non denegat gratiam). Hay nói cách khác, Thiên Chúa có cách thức của Ngài, để trong mọi hoàn cảnh, một Đức Tin tiềm ẩn có thể biến thành một Đức Tin minh nhiên qua sự soi sáng từ bên trong: “Sự biểu hiện của điều mà ta gọi là phải tin để được cứu rỗi được Thiên Chúa ban cho con người qua trung gian của người rao giảng, như trong trường hợp của Corneille, hoặc qua một mặc khải, để rồi người đó, trong phạm vi tự do của mình, có thể thực hiện một hành động của Đức Tin”.[44]

Thánh Thomas Aquinas còn nghĩ tới trường hợp những người sống trong sa mạc. Theo Thánh nhân, những người này vẫn được Thiên Chúa ban cho một mặc khải nào đó hoặc gửi một sứ giả đến, để rồi họ tin và được cứu rỗi: “Nếu một người nào đó lớn lên trong sa mạc hay giữa bầy thú hoang giã, nếu họ vẫn sống theo lương tâm tự nhiên là tìm kiếm điều lành và lánh xa điều dữ, thì chúng ta phải chắc chắn rằng, Thiên Chúa sẽ làm cho họ biết Ngài qua một mặc khải bên trong đề họ được tin, hoặc là Ngài sẽ gửi một người rao giảng tới như Ngài đã gửi Phêrô tới cho Corneille”.[45] “Nếu một người nào đó sinh ra trong một đất nước chưa được khai phá, làm những gì quod in se est, Thiên Chúa sẽ mặc khải những gì cần thiết cho ơn cứu độ, hoặc qua mặc khải thần linh, hoặc là qua trung gian một người thầy”.[46]

Như vậy, nơi Thánh Thomas Aquinas, một mặt cần phải có một Đức Tin minh nhiên mới được cứu độ, mặt khác Thiên Chúa luôn có cách thức của Ngài để làm cho những người sống ngay lành có điều kiện tiếp xúc với Ngài hoặc qua một mặc khải nào đó, hoặc là qua một trung gian, dù rằng những người này sống trong những vùng mà Tin Mừng chưa bao giờ được loan báo. Trong bộ Summa Theologiae, Thánh nhân còn phát triển lý thuyết “Rửa Tội bằng ước muốn”, một cách tiềm ẩn hoặc minh nhiên. Trường hợp thứ nhất là những người đã nghe loan báo Tin Mừng, muốn được Rửa Tội nhưng lại chết trước lúc Rửa Tội: “Người ta có thể không được Rửa Tội bằng nước, nhưng qua ước muốn; đó là trường hợp của những người mong ước được Rửa Tội, nhưng vì tai nạn bất ngờ, nên chết trước lúc được nhận Bí tích. Người này, ngay cả khi chưa nhận được Bí tích Rửa Tội, cũng được cu độ, vì đã ước mong được nhận lãnh Bí tích Rửa Tội, ước muốn này đến từ Đức Tin, “hoạt động qua đức ái”, và nhờ đó sức mạnh của Thiên Chúa không ch gắn liền với các Bí tích hữu hình, s thánh hóa con người từ bên trong”.[47]

Trường hợp thứ hai liên quan đến những người chưa bao giờ được nghe loan báo về Đức Kitô, nhưng chính sự khao khát sống hợp với thánh ý Thiên Chúa đem lại cho họ Đức Tin và Đức Ái. Việc sẵn lòng sống theo thánh ý Thiên Chúa hàm chứa một Đức Tin tiềm ẩn vào Đức Kitô và ước muốn nhận Bí tích Rửa Tội. “Người ta nhn được ơn tha tội ngay cả trước khi nhận Bí tích Rửa Tội, nếu họ có ước muốn được Rửa Tội một cách tiềm ẩn hoặc minh nhiên; tuy nhiên, nếu nhận Bí tích Rửa Tội một cách cụ thể sẽ mang lại một ơn tha thứ toàn diện hơn, theo nghĩa này, Bí tích Rửa Tội giải thoát khỏi mọi tội lỗi. Vì thế, ngay khi chưa được Rửa Tội, Corneille và những trường hợp tương tự cũng nhận được ân sủng và và hiệu năng qua Đức Tin vào Chúa Kitô, đồng thời nhận Bí tích Rửa Tội bằng ước muốn tim n hoặc minh nhiên; nhưng họ nhận được trong Bí tích Rửa Tội ân sng và hiệu năng lớn hơn”.[48]

Các nhà thần học sau đó đã phát triển học thuyết Rửa Tội qua ước muốn (votum baptismi) một cách tiềm ẩn này khi hoàn cảnh mới xuất hiện, nhất là khi khám phá ra một thế giới mới. Công Đồng Trento đã chấp nhận giáo lý này. Nó cũng trở thành một giáo lý chung cho ngày hôm nay.

 

 


[1] Lettre aux Philadelphiens 3,3; SC 10 bis, pp. 143.

[2] IRÉNÉE, Adv. Haer. III, 24,1; SC 211, pp. 473-475.

[3] ORIGÈNE, Homélies sur Josué 3,5; SC 71, pp. 143.

[4] ORIGÈNE, Homélie II sur le psaume 36; SC 411, pp. 97.

[5] CYPRIEN, Esprit. 4,4; CSEL 3,2, pp. 474-477.

[6] CYPRIEN, Esprit. Ad lubainum 73,21; SCEL 3,2, pp. 795.

[7] CYPRIEN, De Ecclesiae catholicae unitate 14; SCEL 3, pp. 259.

[8]Ibidem.

[9] F.A. SULLIVAN, Salvation outside the Church?, pp. 22-23.

[10] F.A. SULLIVAN, Salvation outside the Church?, pp. 24.

[11] AMBROISE, In Ps. 118, Sermo 8,57; PL 15, pp. 1318

[12] AUGUSTIN, Sermo ad Caesarensis Ecclesiae plebem 6; CSEL 53, pp. 174-175.

[13] AUGUSTIN, De Spiritu et littera 33,58; PL 44, pp. 238.

[14] F.A. SULLIVAN, Salvation outside the Church?, pp. 36-37.

[15] J.P. THEISEN, The Ultimate Church..., pp. 16.

[16] Prosper d’AQUITAIN, De vocatione omnium gentium 2,26; PI 51, pp. 702-703.

[17] Prosper d’AQUITAIN, De vocatione omnium gentium 2,26; PI 51, pp. 704.

[18] Fulgence de RUSPE, De veritate praedestinationis 3,16-18; PL 65, pp. 660-661.

[19] Fulgence de RUSPE, De fide ad Petrum 37;PL 65, pp. 703.

[20] Fulgence de RUSPE, De fide ad Petrum 37;PL 65, pp. 704.

[21] H. DENZINGER, Symboles et definitions de la foi catholique, éd. J. Hofmann, pp. 792.

[22]Ibid., 802.

[23]Ibid., 870.

[24]Ibid., 872.

[25]Ibid., 875.

[26]F.A. SULLIVAN, Salvation outside the Church?, tr. 66.

[27] H. DENZINGER, Symboles et definitions de la foi catholique, éd. J. Hofmann, 1351.

[28] F.A. SULLIVAN, Salvation outside the Church?, tr. 67-68.

[29] H. KUNG, LEglise, tr. 446.

[30] Y. CONGAR, “LEglise, sacrement universel du salut”, tr. 242-243.

[31] Y. CONGAR, Vaste monde ma paroisse, tr. 115.

[32]Công Đồng Vatican II, Hiến chế Lumen Gentium, về Giáo Hội, số 14.

[33]Ibid., số 48.

[34]Ibid., số 1.

[35] Epist. III, 21; PL 148, tr. 450-452.

[36]Công Đồng Vatican II, Tuyên ngôn Nostra Aetate, Các Tôn Giáo Ngoài Kitô Giáo, số 3.

[37] Xc. G.B. SANI, L’Islam e Francessco dAssisi. La missione profetica per il dialogo, tr. 92-100.

[38] Francois d’ASSISE, Ecrits; SC 285, tr. 151-153.

[39]Ibid., tr. 163.

[40]Ibid., tr. 167.

[41]St. THOMAS D’AQUIN, Summa Theologiae, II-II, q. 2, a. 8, ad. 1. Bản dịch tiếng Pháp: Thomas d’Aquin. Somme Théologique, Paris,Ed. Du Cerf, 1985, vol. III, p. 39.

[42]St. THOMAS D’AQUIN, Summa Theologiae, II-II, q. 2, a. 8, ad. 3. Bản dịch tiếng Pháp: Thomas d’Aquin. Somme Théologique, Paris,Ed. Du Cerf, 1985, vol. III, p. 39.

[43]St. THOMAS D’AQUIN, Summa Theologiae, II-II, q. 10, a. 4, ad. 3. Bản dịch tiếng Pháp: Thomas d’Aquin. Somme Théologique, Paris,Ed. Du Cerf, 1985, vol. III, p. 78-79.

[44] In III Sent., dist. XXV, q. 2, a. 1, sol. 1, ad.1um.

[45] Quaest. Disp. De Veritate, q. XIV, a. 11, ad.1um.

[46] In II Sent. Dist. XXVIII, q. 1,a. 4, ad. 4um.

[47]St. THOMAS D’AQUIN, Summa Theologiae, III, q. 68, a. 2; vol. IV (1986), p. 504.

[48]St. THOMAS D’AQUIN, Summa Theologiae, III, q. 69, a. 4, ad. 2; vol. IV, p. 517.

 

 

 

Catechesis.Net