Thông Điệp Caritas In Veritate (Bác Ái Trong Chân Lý) Của ĐGH Benedict XVI (Ngày 29-06-2009) – (2)

0
35


THÔNG ĐIỆP CARITAS IN VERITATE

(BÁC ÁI TRONG CHÂN LÝ)

CỦA ĐỨC GIÁO HOÀNG BENEDICT XVI

GỬI CÁC GIÁM MỤC, LINH MỤC VÀ PHÓ TẾ,

NHỮNG NGƯỜI ĐƯỢC THÁNH HIẾN,

CÁC TÍN HỮU GIÁO DÂN VÀ TẤT CẢ NHỮNG NGƯỜI THIỆN CHÍ

VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI TOÀN DIỆN TRONG BÁC ÁI VÀ CHÂN LÝ

NGÀY 29 THÁNG 06 NĂM 2009

***

Đức Giáo Hoàng Benedict XVI

***

CHƯƠNG IV

PHÁT TRIỂN CÁC DÂN TỘC – QUYỀN VÀ BỔN PHẬN MÔI SINH

 

43. “Tình liên đới nhân loại đem lại lợi ích cho chúng ta, đồng thời cũng là một bổn phận”.[1] Ngày nay nhiều người cho rằng họ không mắc nợ ai hết, ngoại trừ chính họ. Họ chỉ quan tâm đến quyền lợi của mình và khó lòng đảm nhận trách nhiệm về sự phát triển toàn diện của chính mình cũng như của người khác. Do đó, điều quan trọng là phải suy nghĩ lại về điều này: “quyền lợi giả thiết bổn phận, nếu không, nó sẽ trở thành sự buông thả thuần túy”.[2] Ngày nay chúng ta đang chứng kiến sự bất nhất trầm trọng. Một đàng, người ta đòi hỏi những quyền vốn không phải là thiết yếu nếu xét theo bản chất, đồng thời yêu cầu các cơ cấu xã hội phải nhìn nhận và cổ võ những quyền này. Đàng khác, những quyền sơ đẳng và căn bản nhất của con người vẫn không được nhìn nhận và vẫn bị vi phạm tại nhiều nơi trên thế giới.[3] Người ta ghi nhận có mối liên hệ giữa hai điều này: một bên là đòi hỏi “quyền thặng dư” kể cả quyền vi phạm và dung dưỡng thói xấu trong những xã hội giàu có, một bên là tình trạng thiếu thực phẩm, nước sạch, giáo dục căn bản và y tế tối thiểu trong những vùng kém phát triển trên thế giới cũng như tại những vành đai của những thành phố lớn. Mối liên hệ nằm ở chỗ này: một khi bị tách ra khỏi khuôn khổ những bổn phận là khuôn khổ đem lại ý nghĩa đầy đủ cho những quyền cá nhân, thì những quyền này trở thành hoang dã, dẫn đến chỗ gia tăng những đòi hỏi vô giới hạn và không phân biệt. Quá nhấn mạnh đến quyền lợi đưa đến chỗ coi thường bổn phận. Bổn phận đặt giới hạn cho quyền lợi vì bổn phận chỉ cho thấy khuôn khổ nhân học và đạo đức mà quyền lợi là một thành phần trong đó, bằng cách này bổn phận giúp cho quyền lợi không trở thành sự buông thả. Vì thế, bổn phận củng cố, bảo vệ và thăng tiến các quyền như một bổn phận phải thực hiện nhằm phục vụ ích chung. Đàng khác, nếu những quyền của con người chỉ được dựa trên nền tảng duy nhất là quyết định của một tập thể công dân, thì những quyền này có thể bị thay đổi bất cứ lúc nào, và như thế, bổn phận phải tôn trọng và theo đuổi những quyền này sẽ dần phai mờ trong ý thức chung của cộng đồng. Khi đó, các chính phủ và các cơ quan quốc tế có thể quên mất tính khách quan và “bất khả xâm phạm” của những quyền này. Khi điều đó xảy ra, sự phát triển đích thực của các dân tộc sẽ bị lâm nguy.[4] Cách suy nghĩ và hành động như thế làm suy giảm quyền bính của các cơ quan quốc tế, nhất là đối với những nước đang cần phát triển nhất. Thật vậy, những quốc gia này yêu cầu cộng đồng quốc tế có bổn phận giúp đỡ họ để họ “làm chủ vận mạng của mình”,[5] nghĩa là lãnh trách nhiệm về mình. “Sự chia sẻ bổn phận cách hỗ tương là sức đẩy mạnh mẽ cho hành động hơn là chỉ khẳng định suông về nhân quyền”.

44. Quan niệm về quyền và bổn phận trong phát triển cũng phải quan tâm đến những vấn đề liên quan đến tình trạng “gia tăng dân số”. Đây là khía cạnh rất quan trọng của sự phát triển đích thực vì nó liên quan đến những giá trị căn bản về sự sống và gia đình.[6] Thật sai lầm khi coi việc gia tăng dân số là nguyên nhân đầu tiên gây nên tình trạng kém phát triển, kể cả từ quan điểm kinh tế. Một đàng, chỉ cần xem xét sự giảm thiểu đáng kể số tử vong của trẻ sơ sinh và sự gia tăng tuổi thọ trong các nước phát triển về kinh tế, và đàng khác là những dấu hiệu khủng hoảng trong những xã hội đang sút giảm trầm trọng về tỷ lệ sinh sản. Đương nhiên là phải chú tâm đến việc sinh sản có trách nhiệm, vốn là một trong những yếu tố quan trọng của sự phát triển con người toàn diện. Vì quan tâm đến sự phát triển đích thực của con người, Giáo hội thúc giục con người phải tôn trọng đầy đủ những giá trị nhân bản trong hành động tính dục. Tính dục không thể bị giảm thiểu thành khoái lạc hay giải trí thuần túy, cũng thế giáo dục phái tính không thể chỉ là hướng dẫn về kỹ thuật với mục đích duy nhất là làm sao khỏi bị bệnh và tránh được “nguy cơ” thụ thai. Làm như thế là coi thường và nghèo nàn hóa ý nghĩa sâu xa của tính dục, vốn là ý nghĩa cần phải được nhìn nhận và thực hiện cách có trách nhiệm, không những đối với các cá nhân mà cả với cộng đồng. Thật là vô trách nhiệm nếu chỉ nhìn tính dục như nguồn khoái lạc thuần túy, cũng như điều chỉnh tính dục bằng những kế hoạch bắt buộc kiểm soát sinh sản. Trong cả hai trường hợp, những tư tưởng và chính sách duy vật thắng thế, cuối cùng các cá nhân trở thành nạn nhận của bạo lực dưới nhiều hình thức khác nhau. Để chống lại những chính sách đó, cần phải bảo vệ quyền căn bản của gia đình trong lãnh vực tính dục[7] đối với Nhà Nước và những chính sách mang tính áp đặt của Nhà Nước, đồng thời phải cung ứng cho các người làm cha mẹ nền giáo dục thích hợp.

Về mặt luân lý, “mở ra với sự sống trong tinh thần trách nhiệm là sự phong phú về mặt xã hội và kinh tế”. Các dân tộc đông người đã có thể thoát ra khỏi cảnh đói nghèo là nhờ dân số đông và tiềm năng của dân chúng. Ngược lại, những dân tộc đã từng có thời thịnh vượng nay đang trải qua giai đoạn nghiêng ngả và đôi khi suy thoái là vì tỷ lệ sinh sản giảm sút, và đây là vấn đề then chốt của những xã hội đã phát triển cao. Tình trạng giảm số sinh sản, đôi khi ở dưới mức được gọi là “mức độ thay thế”, cũng gây khó khăn cho những hệ thống bảo hiểm xã hội, làm tăng giá bảo hiểm, ăn vào nguồn dự trữ và do đó ăn vào những nguồn tài chính cần thiết cho việc đầu tư, giảm số lao động có trình độ cao và thu hẹp lại nguồn chất xám mà dân tộc cần dựa vào. Hơn thế nữa, trong những gia đình ít người, kể cả rất ít, những tương quan xã hội có nguy cơ bị nghèo nàn đi và những hình thức liên đới truyền thống cũng không còn. Những tình trạng trên là triệu chứng của việc không còn tin tưởng vào tương lai và mệt mỏi tinh thần. Vì thế, giới thiệu cho các thế hệ tương lai vẻ đẹp của hôn nhân và gia đình, và cho họ thấy hôn nhân và gia đình đáp ứng những nhu cầu sâu xa nhất cũng như phẩm giá của con người, điều này đã trở thành một nhu cầu xã hội, kể cả nhu cầu kinh tế. Trong viễn tượng này, các Nhà Nước được mời gọi đưa ra “những chính sách thúc đẩy tính trung tâm và toàn vẹn của gia đình” đặt nền trên hôn nhân giữa người nam và người nữ, là tế bào căn bản và sống động của xã hội,[8] đồng thời phải quan tâm đến những nhu cầu kinh tế và tài chính của các gia đình, trong sự tôn trọng bản chất mang tính tương giao của gia đình.

45. Đáp ứng những đòi hỏi luân lý sâu xa nhất của con người cũng tạo ra những âm hưởng quan trọng và ích lợi trên bình diện kinh tế. Thật vậy, “để vận hành cách đúng đắn, kinh tế cần đến đạo đức”; không phải bất cứ thứ đạo đức nào nhưng là nền đạo đức thân hữu với nhân vị. Ngày nay người ta nói nhiều đến đạo đức trong lãnh vực kinh tế, tài chính hay kỹ thuật. Các trung tâm nghiên cứu và những khóa huấn luyện đạo đức kinh doanh được thiết lập. Trong các nước phát triển, hệ thống cấp bằng chứng nhận về đạo đức đang lan rộng, phát xuất từ ý thức về trách nhiệm của kinh doanh đối với xã hội. Các ngân hàng đang đề nghị những tài khoản và những nguồn vốn đầu tư được gọi là “đạo đức”. “Tài chính đạo đức” đang phát triển nhất là qua những tín dụng và tài chính nhỏ. Tiến trình này thật đáng khen và cần được nâng đỡ. Người ta cũng thấy được những hiệu quả tích cực của nó cả trong các nước kém phát triển. Tuy nhiên, cần đề ra một tiêu chuẩn phân định lành mạnh vì tĩnh từ “đạo đức” có thể bị lạm dụng nếu sử dụng quá chung chung, có nguy cơ mang những nội dung khác nhau đến độ ẩn dưới những vỏ bọc đạo đức lại là những quyết định và chọn lựa đi ngược lại công bằng và thiện hảo đích thực của con người.

Thật vậy, điều đó tùy thuộc phần lớn vào hệ thống luân lý mà người ta qui chiếu vào. Về chủ đề này, giáo huấn xã hội của Giáo hội có phần đóng góp đặc biệt vì giáo huấn này xây nền trên việc tạo dựng con người “theo hình ảnh Thiên Chúa” (St 1,27); từ đó phát xuất phẩm giá bất khả vi phạm của nhân vị cũng như giá trị siêu việt của những luật luân lý tự nhiên. Một nền đạo đức mà không nhìn nhận hai cột trụ này, chắc chắn có nguy cơ đánh mất ý nghĩa riêng của đạo đức và làm mồi cho những hình thức lạm dụng. Cụ thể hơn nữa, nó có nguy cơ làm nô lệ cho những hệ thống kinh tế tài chính hiện hành thay vì sửa đổi những sai trái của hệ thống đó. Cuối cùng, nó cũng có thể được sử dụng để biện chính cho việc cung cấp tài chính cho những dự án phi đạo đức. Do đó, không nên sử dụng từ “đạo đức” theo nghĩa phân biệt ý thức hệ, làm như thể những sáng kiến không mang nhãn hiệu này thì không đạo đức. Cần nỗ lực – và đây là điều tối cần thiết – để không chỉ gầy dựng lãnh vực kinh tế này hoặc lãnh vực tài chính kia mang tính đạo đức, nhưng phải làm sao để toàn bộ nền kinh tế tài chính mang tính đạo đức, không chỉ do nhãn hiệu bên ngoài, nhưng do sự tôn trọng những đòi hỏi nội tại bản chất của nó. Giáo huấn xã hội của Giáo Hội đề cập đến vấn đề này cách rõ ràng khi nhắc nhớ rằng kinh tế, trong nhiều ngành khác nhau, là một lãnh vực của hoạt động con người.[9]

46. Khi xem xét đến những vấn đề liên quan tới mối “tương quan giữa kinh doanh và đạo đức”, cũng như sự tiến hóa của hệ thống sản xuất ngày nay, xem ra sự phân biệt truyền thống giữa các công ty nhắm lợi nhuận và các tổ chức phi lợi nhuận không còn phù hợp hoàn toàn với thực tế nữa, cũng không cung cấp định hướng thực hành cho tương lai. Trong những thập niên vừa qua, đã xuất hiện một vùng trung gian giữa hai hình thức kinh doanh nói trên. Vùng đất trung gian này được làm thành do những công ty truyền thống – nhưng lại có những thỏa ước giúp đỡ các xứ kém phát triển – những tổ chức bác ái liên kết với các công ty cá nhân hoặc nhóm công ty với định hướng lo cho phúc lợi xã hội, và những hình thức khác của cái gọi là “kinh tế dân sự”“kinh tế hiệp thông”. Vấn đề ở đây không chỉ là “vùng đất thứ ba” nhưng là một thực tại rộng lớn và phức tạp, chạm đến đời sống riêng cũng như đời sống công, không loại trừ lợi nhuận nhưng xem lợi nhuận như dụng cụ để thực hiện những mục tiêu mang tính nhân văn và xã hội. Dù những công ty này có phân phối lợi nhuận hay không, dù cấu trúc pháp luật của những công ty này phù hợp với hình thức kinh doanh nào, điều đó không quan trọng cho bằng định hướng của các công ty đó khi coi lợi nhuận như phương thế để đạt đến mục tiêu nhân hóa thị trường và xã hội. Hy vọng rằng những loại hình kinh doanh này sẽ có được cấu trúc tài chính và pháp lý thích hợp trong mọi quốc gia. Không phủ nhận tầm quan trọng và những lợi ích kinh tế xã hội của những hình thức kinh doanh truyền thống, những loại hình mới này đang thúc đẩy hệ thống hướng đến chỗ các chủ thể kinh tế đảm nhận cách rõ ràng và đầy đủ hơn bổn phận của mình. Hơn thế nữa, “chính tính đa dạng của những hình thức kinh doanh sẽ đưa đến một thị trường không những văn minh hơn mà còn mang tính cạnh tranh hơn”.

47. Việc gia tăng các mẫu thức kinh doanh khác nhau, và đặc biệt những mẫu có khả năng xem lợi nhuận như phương tiện để đạt được mục đích nhân bản hóa thương trường và xã hội, phải được theo đuổi trong các nước bị loại trừ hay bị gạt ra bên lề vòng ảnh hưởng của kinh tế toàn cầu. Nơi đó, phải đẩy mạnh những kế hoạch dựa trên nguyên tắc bổ trợ, được hoạch định và quản lý tốt, nhằm củng cố các quyền lợi, đồng thời cũng đảm nhận những trách nhiệm tương ứng. Trong các chương trình phát triển, “nguyên tắc về vị trí trung tâm của nhân vị” phải được bảo đảm, vì nhân vị là chủ thể có trách nhiệm đầu tiên trong việc phát triển. Lợi ích chính yếu phải là cải tạo cho tốt hơn hoàn cảnh sống của con người cụ thể trong một vùng xác định, để họ có thể chu toàn trách nhiệm của mình, điều mà họ không thể chu toàn do hoàn cảnh nghèo khó. Mối quan tâm xã hội không bao giờ chỉ là một thái độ trừu tượng. Để có thể thích ứng với những hoàn cảnh đặc biệt, những kế hoạch phát triển cũng phải mang đặc tính uyển chuyển; và những người lãnh nhận viện trợ cũng phải được trực tiếp hội nhập vào chương trình của kế hoạch và trở thành diễn viên chính cho việc chuyển đổi của họ. Cũng cần phải áp dụng những tiêu chuẩn cho việc thăng tiến từng cấp bậc và hỗ trợ kèm theo – bao gồm cả việc kiểm soát kết quả – vì không có một bài bản được áp dụng cách phổ quát. Tất cả tùy thuộc vào cách thế thực hiện các chương trình. “Vì các dân tộc là những người xây dựng cho những tiến triển của chính họ, chính họ là những người đầu tiên phải nhận gánh nặng và trách nhiệm. Nhưng họ không thể làm được, nếu như bị cô lập”.[10] Ngày nay, khi thế giới càng ngày càng gắn bó với nhau, ý kiến của Đức Giáo Hoàng Phaolô VI lại càng mang tính thời sự. Sự năng động của hội nhập không mang tính chất cơ giới. Những cách giải quyết phải dựa vào nền tảng của việc đánh giá hoàn cảnh cách cẩn thận, dựa trên đời sống của các dân tộc và những con người cụ thể. Bên cạnh những dự án lớn, cần có những dự án nhỏ và nhất là sự động viên hữu hiệu tất cả mọi người của xã hội dân sự, những pháp nhân cũng như những con người cụ thể.

Việc “hợp tác quốc tế” cần đến những người tham gia vào tiến trình phát triển kinh tế và nhân bản qua sự liên đới bằng sự hiện diện, đồng hành, việc đào tạo và tôn trọng. Từ cái nhìn này, các cơ quan quốc tế phải tự hỏi về hiệu quả thực sự của guồng máy quản lý nặng tính bàn giấy và thường rất tốn kém. Đôi khi những người lãnh viện trợ trở nên phụ thuộc vào những người giúp đỡ và những người nghèo lại giúp cho những cơ chế bàn giấy tồn tại; những cơ chế này để tồn tại phải tốn rất nhiều từ nguồn vốn đáng lý phải dành cho việc phát triển. Từ cái nhìn này, ước gì tất cả những cơ quan quốc tế và những tổ chức không thuộc chính quyền dấn thân cách trong sáng, khi trình bày cho những người trợ giúp ý kiến cũng như cho công luận biết về việc phân chia theo tỉ lệ số tiền được nhận, là số tiền được dành cho những kế hoạch làm việc chung, về nội dung thực tế của dự án và cuối cùng về việc hoạch định chung các trách nhiệm định hướng.

48. Ngày nay đề tài phát triển gắn chặt với các trách nhiệm; những trách nhiệm này xuất phát từ “mối liên hệ của con người với môi trường tự nhiên”. Môi trường này được Thiên Chúa ban cho tất cả mọi người. Đối với chúng ta, việc sử dụng môi trường đặt chúng ta trước một trách nhiệm đối với các người nghèo, với thế hệ tương lai và toàn thể nhân loại. Nếu vạn vật, và đầu tiên là con người, bị xem là kết quả của một sự ngẫu nhiên hay chủ thuyết định mệnh tiến hóa, thì ý thức trách nhiệm sẽ bị giảm đi. Ngược lại, nơi thiên nhiên, người tín hữu nhận ra công trình kỳ diệu của tác động sáng tạo của Thiên Chúa, điều này buộc con người phải sử dụng có trách nhiệm, khi thỏa mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần với việc tôn trọng sự quân bình nội tại của sáng tạo. Nếu quan niệm này bị lung lay, cuối cùng con người sẽ nhìn vạn vật như một thực tại không được chạm tới hay ngược lại con người sẽ bóc lột chúng. Cả hai thái độ này đều không thích hợp với cái nhìn của Kitô giáo về vạn vật, hoa quả sáng tạo của Thiên Chúa.

“Thiên nhiên bày tỏ kế hoạch của tình yêu và chân lý”. Thiên nhiên xuất hiện trước chúng ta và được Thiên Chúa ban tặng như không gian sống cho chúng ta. Thiên nhiên nói với chúng ta về Đấng Sáng Tạo (Rm 1,20) và về tình yêu của Ngài với con người. Thiên nhiên được hướng đến thời cuối cùng, cũng sẽ được “qui tụ trong Đức Kitô” (Ep 1,9-10; Cl 1,19-20). Do đó chính thiên nhiên cũng là một “tiếng gọi”.[11] Thiên nhiên nằm trong tầm tay sử dụng của chúng ta không phải như “một đống đối tượng được tung rải một cách ngẫu nhiên”,[12] nhưng như là quà tặng của Đấng Sáng Tạo, Đấng đã định cho chúng những trật tự nội tại để con người có thể rút ra từ đó những định hướng cần thiết để “gìn giữ và canh tác” chúng (St 2,15). Nhưng cũng phải nhấn mạnh, nếu nhìn thiên nhiên quan trọng hơn con người, thì sẽ đi ngược với sự phát triển đích thực. Cách nhìn này sẽ đưa đến những thái độ tân-ngoại giáo hay một thứ chủ thuyết đa thần mới: ơn cứu độ con người không thể chỉ đến từ ý nghĩa tự nhiên của vạn vật. Người ta cũng phải quay lưng với thái độ ngược lại, thái độ cố gắng thống trị thiên nhiên bằng kỹ thuật, vì môi trường tự nhiên không phải chỉ là vật chất mà chúng ta có thể sắp xếp theo ý muốn của chúng ta, nhưng là công trình kỳ diệu của Thiên Chúa, mang nơi mình một “văn phạm – Grammatik” cho thấy những mục đích và tiêu chuẩn để chúng được sử dụng với sự khôn ngoan và không bị bóc lột cách độc đoán. Ngày nay, nhiều điều tai hại cho sự phát triển xuất phát từ những quan niệm sai lầm này. Nếu đúc kết vạn vật hoàn toàn chỉ như tổng số những dữ kiện, cuối cùng chúng ta sẽ thấy rõ nguồn gốc của bạo lực đối với môi trường, đưa đến những hành động không tôn trọng đối với bản chất của con người. Bản chất này được tạo dựng không những từ vật chất, nhưng cũng từ tinh thần và vì thế mang nhiều ý nghĩa và mục đích siêu vượt để đạt tới, điều này có một đặc tính chuẩn mực đối với văn hóa. Con người giải thích và kiến tạo môi trường tự nhiên nhờ văn hóa; văn hóa này, đến phiên mình, được xác định từ sự tự do mang ý thức trách nhiệm, luôn chú tâm vào những nguyên tắc của lề luật luân lý. Dự kiến cho một sự phát triển toàn diện con người không được quên những thế hệ kế tiếp, phải dựa trên tình liên đới và công bằng liên thế hệ (la justice intergénérationnels) phải chú ý đến các bình diện thực đa dạng – môi sinh, pháp lý, kinh tế, chính trị và văn hóa.[13]

49. Ngày nay, những vấn đề liên hệ đến việc chăm sóc và bảo vệ môi trường buộc phải chú tâm đến “vấn đề năng lượng”. Việc thu gom nguồn năng lượng không tái chế của một số quốc gia, của những nhóm và công ty có ảnh hưởng lớn, đặt một ngăn trở nặng nề cho việc phát triển các nước nghèo. Những nước này hoặc thiếu phương tiện kinh tế để có thể khai thác những nguồn năng lượng không tái chế đang có, hoặc thiếu tiền để cung cấp cho việc nghiên cứu những nguồn năng lượng mới thay thế. Việc thu gom các tài nguyên thiên nhiên, trong nhiều trường hợp lại xảy ra ngay giữa các nước nghèo, sẽ dẫn đến sự bóc lột và nhiều sự xung đột giữa các quốc gia cũng như ngay trong nước. Những xung đột như thế sẽ diễn ra ngày càng thường xuyên hơn ngay trên những đất nước này kéo theo những hậu quả nạng nề: chết chóc, tàn phá và những tàn hại khác. Cộng đồng quốc tế có trách nhiệm tìm những con đường mang tính cơ chế để ngăn cản sự bóc lột những tài nguyên không thể tái chế, và phải cộng tác với sự thỏa thuận của những nước nghèo để cùng với họ hoạch định tương lai.

Trên mặt trận này, có một “nhu cầu luân lý khẩn thiết về một sự liên đới cần được đổi mới”, đặc biệt trong những liên hệ giữa các nước đang phát triển và những nước đạt trình độ cao về mặt kỹ nghệ.[14] Các cộng đồng phát triển cao về mặt kỹ thuật có thể và phải hạn chế sự phung phí năng lượng, hoặc bằng cách đổi mới những phương pháp sản xuất, hoặc gây ý thức mạnh mẽ hơn về môi sinh nơi người dân của mình. Cũng còn phải thêm, ngày nay việc kiện toàn khả năng sản xuất năng lượng rất khả thi và đồng thời cũng có khả năng đẩy mạnh việc tìm kiếm những hình thức khác của năng lượng. Cần phải có việc phân chia lại trên toàn thế giới những dự trữ năng lượng, để các nước không sử dụng được nguồn riêng, cũng có thể tham gia vào. Số phận của họ không thể đặt vào tay những người hưởng lợi đầu tiên hay căn cứ theo lý luận của kẻ mạnh. Đó là những vấn đề quan trọng, để có thể giải quyết cách hiệu quả, mọi người cần phải ý thức về các hệ quả thường đổ trên đầu các thế hệ mới, nhất là nhiều giới trẻ giữa các nước nghèo, là những người “đòi buộc phải được tham gia cách tích cực vào việc xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn”.[15]

50. Trách nhiệm này mang tính toàn cầu, không phải chỉ đụng chạm đến năng lượng, nhưng là toàn thể tạo thành, mà chúng ta không được phép trao lại cho những thế hệ tiếp nối một công trình tạo dựng đã bị bóc lột các tài nguyên. Chắc chắn con người có thể thực hiện “việc quản lý đầy trách nhiệm đối với thiên nhiên”, để bảo vệ, hưởng dùng và canh tác bằng những hình thức mới nhờ sự trợ giúp của kỹ thuật tân tiến, để trái đất có thể đón nhận và nuôi toàn dân đang sống. Có đủ chỗ cho mọi người trên trái đất của chúng ta: toàn thể gia đình nhân loại có thể tìm nơi đây những nguồn tài nguyên cần thiết để có thể sống đúng đắn nhờ vào thiên nhiên, là quà tặng của Thiên Chúa cho con cái của Người, nhờ cố gắng làm việc và sức sáng tạo của mình. Dù vậy, chúng ta cũng phải ý thức về trách nhiệm lớn lao là phải để lại trái đất này cho những thế hệ mới trong một tình trạng như thế nào để họ có thể sống xứng đáng và tiếp tục canh tác. Điều này đòi hỏi chúng ta phải chung tay quyết định, “sau khi đã xem xét với ý thức trách nhiệm, theo con đường nào với mục đích củng cố giao ước giữa con người với môi trường, như phản ảnh tình yêu sáng tạo của Thiên Chúa, Đấng mà chúng ta hiện hữu nhờ Người và đang tiến về Người”.[16] Chúng ta hy vọng rằng, cộng đồng quốc tế và từng chính quyền phải ngăn chận một cách hữu hiệu các hình thức khai phá tai hại làm môi trường bị bóc lột. Các nhà chức trách hiện hành phải cố gắng hết sức, để những giá trị kinh tế và xã hội cho việc sử dụng các tài nguyên tự nhiên phải được công khai, cũng như những người hưởng dùng phải mang trách nhiệm, chứ không phải các dân tộc khác hay các thế hệ tương lai: việc bảo vệ môi trường, tài nguyên và khí hậu đòi buộc tất cả những người có trách nhiệm trên toàn thế giới phải hành động chung với nhau và cho thấy quyết định làm việc cách chính đáng, trong sự tôn trọng luật lệ và liên đới với các vùng yếu kém nhất trên hành tinh của chúng ta.[17] Một trong những trách nhiệm lớn nhất của kinh tế là việc sử dụng hiệu quả nhất các nguồn tài nguyên, chứ không phải phung phí, không bao giờ quên rằng ý niệm về hiệu năng không trung lập về mặt giá trị.

51. “Cách thức con người xử sự với môi trường, sẽ ảnh hưởng đến cách con người xử sự với chính mình, và ngược lại”. Vì thế, xã hội hiện tại phải cẩn thận xem lại cách sống của mình, cách sống mà trong nhiều vùng trên trái đất thường hướng về chủ nghĩa hưởng lạc và tiêu thụ và không quan tâm đến những điều tai hại từ đó gây nên.[18] Chúng ta cần có một sự thay đổi tâm thức, giúp đón nhận những cách sống mới; “trong đó, những yếu tố xác định cho việc chọn lựa, tiết kiệm và đầu tư sẽ là việc tìm chân thiện mỹ, cũng như sự hiệp thông với những người khác để có sự tăng trưởng chung”.[19] Mọi việc gây tổn thương tình liên đới và huynh đệ dân sự sẽ đưa đến tại hại cho môi trường, cũng như những tai hại môi trường đến phiên mình lại gây ra những khó khăn cho các mối liên hệ xã hội. Đặc biệt trong thời đại chúng ta, thiên nhiên đã hội nhập vào sự năng động xã hội và văn hóa sâu xa đến độ không còn là dữ kiện độc lập nữa. Việc sa mạc hóa nhanh chóng và lâm vào cảnh khổ của nhiều vùng nông nghiệp là hậu quả của nghèo đói và chậm tiến của dân chúng sống nơi đó. Khi động viên việc phát triển kinh tế và văn hóa của những dân tộc này, thì thiên nhiên cũng được bảo vệ. Biết bao nhiêu tài nguyên thiên nhiên đã bị chiến tranh tàn phá. Hòa bình của mỗi dân tộc và giữa các dân tộc cũng giúp bảo vệ thiên nhiên tốt hơn. Việc thu gom các tài nguyên, đặc biệt là nước, có thể đưa tới những xung đột giữa các dân bị ảnh hưởng. Một sự thỏa thuận hòa bình về việc sử dụng các tài nguyên có thể bảo vệ thiên nhiên và đồng thời sự sung túc của những xã hội có liên hệ.

“Giáo hội có trách nhiệm đối với công trình tạo dựng” và phải làm cho trách nhiệm này được chấp nhận cách công khai. Nếu thực hiện điều này, Giáo hội không những bảo vệ trái đất, nước và không khí như những quà tặng của sáng tạo thuộc về mọi người, mà trên hết Giáo hội bảo vệ con người khỏi việc tự hủy hoại chính mình. Cần phải có sự hiểu biết đúng đắn về môi trường sinh thái của con người. Thật vậy, sự suy thoái của thiên nhiên liên hệ mật thiết với nền văn hóa đã định hình cho đời sống chung của con người. Khi môi sinh nhân bản[20] được tôn trọng trong xã hội, thì môi sinh đích thực cũng sẽ được hưởng lợi. Cũng như các nhân đức nhân bản liên hệ với nhau và sự yếu kém của một nhân đức cũng làm suy yếu các nhân đức khác, cũng thế, hệ thống môi sinh cũng được đặt nền trên sự tôn trọng một chương trình có ảnh hưởng đến cuộc sống chung lành mạnh giữa xã hội cũng như mối liên hệ tốt đẹp với thiên nhiên.

Để bảo vệ thiên nhiên, thật sự không đủ khi đưa ra những tiêu chuẩn cổ vũ hay ngăn cản, cả việc giáo dục thích ứng cũng không đủ. Đó là những phương thế trợ lực quan trọng, nhưng vấn đề quyết định là “thái độ luân lý của toàn thể xã hội”. Khi quyền được sống và quyền được chết một cách tự nhiên không được tôn trọng, khi việc thụ thai, mang thai và sinh hạ của con người chỉ được thực hiện theo kỹ thuật, khi các phôi người dành cho việc khảo sát tìm tòi, cuối cùng ý niệm môi sinh nhân bản sẽ bị chao đảo và cùng với nó, ý niệm về môi sinh môi trường cũng bị loại ra khỏi ý thức chung của con người. Thật là một điều nghịch lý khi đòi hỏi các thế hệ mới phải tôn trọng môi trường tự nhiên, trong khi giáo dục và luật lệ không giúp gì để họ tự tôn trọng chính mình. Quyển sách thiên nhiên là duy nhất và không thể phân chia, cũng như môi trường của sự sống và các bình diện tính dục, hôn nhân, gia đình, liên hệ xã hội, tắt một lời của sự phát triển toàn diện con người. Những trách nhiệm của chúng ta đối với môi trường liên kết với các trách nhiệm mà chúng ta phải có đối với con người tự tại và trong liên hệ với những kẻ khác. Người ta không thể đòi buộc một trách nhiệm và giẫm đạp lên các trách nhiệm khác. Đây là một điều nghịch lý nặng nề của tâm thức và thực hành của ngày nay, làm cho con người chán nản, khuynh đảo môi trường và gây hại cho xã hội.

52. Chân lý và tình yêu nối kết nhau, không thể tự sản xuất ra được, chúng ta chỉ có thể đón nhận như quà tặng. Nguồn gốc tối thượng của chúng không thể là con người, nhưng là Thiên Chúa, Đấng là Chân lý và Tình yêu. Nguyên tắc này rất quan trọng cho xã hội và cho sự phát triển, vì cả tình yêu lẫn chân lý đều không thể là sản phẩm của con người; cũng thế ơn gọi để phát triển con người và các dân tộc không dựa vào quyết định của con người, nhưng đã được ghi trong một kế hoạch có trước chúng ta và đặt để cho chúng ta một trách nhiệm mà mọi người đón nhận cách tự nguyện. Điều đã đi trước chúng ta và điều đã xây dựng chúng ta – đó là Tình yêu và Chân lý – cho chúng ta thấy điều gì là tốt đẹp và hạnh phúc của chúng ta hệ tại điều gì. “Chính Tình yêu và Chân lý sẽ chỉ cho chúng ta con đường đi đến phát triển đích thực”.

***

CHƯƠNG V

SỰ HỢP TÁC CỦA GIA ĐÌNH NHÂN LOẠI

 

53. Một trong những hình thức nghèo đói nhất mà con người có kinh nghiệm, đó là sự cô lập. Nhìn kỹ lại những hình thức khác của nghèo đói, gồm cả đói nghèo vật chất, ta thấy rằng tất cả đều bắt nguồn từ tình trạng bị bỏ rơi, không-được-yêu-thương hoặc từ những khó khăn khi thể hiện khả năng yêu thương. Nghèo đói thường phát xuất từ sự chối từ tình yêu Thiên Chúa, từ khuynh hướng cơ bản và bi thảm của con người tự khép kín lại với chính mình, nghĩ rằng chỉ có một mình là đủ hay xem mình chỉ là một sự xuất hiện vô nghĩa và chóng qua, một “người xa lạ” trong một vũ trụ được hình thành từ ngẫu nhiên. Con người bị tha hóa khi trơ trọi một mình, hay tự tách khỏi thực tại, hay khi phủ nhận suy nghĩ và tin tưởng vào một Nền tảng.[21] Toàn thể nhân loại bị tha hóa, khi chỉ dựa vào những kế hoạch hoàn toàn do con người, vào những ý thức hệ và những ảo tưởng sai lệch.[22] Ngày nay, nhân loại xem ra hoạt động chung với nhau hơn hôm qua: sự gần gũi này phải được biến đổi thành một cộng đoàn đích thực. “Sự phát triển các dân tộc tùy thuộc trước tiên vào việc nhận thức mình là một gia đình duy nhất”, làm việc chung với nhau trong mối hiệp thông đích thực, chứ không chỉ đơn thuần là một nhóm người tình cờ sống kề cận bên nhau.[23]

Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã ghi nhận: “Thế giới đang xáo trộn vì thiếu suy tưởng”.[24] Ngài đưa ra một nhận xét, đồng thời cũng diễn tả một ước vọng: cần phải đổi mới tư duy để có thể hiểu rõ hơn sự kiện chúng ta tạo thành một gia đình; mối tương tác giữa các dân tộc trên địa cầu đòi buộc sự đổi mới này, để việc hội nhập có thể được thực hiện trong hướng liên đới chứ không loại trừ.[25] Một suy tư như thế buộc chúng ta phải có “một đánh giá mang tính phê phán sâu xa hơn về phạm trù “tương quan””. Đây là một trách nhiệm không thể chỉ dành cho các khoa học xã hội nhưng cần đến sự đóng góp của các ngành khác như siêu hình học và thần học, để có thể hiểu rõ phẩm giá cao vời của con người.

Là thọ tạo có bản chất tinh thần, con người hiện thực chính bản thân mình qua những tương quan liên nhân vị. Con người càng sống những tương quan này cách đích thực, càng làm cho căn tính nhân vị của mình trưởng thành. Con người xác lập phẩm giá của mình không phải trong sự cô lập nhưng bằng cách đặt mình trong mối tương quan với tha nhân và với Thiên Chúa. Do đó những tương quan này có tầm quan trọng nền tảng. Điều này cũng áp dụng cho mọi dân tộc. Vì thế một tầm nhìn siêu hình về những tương quan giữa con người sẽ mang lại lợi ích lớn lao cho phát triển. Về điểm này, lý trí sẽ tìm được hứng khởi và một định hướng trong mạc khải Kitô giáo, theo đó, nhân vị không bị tan biến trong cộng đồng con người, sự độc lập không bị xóa đi, như đã từng xảy ra trong những hình thức khác nhau của chủ nghĩa độc tài. Trong tư tưởng Kitô giáo, cộng đồng vẫn tôn trọng nhân vị, vì liên hệ giữa con người và cộng đồng là mối liên hệ giữa một toàn thể và một toàn thể khác.[26] Cũng như gia đình không xóa đi các nhân vị tạo thành gia đình, và cũng như Giáo hội hoan hỉ vì mỗi “thọ tạo mới” (Gl 6,15; 2Cr 5,17) được hội nhập vào nhiệm thể mình qua bí tích Rửa Tội, thì sự hợp nhất gia đình nhân loại cũng không nhận chìm các nhân vị, các dân tộc và văn hóa, nhưng sẽ làm cho tất cả được trong sáng và kết hợp tất cả trong sự đa dạng hợp pháp của mình.

54. Đề tài phát triển các dân tộc cũng trùng hợp với đề tài kết hợp tất cả mọi người và dân tộc vào trong cộng đồng gia đình nhân loại, căn cứ trên những giá trị căn bản và hòa hợp trong tình liên đới. Cái nhìn này được soi sáng rõ ràng nhờ liên hệ Ba Ngôi Vị của mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi trong cùng một bản thể. Mầu nhiệm Ba Ngôi Thiên Chúa là sự hiệp nhất tuyệt đối, vì ba Ngôi Vị Thiên Chúa là tương quan thuần túy. Sự trong sáng hỗ tương giữa các Ngôi vị Thiên Chúa là hoàn toàn và dây liên hệ giữa Đấng này với Đấng khác là trọn vẹn, vì các Ngài tạo thành một sự Duy Nhất và Độc Nhất tuyệt đối. Thiên Chúa cũng muốn đón nhận chúng ta vào thực tại hiệp thông này: “Để chúng nên một, như CHÚNG TA là một” (Ga 17,22). Hội Thánh là dấu chỉ và khí cụ cho sự hợp nhất này.[27] Các tương quan giữa con người trong suốt chiều dài lịch sử đều có thể rút được sự hữu ích từ mẫu thần linh này. Cách riêng, “dưới ánh sáng mạc khải của mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi”, chúng ta hiểu rằng việc khai mở đích thực không có nghĩa là đánh mất căn tính cá nhân của mình là sự thẩm thấu cách sâu xa. Điều này cũng xuất hiện qua kinh nghiệm của con người về tình yêu và chân lý. Như tình yêu mang tính bí tích liên kết hai người phối ngẫu cách thiêng liêng thành “một thịt” (St 2,24; Mt 19,5; Ep 5,31) và từ cả hai tạo nên sự duy nhất đích thực trong liên hệ; cũng tương tự như thế, chân lý liên kết các tinh thần lại với nhau và làm cho tất cả hiệp nhất trong suy tưởng khi lôi kéo và liên kết tất cả vào trong mình.

55. Mạc khải Kitô giáo về sự hợp nhất nhân loại giả thiết một “cách giải thích mang tính siêu hình về humanum – nhân bản”, khi trình bày tính tương quan như một yếu tố căn bản. Những nền văn hóa và tôn giáo khác cũng giảng dạy tình huynh đệ và hòa bình, và vì thế có tầm quan trọng đặc biệt cho việc phát triển toàn diện nhân bản. Tuy nhiên, một vài thái độ tôn giáo và văn hóa không đón nhận trọn vẹn nguyên tắc tình yêu và chân lý, cuối cùng đã làm chậm lại hay ngăn chận sự phát triển đích thực của con người. Một vài tôn giáo và văn hóa trong thế giới ngày nay không đòi buộc con người sống hiệp thông, nhưng đúng hơn đã tách biệt họ ra nhằm kiếm tìm hạnh phúc cá nhân, giới hạn hạnh phúc này trong việc thỏa mãn những khát vọng tâm lý. Cũng nở rộ những “con đường” tôn giáo với chủ trương chiết trung, lôi kéo các nhóm nhỏ, kể cả từng cá nhân, những “con đường” này có thể dẫn đến sự phân tán hay thiếu sự dấn thân. Một hiệu quả tiêu cực của tiến trình toàn cầu hóa là xu hướng đón nhận thứ chiết trung tôn giáo này,[28] khi cung cấp những hình thức “tôn giáo” làm cho con người tha hóa, thay vì giúp họ gặp gỡ nhau, đã tách họ ra khỏi thực tế. Đồng thời, vẫn còn tồn tại những gia sản văn hóa và tôn giáo đóng khung xã hội vào những giai cấp cố định, dưới những hình thức của niềm tin ma thuật, không tôn trọng phẩm giá nhân vị trong những thái độ lệ thuộc vào những quyền lực ma thuật. Trong những trường hợp này, tình yêu và chân lý khó tự khẳng định được, do đó sẽ đem lại nhiều tai hại cho một sự phát triển đích thực.

Một mặt, nếu thật sự việc phát triển cần đến các tôn giáo và văn hóa của nhiều dân tộc khác nhau, thì mặt khác, cũng từ nền tảng này, cần có một sự phân định thích đáng. Tự do tôn giáo không có nghĩa là dửng dưng đối với tôn giáo, cũng không cho mọi tôn giáo đều như nhau.[29] Cần có sự phân định về sự đóng góp của các nền văn hóa và tôn giáo trong việc xây dựng cộng đồng xã hội nhằm tôn trọng công ích, điều này thật cần thiết cho những người thực hành chính trị. Một phân định như thế phải dựa trên tiêu chuẩn tình yêu và chân lý. Vì sự phát triển của con người và các dân tộc đang lâm nguy, nên sự phân định này sẽ phải quan tâm đến nhu cầu giải phóng và hội nhập, trong bối cảnh một cộng đồng nhân loại thực sự mang tính phổ quát. “Con người toàn diện và tất cả mọi người” là tiêu chuẩn để đánh giá các nền văn hóa và tôn giáo. Kitô giáo, tôn giáo của “Thiên Chúa có gương mặt nhân tính”[30] mang trong mình một tiêu chuẩn như thế.

56. Kitô giáo và các tôn giáo khác có thể đóng góp phần mình vào sự phát triển, “khi Thiên Chúa có được vị trí của Người trong lãnh vực công cộng”, điều này bao gồm những chiều kích văn hóa, xã hội, kinh tế và đặc biệt chính trị. Giáo huấn xã hội của Giáo hội được hình thành để đòi “quyền công dân”[31] của Kitô giáo. Việc phủ nhận quyền tuyên xưng đức tin nơi công cộng và quyền đem ra thực hành những chân lý đức tin tác động trên đời sống công cộng, sẽ mang theo những hậu quả tiêu cực cho việc phát triển đích thực. Việc loại bỏ tôn giáo ra khỏi bình diện công cộng – và ở một cực đoan khác là chủ trương bảo thủ cực đoan – sẽ ngăn cản việc gặp gỡ giữa con người và sự cộng tác của họ cho sự tiến triển nhân loại. Đời sống công cộng sẽ nghèo nàn và chính trị sẽ mang bộ mặt đàn áp và gây hấn. Nhân quyền sẽ gặp nguy hiểm vì không còn được tôn trọng, hoặc vì nền tảng siêu việt của nhân quyền bị cướp mất hay vì sự tự do của con người không được công nhận. Cả chủ thuyết thế tục hóa lẫn chủ trương bảo thủ cực đoan đều làm cho con người mất khả năng có được một sự đối thoại đầy hiệu năng và sự cộng tác đầy thắng lợi giữa lý trí và niềm tin tôn giáo. Lý trí luôn cần được đức tin thanh luyện, điều này cũng áp dụng cho lý trí chính trị, thứ lý trí này không được phép cho mình là toàn năng. Mặt khác, tôn giáo cũng cần để lý trí thanh luyện, để có thể bày tỏ khuôn mặt mang tính nhân bản đích thực. Sự đổ vỡ cuộc đối thoại này phải trả một giá đắt cho sự phát triển nhân loại.

57. Việc đối thoại tốt đẹp giữa đức tin và lý trí sẽ làm cho công trình bác ái về mặt xã hội được hữu hiệu, và tạo khung cho cho việc “cộng tác huynh đệ giữa những người tín hữu và những người vô tín” trong ý hướng chung là hoạt động cho công bằng và hòa bình của nhân loại. Trong Hiến chế GAUDIUM ET SPES, các nghị phụ viết: “Người tin và người không tin đều đồng ý chung một điểm: mọi sự trên trái đất đều qui hướng về con người như trung tâm và chóp đỉnh”.[32] Đối với các tín hữu, thế giới không phải là sản phẩm của ngẫu nhiên hay tất định, nhưng là sản phẩm kế hoạch của Thiên Chúa. Do đó, trách nhiệm của các tín hữu là phải kết hợp mọi cố gắng của mình với những người thiện tâm – thuộc các tôn giáo khác hay những người vô tín – để thế giới của chúng ta đáp ứng được kế hoạch của Thiên Chúa: sống với nhau như một gia đình dưới ánh mắt của Đấng Tạo Hóa. Nguyên tắc bổ trợ,[33] một cách biểu lộ sự tự do không thể chuyển nhượng của con người, chắc chắn là dấu chỉ tình yêu và tiêu chuẩn hướng dẫn cho sự cộng tác huynh đệ các của tín hữu và những người vô tín. Trước tiên, nguyên tắc bổ trợ là một sự trợ giúp cho con người ngang qua sự độc lập của những nhóm và hiệp hội trung gian. Sự trợ giúp này được đề nghị khi con người và những chủ thể xã hội tự sức mình không thể thực hiện những gì thuộc phận vụ của họ, và sự trợ giúp này luôn nhắm đến việc giải phóng con người vì nó thúc đẩy tự do và tham gia qua việc đảm nhận trách nhiệm. Sự bổ trợ tôn trọng phẩm giá con người, khi nhìn họ như một chủ thể có khả năng trao ban một cái gì đó cho kẻ khác. Khi công nhận tính hỗ tương như tâm điểm của đời sống con người, sự bổ trợ thực sự là phương tiện đối kháng hữu hiệu với bất cứ hình thức nào của hệ thống xã hội nặng tính gia trưởng. Sự bổ trợ có thể quan tâm đến những chương trình khác nhau – và như thế có nghĩa là sự đa dạng của chủ thể – cũng như sự phối hợp giữa các chương trình. Do đó, bổ trợ là một nguyên tắc đặc biệt có khả năng hướng dẫn sự toàn cầu hóa và định hướng vào một sự phát triển thực nhân bản. Để không làm nảy sinh một quyền lực độc tài ở mức toàn cầu, “sự lãnh đạo việc toàn cầu hóa phải là một loại bổ trợ”, được phân chia ra thành nhiều cấp bậc và nhiều bình diện khác nhau; sự bổ trợ đòi buộc phải có một thẩm quyền, nhưng phải được tổ chức theo cách thức bổ trợ,[34] để đừng làm tổn thương sự tự do và phải thật hữu hiệu.

58. Nguyên tắc bổ trợ phải liên kết chặt chẽ với nguyên tắc liên đới và ngược lại. Vì bổ trợ nếu không có tình liên đới sẽ rơi vào chủ nghĩa địa phương xã hội, cũng thế, liên đới mà không có bổ trợ cũng rơi vào một hệ thống gia trưởng, hạ thấp giá trị của những người được giúp đỡ. Phải cẩn thận chú ý đến điều này khi bàn đến những vấn đề trợ giúp quốc tế cho việc phát triển. Cho dù người cho có ý định thế nào đi nữa, sự trợ giúp có thể giữ một dân tộc trong tình trạng lệ thuộc hay tạo hoàn cảnh cho việc áp bức ở địa phương và bóc lột ngay trong đất nước nhận viện trợ. Để cho viện trợ kinh tế thật hữu ích, không được phép theo đuổi những mục đích kèm theo. Các viện trợ không những đòi buộc phải có sự cộng tác của chính quyền những nước tiếp nhận, nhưng phải có cả những nhà hoạt động kinh tế địa phương và những nhà hoạt động văn hóa của xã hội dân sự, bao gồm cả những Giáo hội địa phương. Những chương trình viện trợ phải ngày càng mang đặc tính tham gia và thực hiện từ mức cơ sở. Thật vậy, nguồn tài nguyên lớn lao trong những đất nước lãnh nhận viện trợ, chính là tài nguyên nhân bản (con người): đó là vốn liếng đích thực, phải tăng trưởng, để những nước nghèo được bảo đảm một tương lai độc lập đích thực. Phải nhớ rằng, trong lãnh vực kinh tế, nguồn viện trợ chính mà các nước đang phát triển cần thiết, bao gồm việc từng bước cho phép tham gia các sản phẩm của họ vào những thị trường thế giới và tạo khả năng để họ được chia sẻ trọn vẹn vào đời sống kinh tế thế giới. Thường trong quá khứ, việc trợ giúp chỉ được sử dụng để tạo những thị trường bên lề cho những sản phẩm của những nước này. Điều này là do thiếu yêu cầu thực sự cho các sản phẩm: vì thế cần phải giúp các nước này kiện toàn sản phẩm của họ và thích ứng hơn theo yêu cầu. Hơn thế nữa, có những người, trong một thời gian dài, sợ hậu quả của cạnh tranh qua việc nhập khẩu các sản phẩm – thường là sản phẩm nông nghiệp – đến từ các nước có nền kinh tế nghèo. Tuy nhiên, không nên quên rằng đối với các nước này, khả năng bán các sản phẩm cũng mang ý nghĩa bảo đảm cho sự sống còn của họ, ngắn hạn cũng như dài hạn. Một nền thương mại quốc tế công bằng và quân bình trong lãnh vực nông nghiệp có thể đem lại lợi ích cho mọi người, cho người cung cấp cũng như cho người tiêu thụ. Vì thế, không những cần phải định hướng các sản phẩm theo kế hoạch thương mại, nhưng còn phải xác lập luật lệ giao thương thế giới để giúp họ, và gia tăng tài chính viện trợ phát triển làm cho các nền kinh tế này sản xuất nhiều hơn.

59. Sự hợp tác vào việc phát triển không được phép chỉ nhắm vào chiều kích kinh tế mà thôi, nhưng phải trở thành cơ hội tốt đẹp cho sự gặp gỡ giữa các nền văn hóa và các dân tộc. Nếu những người có trách nhiệm trong những nước kinh tế đã phát triển này không chú tâm đến văn hóa của chính họ cũng như của người khác, như nhiều lần đã xuất hiện, họ không thể nào có được một cuộc đối thoại sâu xa với các công dân của những nước nghèo này. Về phần các nước nghèo, nếu họ mở ra với những đề nghị văn hóa mà thiếu phê phán hay phân biệt, thì họ cũng không thể đảm đương trách nhiệm về sự phát triển đích thực.[35] Những xã hội phát triển về kỹ thuật không được phép coi sự phát triển kỹ thuật của nước mình như một thứ đẳng cấp cao về mặt văn hóa, nhưng đúng hơn họ phải tái khám phá những đức tính đôi khi đã bị quên lãng, đã làm cho họ phát triển theo dòng lịch sử. Các xã hội trên đường phát triển phải trung thành với những gì thật nhân bản trong truyền thống của họ, tránh cơn cám dỗ tôn sùng chủ thuyết cơ giới của nền văn minh kỹ thuật toàn cầu. Có sự hội tụ những khuôn mẫu đạo đức trong mọi nền văn hóa, đó là cách biểu lộ một nhân tính duy nhất, do chính Đấng Sáng Tạo muốn như thế; truyền thống khôn ngoan của nhân loại gọi là luật tự nhiên.[36] Luật luân lý phổ quát là nền tảng vững chắc cho một cuộc đối thoại mang tính chất văn hóa, tôn giáo và chính trị, chấp nhận một sự đa nguyên, đa dạng của nhiều nền văn hóa khác nhau, hợp tác để cùng nhau tìm những gì là chân, thiện và Thiên Chúa. Do đó, việc gắn bó với lề luật đã được ghi trong tâm hồn con người sẽ là tiền đề cho công tác xây dựng xã hội. Trong tất cả các nền văn hóa, cũng còn nhiều điều xem ra nặng nề cần phải giải tỏa và những bóng tối con người cần phải thoát ra. Niềm tin Kitô giáo đã nhập thể vào văn hóa và nâng cao nền văn hóa lên mức siêu việt; có thể giúp các nền văn hóa trưởng thành trong cộng đồng và tình liên đới phổ quát, tạo ưu thế cho việc phát triển chung cùng trên thế giới.

60. Trong việc tìm những cách giải quyết cho cơn khủng hoảng kinh tế hiện tại, việc viện trợ phát triển cho các nước nghèo phải thực sự là phương tiện để tạo của cải cho mọi người. Đâu là dự án có thể mang tới viễn cảnh tăng trưởng – kể cả từ quan điểm kinh tế thế giới – để nâng đỡ các dân tộc đang ở giai đoạn đầu hay mới tiến bước trong tiến trình phát triển kinh tế của họ? Từ viễn tượng này, những nước có nền phát triển kinh tế cao hơn có thể dùng hết khả năng để giúp đỡ các nước nghèo tăng triển cao hơn, nhưng vẫn luôn tôn trọng những bó buộc mà cộng đồng quốc tế đã đề ra. Họ cũng có thể làm việc này khi kiểm soát lại chính sách chăm sóc và liên đới xã hội trong chính đất nước mình, khi áp dụng nguyên tắc bổ trợ, tạo hệ thống bảo trợ xã hội giúp đẩy mạnh việc tham gia tích cực của những tư nhân và xã hội dân sự. Với cách thức này, có thể làm tốt công tác xã hội và chăm sóc, đồng thời tiết kiệm tiền bạc – cả việc loại bỏ sự phung phí và lạm dụng quá đáng – để hướng đến sự liên đới toàn cầu. Một hệ thống liên đới xã hội, có sự tham gia rộng rãi và có tổ chức, sẽ giảm bớt chế độ bàn giấy, thu hút nhiều người cộng tác, sẽ đem đến nhiều năng lực, dù hiện tại còn ngấm ngầm, nhưng có giá trị cho tình liên đới giữa mọi dân tộc.

Một trong những cách tiếp cận việc trợ giúp phát triển là áp dụng cách hữu hiệu điều mà người ta gọi là nguyên tắc bổ trợ về mặt thuế khóa, cho phép người công dân quyết định gửi một phần thuế má họ đóng cho Nhà Nước đến một địa chỉ xác định. Nếu tránh được nhiều loại chủ nghĩa địa phương, cách làm này có thể thúc đẩy những hình thức liên đới xã hội khởi đi từ chính người công dân, với những lợi ích rõ ràng trên bình diện liên đới nhằm phục vụ cho việc phát triển.

61. Tình liên đới rộng lớn hơn trên bình diện quốc tế được biểu lộ trước hết qua việc tiếp tục thúc đẩy việc giáo dục – cho dù trong những hoàn cảnh khủng hoảng kinh tế – vì giáo dục là điều kiện chính yếu cho việc hợp tác quốc tế được hữu hiệu. Thuật ngữ “giáo dục” không chỉ nhằm vào các bài học và huấn luyện ngành nghề, dù cả hai là những nền tảng quan trọng cho việc phát triển, nhưng còn nhằm vào việc đào tạo con người toàn diện. Về vấn đề này, phải ghi nhận một phương diện thiết yếu: để giáo dục, phải biết rằng con người là ai và bản chất con người là gì. Một quan niệm mang tính tương đối về bản tính con người – đây lại là quan niệm ngày càng phổ biến – sẽ đặt ra những vấn đề nghiêm trọng cho việc giáo dục, nhất là giáo dục đạo đức, vì nó đe dọa tầm vóc phổ quát của giáo dục. Nếu người ta chạy theo thuyết tương đối, tất cả sẽ trở nên nghèo nàn hơn, sẽ đưa đến những hậu quả tiêu cực trên hiệu năng của những trợ giúp các dân đang trong tình trạng đau khổ; những người dân này không chỉ cần đến các phương tiện kinh tế và kỹ thuật, nhưng còn cần đến những phương pháp và phương tiện giáo dục nhằm hỗ trợ người dân thể hiện đầy đủ tiềm năng con người của họ.

Một ví dụ về tầm quan trọng của vấn đề này là hiện tượng du lịch quốc tế[37] vốn có thể là một yếu tố đáng ghi nhận cho việc phát triển kinh tế và gia tăng văn hóa, nhưng đôi khi lại trở thành cơ hội bóc lột và sa đọa luân lý. Hoàn cảnh hiện tại đem lại nhiều thuận lợi đặc biệt, để những khía cạnh kinh tế của việc phát triển – có nghĩa dòng chảy tài chính và việc tạo ra trong địa phương những việc kinh doanh quan trọng – có thể liên kết với những khía cạnh văn hóa, trong đó giáo dục đứng hàng đầu. Điều này đã được thực hiện trong nhiều trường hợp, thế nhưng trong rất nhiều trường hợp khác, du lịch quốc tế lại là yếu tố phản giáo dục không những cho người du lịch mà cả cho dân chúng địa phương. Dân chúng phải đối mặt với những thái độ vô luân hay đồi bại, tỉ như điều người ta gọi là du lịch tình dục, nhiều người phải trở thành nạn nhân, nhất là những người trẻ. Thật đau buồn khi phải xác nhận rằng, thứ du lịch này thường diễn ra với sự đồng ý của chính quyền sở tại, với sự thinh lặng của chính quyền những nước có dịch vụ du lịch và trong sự đồng lõa của nhiều người hoạt động trong các chi nhánh. Cho dù không có những mục đích này, du lịch quốc tế vẫn thường được tổ chức theo hướng tiêu thụ và hưởng lạc, được xem như cơn lũ vì được tổ chức theo những điều kiện mẫu mực từ những nước tổ chức du lịch; điều này không thích hợp cho một cuộc gặp gỡ đích thực giữa con người và giữa các nền văn hóa. Do đó, nên phát triển một loại hình du lịch khác, có khả năng tạo sự hiểu biết lẫn nhau, mà vẫn không mất đi không gian cần thiết cho việc nghỉ ngơi và giải trí lành mạnh: phải triển khai loại hình du lịch như thế – để tạo những liên hệ chặt chẽ hơn giữa những kinh nghiệm hợp tác quốc tế và kinh doanh phục vụ cho phát triển.

62. Hiện tượng di dân là một phương diện khác cần chú ý khi nói về việc phát triển nhân bản toàn diện. Đây là một hiện tượng đáng báo động vì số đông những người di dân, vì những vấn đề xã hội, kinh tế, chính trị, văn hóa và tôn giáo mà hiện tượng di dân đặt ra, và vì những thách đố bi thảm mà hiện tượng này đặt ra cho các cộng đồng quốc gia và quốc tế. Có thể nói, chúng ta đang đối mặt với hiện tượng xã hội đặc thù của thời đại, đòi buộc có một nền chính trị hợp tác quốc tế, một nền chính trị vững mạnh và có tầm nhìn xa để nắm bắt cách thích ứng. Một nền chính trị như thế đòi buộc phải được triển khai từ sự cộng tác chặt chẽ giữa những nước nguyên gốc của những người di tản và những nước đón nhận họ; nền chính trị này phải tiếp cận với những luật lệ quốc tế thính ứng, có khả năng hòa hợp với những trật tự pháp lý khác, với mục đích bảo vệ những nhu cầu và quyền lợi của những người và những gia đình di tản, đồng thời của những xã hội mà các người di tản nhắm đến. Không nước nào một mình có thể đối mặt với vấn đề di tản trong thời đại hôm nay. Tất cả chúng ta đều chứng kiến gánh nặng của khổ đau, bất ổn và khát vọng đi kèm theo làn sóng di dân. Tất cả chúng ta đều biết, quản lý vấn đề này thật nhiêu khê; rõ ràng những người lao động nước ngoài, mặc dù có những khó khăn gắn liền với việc hội nhập vào xã hội mới, nhưng qua lao động, họ đem lại nhiều đóng góp đáng kể cho việc phát triển kinh tế của những nước đã đón nhận họ, và cả cho quê hương của họ bằng việc gởi tiền về nhà. Đương nhiên, không được xem những người lao động này là hàng hóa hay chỉ là sức lao động thuần túy. Không được coi họ như một động lực sản xuất. Mỗi người di tản là một nhân vị, có những quyền lợi bất khả xâm phạm mà mọi người phải tôn trọng trong mọi hoàn cảnh.[38]

63. Khi nhìn vào những vấn đề phát triển, người ta không được phép quên “mối liên hệ chặt chẽ giữa nghèo đói và thất nghiệp”. Trong nhiều trường hợp, nghèo đói là hậu quả của việc vi phạm phẩm giá lao động của con người, có thể vì những khả năng lao động của họ bị hạn hẹp (thất nhiệp, bị đánh giá thấp) hay người ta đã truất đi “những quyền lợi do lao động, nhất là quyền được trả lương xứng đáng, sự bảo đảm cho chính người lao động cũng như gia đình họ”.[39] Vì thế, ngày 01 tháng 5 năm 2000, vị tiền nhiệm đáng nhớ của tôi là Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong dịp Năm Thánh dành cho người lao động, đã kêu gọi một “liên minh thế giới cổ võ cho lao động xứng đáng”[40] khi động viên cho chiến lược của Tổ chức Lao động quốc tế. Với cách thức đó, ngài đã ủng hộ mạnh mẽ về mặt luân lý cho mục tiêu mà các gia đình trên thế giới đều khao khát. Từ “xứng đáng” (trong cụm từ Lao động xứng đáng) có ý nghĩa gì khi áp dụng cho lao động? Có nghĩa là một công việc mà trong bối cảnh của mỗi xã hội, được xem như biểu lộ phẩm giá đích thực của mỗi người đàn ông và mỗi người đàn bà: một công việc được tự do lựa chọn mà người lao động, đàn ông cũng như đàn bà, tham gia cách hữu hiệu vào việc phát triển cộng đồng của mình; một công việc cho phép người lao động được tôn trọng không có bất cứ sự kỳ thị nào; một công việc có thể giúp họ thỏa mãn các nhu cầu của gia đình và gởi con đến trường, và các em không buộc phải làm việc; một công việc cho phép người lao động tự tổ chức đời sống mình cách tự do và tiếng nói của mình được lắng nghe; một công việc cho phép có đủ thời gian để có thể khám phá lại gốc rễ của mình trên bình diện cá nhân, gia đình và tinh thần; một công việc bảo đảm cho người lao động khi đến tuổi hưu được có những điều kiện sống xứng đáng.

64. Khi suy nghĩ về đề tài lao động, phải nhắc đến đòi hỏi khẩn cấp: các tổ chức công đoàn của những người lao động, luôn được Giáo hội động viên và nâng đỡ, phải mở ra cho những viễn tượng mới nảy sinh, trong lãnh vực lao động. Vượt lên trên những ranh giới riêng của các công đoàn như vẫn có, các tổ chức công đoàn được mời gọi chú tâm vào những vấn đề mới của xã hội chúng ta: tôi nghĩ đến toàn bộ những vấn đề mà các nhà chuyên môn về xã hội học phát hiện trong những xung đột giữa cá nhân người lao động và cá nhân người tiêu thụ. Dù không nhất thiết phải ủng hộ lập luận theo đó người ta đi từ vị trí trung tâm của giới thợ thuyền sang vị trí trung tâm của giới tiêu thụ, điều này là lãnh vực thích hợp cho những kinh nghiệm công đoàn mang tính canh tân. Khung cảnh toàn cầu, nơi lao động đang được thực hiện, đòi buộc những tổ chức công đoàn quốc gia, thường hạn hẹp vào việc bảo vệ những nhu cầu của các thành viên, cũng phải nhìn đến những người không thuộc công đoàn và đặc biệt đến những người lao động trong những nước đang phát triển, nơi các lề luật xã hội thường bị vi phạm. Việc bảo vệ các người lao động này, được đòi hỏi qua những dự án thích hợp đối với những nước nguyên gốc, cho phép các tổ chức công đoàn nêu lên các lý do đạo đức và văn hóa đích thực, trong môi trường xã hội và lao động khác biệt, thành một động lực quyết định cho việc phát triển. Giáo huấn truyền thống của Giáo hội vẫn luôn có giá trị khi đề nghị phân biệt vai trò và trách nhiệm của công đoàn và chính trị. Sự phân biệt này cho phép các tổ chức công đoàn xác định trong xã hội dân sự, lãnh vực thích hợp nhất cho hoạt động cần thiết để bảo vệ và thăng tiến thế giới lao động, nhất là đối với những người lao động bị bóc lột và không có người đại diện, nhất là hoàn cảnh cay đắng của họ bị ánh mắt xã hội bỏ rơi.

65. Cuối cùng, vấn đề tài chính cần một sự đổi mới về cơ cấu và những phương pháp hoạt động sau khi những sai trái đã gây thiệt hại trầm trọng cho nền kinh tế thật sự. Với cách thức này, nền tài chính có thể trở thành một công cụ phục vụ cho sản xuất của cải tốt hơn và cho việc phát triển. Toàn bộ nền kinh tế và nền tài chính – chứ không phải chỉ vài lãnh vực – được sử dụng như công cụ phải dựa theo các tiêu chuẩn đạo đức để tạo những điều kiện thích hợp cho việc phát triển con người và các dân tộc. Thật hữu ích và trong một số hoàn cảnh tất yếu, phải gợi lên những dự án tài chính, trong đó chiều kích nhân bản phải được nổi bật. Tuy nhiên, không nên quên rằng toàn bộ hệ thống tài chính phải nhắm vào việc nâng đỡ sự phát triển đích thực. Nhất là không nên cho rằng không thể có sự tương hợp giữa ý hướng làm việc tốt và khả năng sản xuất của cải thật sự. Các nhà tài chính phải tái khám phá nền tảng đạo đức đích thực trong hoạt động của họ, để không lạm dụng những phương tiện chuyên môn cao có thể được sử dụng để lừa gạt những người đóng góp tiết kiệm. Ý hướng ngay thẳng, sự minh bạch và việc kiếm tìm những kết quả khả quan phải được liên kết với nhau và không bao giờ được tách rời nhau. Nếu tình yêu gắn liền với khôn ngoan, thì tình yêu có thể tìm ra những phương cách hoạt động phù hợp với sự tiết kiệm đúng đắn và có tầm nhìn xa, như nhiều kinh nghiệm cho thấy trong lãnh vực hợp tác xã tín dụng.

Việc điều hành lãnh vực tài chính để bảo vệ những người yếu kém nhất và ngăn chận những việc đầu cơ đầy tai tiếng, cũng như việc tìm ra những hình thức tài chính mới nhằm nâng đỡ những dự án phát triển, cả hai đều là những kinh nghiệm tích cực cần đào sâu và khuyến khích, làm nổi bật trách nhiệm của nhà đầu tư. Hơn nữa, cũng nên củng cố và thích ứng kinh nghiệm của tài chính vi mô (la microfinance das Mikrofinanzwesen) xuất phát từ suy tư và hoạt động của những nhà nhân bản dân sự, tôi nghĩ trước tiên đến việc xuất hiện các nhà cầm đồ (Leihhaus – tiếng Pháp: la création des Monts de Piété). Điều này lại càng khẩn thiết hơn trong thời điểm này khi những khó khăn tài chính có thể trở nên bi đát cho những thành phần dân chúng dễ bị tổn thương nhất; những người này cần được bảo vệ để chống lại những nguy cơ cho vay nặng lãi hay thất vọng. Những thành phần yếu kém trong xã hội phải được giúp đỡ để tự bảo vệ mình trước nạn cho vay nặng lãi, cũng như các dân tộc nghèo phải được giúp đỡ để có được lợi nhuận từ tín dụng nhỏ. Theo cách này, những khả năng bóc lột có thể bị ngăn chận. Trong các nước giàu, cũng xuất hiện những hình thức mới của sự nghèo đói, nên tín dụng nhỏ cũng có thể là sự trợ giúp cụ thể khi mở ra những sáng kiến mới và những lãnh vực mới cho tầng lớp xã hội yếu kém trong thời đoạn nghèo khó của xã hội.

66. Mạng lưới liên kết toàn cầu đã dẫn đến chỗ hình thành một quyền lực chính trị mới, đó là quyền lực của những người tiêu dùng và các tổ chức của họ. Đây là một hiện tượng cần phải được nghiên cứu vì nó chứa chất những yếu tố tích cực cần củng cố cũng như những thái quá cần phải tránh. Thật tốt khi con người ý thức rằng việc mua sắm không chỉ là một hành động kinh tế, nhưng vẫn luôn là một hành động luân lý. Vì thế những người tiêu dùng cũng phải có một trách nhiệm xã hội rõ ràng, cùng chung với trách nhiệm của kinh doanh. Họ phải luôn được giáo dục về vai trò[41] hàng ngày họ phải thực hiện và chú trọng đến những nguyên tắc luân lý mà không làm giảm đi luận lý kinh tế của việc mua sắm. Ngay trong thời đại chúng ta đang sống, sức mua có thể giảm đi và người ta điều độ hơn trong việc mua sắm, vì thế cần khai mở những con đường mới, tỉ như những hình thức hợp tác xã mua bán như các hợp tác xã tiêu thụ xuất hiện vào thế kỷ XIX do công của các Kitô hữu khởi xướng. Xa hơn nữa, cũng hữu ích khi có những hình thức thương mại các sản phẩm xuất xứ từ các vùng bị đàn áp trên thế giới, để bảo đảm cho người sản xuất một đồng lương có thể chấp nhận. Tuy nhiên, để đạt được mục đích này, cần quan tâm đến một vài điều kiện: thị trường phải minh bạch; những người sản xuất không những nhận được giá cao, nhưng còn nhận được sự đào tạo về kỹ năng và kỹ thuật chuyên môn; và cuối cùng việc phát triển không được liên kết với những quan niệm mang ý thức hệ đảng phái. Khi người tiêu dùng không bị thao túng do những hiệp hội không thực sự đại diện cho họ, và họ có vai trò có tính quyết định hơn, thì đây sẽ là một động lực cho nền dân chủ về mặt kinh tế.

67. Đối mặt với việc gia tăng sự tương thuộc ở tầm vóc toàn cầu, và cho dù hiện tại với sự suy thoái trên thế giới, cần phải có một sự đổi mới Tổ chức liên hiệp quốc cũng như những cơ chế kinh tế và tài chính quốc tế để quan niệm về gia đình của các dân tộc có thể có âm vang rộng lớn thực sự. Người ta cũng cảm nhận nhu cầu khẩn thiết phải tìm những hình thức mới để thực hiện nguyên tắc về trách nhiệm bảo vệ[42] và nguyên tắc về việc để cho các nước nghèo có tiếng nói hữu hiệu đóng góp vào những quyết định chung. Điều này thật quan trọng để đạt đến một trật tự chính trị, pháp lý và kinh tế đáp ứng sự cộng tác quốc tế nhằm vào việc phát triển có tính cách liên đới của tất cả các dân tộc. Để hướng dẫn kinh tế thế giới, hòng chữa trị các nền kinh tế bị tai hại vì sự khủng hoảng, để báo trước sự gia tăng tệ hại của cuộc khủng hoảng và từ đó đưa đến sự bất bình đẳng, để thực hiện việc giảm thiểu hoàn toàn vũ khí, để tiến đến việc bảo đảm lương thực và hòa bình, để điều chỉnh việc bảo vệ môi trường và dòng người di tản, cần phải có một thẩm quyền thế giới về mặt chính trị, như vị tiền nhiệm của tôi là Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII đã nói. Một thẩm quyền như thế phải được luật lệ điều chỉnh, phải tuân giữ các nguyên tắc bổ trợ và liên đới nhằm vào việc thực hiện công ích,[43] dấn thân cho việc thực hiện phát triển con người toàn diện, được gợi hứng từ các giá trị tình yêu trong chân lý. Ngoài ra thẩm quyền này phải được mọi người công nhận, được hưởng một thực quyền hữu hiệu để bảo đảm cho mọi người được bình an, tôn trọng công lý và các quyền lợi.[44] Đương nhiên thẩm quyền này phải có khả năng buộc các thành phần khác phải tôn trọng các quyết định của mình, cũng như các tiêu chuẩn do những nghị trường quốc tế yêu cầu. Nếu thiếu những điều kiện này, luật lệ quốc tế, cho dù có những phát triển lớn được áp dụng trong nhiều lãnh vực, có nguy cơ bị điều kiện hóa bởi cán cân quyền lực giữa các quốc gia mạnh nhất. Việc phát triển toàn diện các dân tộc và việc hợp tác quốc tế đòi buộc phải thiết lập một cấp bậc cao hơn của trật tự quốc tế theo mẫu bỗ trợ nhằm điều hành việc toàn cầu hóa.[45] Điều đó cũng đòi hỏi việc xây dựng một trật tự xã hội phù hợp với trật tự luân lý, với sự liên kết giữa bình diện luân lý và xã hội, và với sự liên kết giữa chính trị và các bình diện kinh tế và dân sự, mà điều lệ của Liên Hiệp Quốc đã thấy trước.

***

CHƯƠNG VI

PHÁT TRIỂN CÁC DÂN TỘC VÀ KỸ THUẬT

 

68. Sự phát triển của các dân tộc liên kết chặt chẽ với sự phát triển của các cá nhân. Ở tự bản chất, nhân vị tham gia cách tích cực vào sự phát triển chính mình. Sự phát triển được bàn đến ở đây không chỉ đơn thuần là kết quả của vận hành tự nhiên, vì như mọi người đều biết, tất cả chúng ta đều có thể có những chọn lựa tự do và có trách nhiệm. Phát triển cũng không chỉ tùy thuộc vào tính khí thất thường của chúng ta, vì tất cả chúng ta đều biết rằng mình là một quà tặng chứ không phải là cái gì tự sinh. Tự do của ta được định hình cách sâu xa bởi chính hữu thể và bởi cả những giới hạn của mình. Không ai định hình lương tâm của mình cách độc đoán nhưng tất cả chúng ta đều xây dựng cái “tôi” trên nền tảng cái “ngã” (nhân tính) đã được ban cho ta. Không những người ở bên ngoài không thể kiểm soát chúng ta, nhưng ngay chúng ta cũng không thể hoàn toàn kiểm soát chính mình. “Sự phát triển của một con người sẽ bất thành nếu người đó cho rằng mình là tác giả duy nhất của phát triển”. Nói theo cách loại suy, sự phát triển của các dân tộc sẽ bị biến chất nếu nhân loại nghĩ rằng mình có thể tái tạo chính mình nhờ những “kỳ công” của kỹ thuật, cũng thế sự phát triển kinh tế sẽ đem đến những tai hại nếu nó chỉ dựa vào những “kỳ công” của tài chính để duy trì sự tăng trưởng giả tạo gắn liền với việc tiêu thụ quá mức. Đối diện với tham vọng chỉ dựa vào sức mạnh con người này (prométhée), chúng ta phải củng cố tình yêu nhằm xây dựng sự tự do không mang tính độc đoán, nhưng là thứ tự do mang chất nhân bản khi nhìn nhận sự thiện đi trước chúng ta. Để đạt được mục đích này, con người cần trở về với chính mình để nhận ra những lề luật nền tảng của luật luân lý tự nhiên mà Thiên Chúa đã ghi khắc vào lòng chúng ta.

69. Thách đố của phát triển ngày nay liên kết chặt chẽ với tiến bộ kỹ thuật, được ứng dụng cách ngoạn mục trong lãnh vực sinh học. Cần nhấn mạnh rằng kỹ thuật là một thực tại mang tính nhân văn sâu sắc, gắn liền với sự tự lập và tự do của con người. Kỹ thuật diễn tả và khẳng định cách mạnh mẽ sự làm chủ của tinh thần trên vật chất. Tinh thần, “được giải thoát khỏi sự nô lệ các thụ tạo, có thể dễ dàng nâng lòng lên hướng đến việc thờ phượng và chiêm ngắm Đấng Tạo Hoá”.[46] Kỹ thuật cho phép ta chế ngự vật chất, giảm thiểu những nguy cơ, tiết kiệm sức lực và cải thiện hoàn cảnh sống. Kỹ thuật đáp trả chính ơn gọi của lao công: nhờ kỹ thuật vốn là công trình của trí tuệ con người, con người nhận ra chính mình và hoàn thành nhân tính của mình. Kỹ thuật là khía cạnh khách quan của hành động nhân loại,[47] nhưng nguồn gốc và lý do của hành động này lại nằm ở yếu tố chủ quan: con người làm việc. Do đó, kỹ thuật không bao giờ chỉ thuần túy là kỹ thuật. Nó biểu lộ con người và những khát vọng của con người hướng đến sự phát triển, nó diễn tả nỗ lực của tinh thần muốn dần dần vượt qua những giới hạn vật chất. Theo nghĩa này, kỹ thuật là lời đáp trả của con người trước mệnh lệnh của Thiên Chúa trao cho con người canh tác và giữ gìn trái đất (St 2,15), và kỹ thuật phải hướng đến chỗ củng cố giao ước giữa nhân loại và môi trường sống, một giao ước phản ánh tình yêu sáng tạo của Thiên Chúa.

70. Phát triển kỹ thuật có thể khiến người ta nghĩ rằng chỉ cần kỹ thuật là đủ, khi con người đặt ra quá nhiều câu hỏi “làm thế nào” mà ít khi đặt câu hỏi “tại sao” vốn là những câu hỏi thúc đẩy con người hành động. Chính vì thế kỹ thuật mang những nét hàm hồ. Xét như là khí cụ của tự do phát sinh từ tính sáng tạo của con người, kỹ thuật có thể được hiểu như một yếu tố của tự do tuyệt đối, sự tự do muốn vượt lên trên những giới hạn nội tại trong sự vật. Tiến trình toàn cầu hóa có thể lấy kỹ thuật thay thế cho các ý thức hệ,[48] để rồi đến lượt nó kỹ thuật lại trở thành một quyền lực ý thức hệ đẩy con người đến nguy cơ khép kín chính mình cách tiên thiên, làm cho nó không thể bước ra bên ngoài để gặp gỡ hữu thể và chân lý. Nếu điều đó xảy ra, có lẽ tất cả chúng ta sẽ nhận biết, đánh giá và quyết định về đời sống của mình hoàn toàn từ chân trời văn hóa mang tính kỹ trị là thứ chân trời mà chúng ta bị ảnh hưởng xét về mặt cơ cấu, thế nhưng sẽ không bao giờ tìm được ý nghĩa (đời sống) bởi lẽ ý nghĩa đó không hoàn toàn do ta làm ra. Ngày nay, tầm nhìn này làm cho não trạng kỹ trị thắng thế đến độ nó đồng hóa cái “thật” với cái “có thể làm ra”. Thế nhưng khi tiêu chuẩn duy nhất của chân lý chỉ là tính hiệu năng và thực dụng, thì lập tức sự phát triển bị chối từ. Sự phát triển đích thực không hệ tại chủ yếu ở cái “làm”. Chìa khoá của phát triển là một tâm trí có khả năng suy tư theo lý luận kỹ thuật, đồng thới nắm bắt được ý nghĩa nhân văn đầy đủ của hoạt động con người, trong chân trời của ý nghĩa toàn diện về hiện hữu nhân sinh. Ngay cả khi chúng ta làm việc qua các vệ tinh hay qua những phương tiện điện tử được điều khiển từ xa, thì hành động của ta vẫn là hành động của con người, là cách thế diễn tả sự tự do mang tinh thần trách nhiệm của ta. Kỹ thuật có sức hút đặc biệt vì nó lôi ta ra khỏi những giới hạn thể lý của mình và mở rộng chân trời của ta. Thế nhưng tự do của con người chỉ là tự do đích thực khi nó đáp ứng sự cuốn hút của kỹ thuật bằng những quyết định vốn là hoa trái của trách nhiệm luân lý. Do đó xuất hiện nhu cầu khẩn thiết là phải huấn luyện việc sử dụng kỹ thuật một cách có trách nhiệm về đạo đức. Khởi đi từ sự cuốn hút của kỹ thuật, chúng ta phải tìm lại ý nghĩa đích thực của tự do, vốn không nằm ở chỗ say mê sự tự lập hoàn toàn nhưng ở lời đáp trả trước tiếng gọi của hữu thể, bắt đầu bằng chính hữu thể của mình.

71. Một vài những ứng dụng kỹ thuật trong lãnh vực phát triển và hòa bình cho thấy não trạng kỹ thuật có thể đưa đến những lệch hướng khỏi những nguyên lý mang tính nhân văn vững chắc. Sự phát triển của các dân tộc thường được xem như vấn đề kích thích tài chính, mở cửa thị trường, giảm thuế, đầu tư sản xuất và những đổi mới cơ chế; nói cách khác, là vấn đề thuần túy kỹ thuật. Tất cả những điều nói trên đều có tầm quan trọng cả, nhưng chúng ta tự hỏi tại sao những chọn lựa kỹ thuật như thế cho đến nay chỉ đem lại những kết quả bất toàn. Phải tìm kiếm những lý do sâu hơn. Phát triển sẽ không bao giờ được bảo đảm hoàn toàn nhờ những sức mạnh có thể nói là tự động và vô hồn, cho dù là những sức mạnh phát xuất từ thị trường hay chính trị. Sẽ không thể có phát triển nếu không có những con người liêm chính, những nhà tài chính và những chính trị gia có lương tâm phù hợp với những đòi hỏi của công ích. Cả năng lực chuyên môn lẫn sự vững vàng về luân lý đều cần thiết. Khi kỹ thuật chiếm thế thượng phong thì hậu quả là sẽ có sự lẫn lộn giữa phương tiện và mục đích, đến độ tiêu chuẩn duy nhất cho hành động trong kinh doanh sẽ là lợi nhuận tối đa, trong chính trị là củng cố quyền lực, trong khoa học là những kết quả nghiên cứu. Như thế, ẩn dưới những mạng lưới trao đổi kinh tế, tài chính và chính trị, vẫn còn đó những hiểu lầm, bất ổn và bất công. Dòng chảy kiến thức kỹ thuật gia tăng nhưng chỉ có lợi cho những người sở hữu kiến thức đó, còn hoàn cảnh sống của nghững người dân không biết đến kiến thức đó vẫn không hề thay đổi và ít có cơ may giải phóng đối với họ.

72. Ngay cả hòa bình cũng có nguy cơ bị xem như một sản phẩm kỹ thuật, chỉ là kết quả của những thỏa ước giữa các chính phủ hoặc những sáng kiến nhằm bảo đảm sự trợ giúp kinh tế hiệu quả. Quả thật là việc xây dựng hòa bình đòi hỏi phải thường xuyên thiết lập những quan hệ ngoại giao, những trao đổi kinh tế và kỹ thuật, những gặp gỡ văn hóa, những thỏa thuận về các dự án chung, cũng như những nỗ lực hỗ tương nhằm ngăn chặn mối đe dọa xung đột quân sự và nhổ tận gốc những nguyên nhân tiềm ẩn của chủ nghĩa khủng bố. Tuy nhiên, nếu muốn cho những nỗ lực đó mang lại kết quả lâu dài, thì nó cần được đặt nền trên những giá trị cắm rễ sâu trong sự thật về đời sống con người. Nói cách khác, phải lắng nghe tiếng nói của các dân tộc bị ảnh hưởng và xem xét hoàn cảnh sống của họ để hiểu cho đúng tâm tư nguyện vọng của họ. Như thế, người ta phải ghi nhận ở đây biết bao cố gắng của biết bao người đã mạnh mẽ dấn thân nhằm thúc đẩy sự gặp gỡ giữa các dân tộc và cổ võ sự phát triển trên nền tảng tình yêu và sự hiểu biết lẫn nhau. Trong số những người này, phải kể đến các Kitô hữu đã dấn thân cho nhiệm vụ vĩ đại là mang đến cho phát triển và hòa bình một chiều kích đầy tính nhân văn.

73. Gắn liền với phát triển kỹ thuật là sự gia tăng rất nhanh những phương tiện truyền thông xã hội. Ngày nay, hầu như không thể tưởng tượng đến đời sống của gia đình nhân loại mà lại không có những phương tiện này. Dù tốt hay xấu, những phương tiện này đã là thành phần thiết yếu của đời sống đến nỗi thật là hàm hồ nếu cho rằng nó ở thế trung lập, và đòi hỏi cho nó quyền độc lập đối với luân lý đạo đức liên quan đến con người. Thông thường, những quan điểm nhấn mạnh bản chất thuần túy kỹ thuật của truyền thông như thế thực ra chỉ biện hộ cho sự lệ thuộc của nó vào những tính toán kinh tế nhằm mục đích thống trị thị trường, và điều khác nữa là cố gắng áp đặt những mô thức văn hóa phục vụ cho mục tiêu chính trị và ý thức hệ. Do tầm quan trọng nền tảng của truyền thông trong việc kích thích những thay đổi cách nhìn nhận thực tại và chính con người, chúng ta phải suy nghĩ cẩn thận về ảnh hưởng của truyền thông, đặc biệt là trên bình diện đạo đức-văn hóa của toàn cầu hóa và của sự phát triển các dân tộc trong tình liên đới. Nếu toàn cầu hóa và phát triển đòi hỏi phải có cách tiếp cận mang tính đạo đức, thì cũng thế, phải kiếm tìm ý nghĩa và mục đích của truyền thông trong viễn tượng nhân học. Điều này có nghĩa là truyền thông có thể có giá trị văn minh hóa không những khi nó gia tăng khả năng thông tin, nhưng trên hết mọi sự là khi nó được tổ chức và định hướng theo tầm nhìn về con người và công ích phù hợp với những giá trị phổ quát. Không nhất thiết vì các phương tiện truyền thông gia tăng khả năng kết nối và gieo rắc ý tưởng, nên nó thúc đẩy tự do và đem đến sự phát triển và dân chủ cho mọi người. Để đạt được những mục tiêu này, các phương tiện truyền thông cần tập chú vào việc cổ võ phẩm giá của con người và các dân tộc, phải được thúc đẩy bởi bác ái và nhằm mục đích phục vụ sự thật, sự thiện, cũng như tình huynh đệ tự nhiên và siêu nhiên. Thật vậy, sự tự do của con người gắn kết cách nội tại với những giá trị cao cả này. Truyền thông có thể góp phần quan trọng vào việc gia tăng sự hiệp thông trong gia đình nhân loại và đạo đức (ethos) trong xã hội, khi nó được sử dụng để thúc đẩy sự tham gia rộng rãi vào việc kiếm tìm những gì là đúng đắn.

74. Trong cuộc đấu tranh văn hóa ngày nay giữa sự thống trị của kỹ thuật và trách nhiệm luân lý của con người, lãnh vực đạo đức sinh học là trận địa then chốt. Đó là nơi mà chính khả thể phát triển con người toàn diện bị đặt thành vấn đề ở mức độ căn để nhất. Trong lãnh vực tế nhị và có tính quyết định này, câu hỏi nền tảng là: con người là sản phẩm của chính mình hay nó lệ thuộc vào Thiên Chúa? Những khám phá khoa học trong lãnh vực này và những khả năng can thiệp về mặt kỹ thuật đã tiến rất xa đến độ đòi chúng ta phải chọn lựa giữa hai loại lý luận: hoặc là lý luận mở ra với siêu việt hoặc là lý luận khép kín trong tính nội tại. Chúng ta đứng trước câu trả lời: hoặc thế này, hoặc thế khác. Tuy nhiên, thứ “lý tính” của hành động kỹ thuật chỉ tập trung vào chính mình xem ra phi lý, bởi lẽ nó hàm chứa sự phủ nhận dứt khoát ý nghĩa và giá trị đời sống. Không phải ngẫu nhiên khi con người khép kín cánh cửa với siêu việt, thì con người lại phải đối mặt với nỗi khó khăn là: làm sao hiện hữu lại có thể phát sinh từ hư vô, và làm sao trí tuệ lại được sinh ra từ ngẫu nhiên?.[49] Đối diện với những câu hỏi quyết liệt này, lý trí và đức tin có thể hỗ trợ lẫn nhau. Và chỉ như thế mới có thể cứu độ con người. Chỉ hoàn toàn cậy dựa vào kỹ thuật, lý trí không có đức tin sẽ tan biến trong ảo tưởng về sự toàn năng của nó. Đức tin không có lý trí sẽ có nguy cơ trở thành xa lạ với đời sống thường ngày của con người.[50]

75. Đức Phaolô VI đã nhận ra và chú tâm đến chiều kích toàn cầu của vấn đề xã hội.[51] Bước theo sự hướng dẫn của ngài, ngày nay chúng ta cần khẳng định rằng vấn đề xã hội đã trở thành vấn đề nhân học ở tận căn, theo nghĩa là vấn đề này không chỉ liên quan đến câu hỏi sự sống đã được thụ thai như thế nào, nhưng còn là câu hỏi người ta có thể thao túng sự sống như thế nào, khi mà kỹ thuật sinh học ngày càng đặt sự sống dưới bàn tay con người. Thụ tinh trong ống nghiệm, nghiên cứu phôi, khả năng tạo ra những nhân bản và phôi người: tất cả những điều đó đang phát triển và được cổ xúy trong nền văn hóa ngày nay, nền văn hóa tin rằng đã làm chủ được mọi mầu nhiệm bởi vì nguồn cội sự sống đã nằm trong tay ta. Ở đây ta thấy rõ nhất sự thống trị của kỹ thuật. Trong loại văn hóa này, ý thức được mời gọi cứ làm theo những khả năng của kỹ thuật. Tuy nhiên chúng ta đừng nên coi thường viễn cảnh đáng ngại đe dọa tương lai của chúng ta, cũng đừng coi thường quyền lực của những phương tiện mới mà “nền văn hóa” sự chết đang có trong tay. Thêm vào cơn dịch bi thảm và rộng khắp của nạn phá thai, có lẽ trong tương lai chúng ta sẽ phải thêm vào điều này – và quả thật nó đã được gieo mầm từ hôm nay – là việc lên chương trình một cách hệ thống cho việc sinh sản. Mặt khác, não trạng ủng hộ chủ trương an tử cũng đang xâm nhập, hiểu như sự khẳng định quyền kiểm soát trên sự sống trong những trường hợp bị cho là không đáng sống nữa. Ẩn dưới tất cả những cảnh trên là những quan điểm văn hóa chối từ phẩm giá con người. Đến lượt nó, những thực hành nói trên lại cổ võ cho quan niệm duy vật và máy móc về con người. Ai có thể đo lường được những hậu quả tai hại của thứ não trạng này đối với việc phát triển? Làm sao chúng ta không khỏi ngạc nhiên về sự dửng dưng trước những hoàn cảnh bi thảm của con người, khi mà sự dửng dưng ấy đã ảnh hưởng đến cả thái độ của ta trước ranh giới giữa cái “là người” và cái “không phải là người”. Điều lạ lùng là người ta rất độc đoán và kỳ thị trong việc quyết định xem đâu là điều đáng kính trọng và đề cao. Những chuyện không đáng gì thì làm ầm ĩ lên, còn những bất công trầm trọng lại dễ dàng được dung thứ. Trong khi người nghèo trên thế giới tiếp tục gõ cửa người giàu, thì thế giới giàu có lại có nguy cơ không còn nghe thấy tiếng gõ cửa đó nữa, do thứ lương tâm không còn phân biệt được cái gì là của con người. Thiên Chúa mạc khải con người cho chính họ; lý trí và đức tin có thể sát cánh trong việc chứng minh cho chúng ta biết điều gì là tốt, miễn là chúng ta muốn thấy; luật tự nhiên là nơi mà Lý trí sáng tạo chiếu soi, luật ấy mạc khải sự vĩ đại của chúng ta nhưng cũng cho ta thấy sự khốn cùng của con người khi nó không nhận biết tiếng gọi của sự thật luân lý.

76. Một khía cạnh của não trạng kỹ thuật đương đại là khuynh hướng xem những vấn đề và cảm xúc của đời sống nội tâm thuần túy từ quan điểm tâm lý, kể cả giảm thiểu thành vấn đề của não bộ. Theo đó, nội giới của con người bị tước đoạt ý nghĩa và dần dần nhận thức của chúng ta về chiều sâu hữu thể của linh hồn bị mất đi, như các thánh đã chứng minh. Vấn đề phát triển liên kết chặt chẽ với quan niệm của chúng ta về linh hồn con người, khi ta giảm thiểu cái “ngã” thành tâm lý và lẫn lộn sức khỏe của linh hồn với sự thoải mái về cảm xúc. Sự đơn giản hóa quá mức này bắt nguồn từ sự thiếu hiểu biết sâu xa về đời sống thiêng liêng, và làm cho ta không nhận ra được điều này: sự phát triển của các cá nhân và các dân tộc tùy thuộc một phần vào việc giải quyết những vấn đề thiêng liêng. Phát triển không chỉ bao gồm sự tăng trưởng vật chất mà còn cả sự tăng trưởng thiêng liêng, vì con người là “sự hợp nhất xác hồn”,[52] được sinh ra từ tình yêu sáng tạo của Thiên Chúa và hướng đến sự sống vĩnh cửu. Con người phát triển khi lớn lên trong tinh thần, khi linh hồn nhận biết chính mình và nhận biết những chân lý Thiên Chúa đã gieo trồng trong chiều sâu lòng họ, khi họ bước vào cuộc đối thoại với chính mình và với Thiên Chúa. Khi con người xa lìa Thiên Chúa, họ sẽ khắc khoải băn khoăn mãi. Sự tha hóa về mặt tâm lý và xã hội và nhiều thứ bệnh tâm thần đang phát triển trong những xã hội giàu có một phần là do những yếu tố thiêng liêng. Một xã hội phồn thịnh, phát triển cao về vật chất nhưng lại bóp nghẹt linh hồn, xã hội đó ở tự nó không thể dẫn đến phát triển đích thực. Những hình thức nô lệ mới như nghiện ngập và thiếu hy vọng mà nhiều người ngày nay đang rơi vào, không thể chỉ giải thích bằng lý do xã hội hay tâm lý nhưng chủ yếu là về thiêng liêng. Dù có vô vàn cách trị liệu vật lý và tâm lý, sự trống rỗng mà ở đó linh hồn cảm nhận mình bị bỏ rơi, sẽ làm cho con người đau khổ. Không thể có sự phát triển toàn diện và công ích phổ quát nếu không quan tâm đến thiện hảo luân lý và tinh thần của con người, vì con người là toàn thể xác và hồn.

77. Sự thống trị của kỹ thuật làm cho con người không còn nhận biết những gì không thể giải thích chỉ bằng vật chất. Tuy nhiên tất cả mọi người đều có kinh nghiệm về những chiều kích phi vật chất và thiêng liêng của sự sống. Nhận thức không đơn thuần chỉ là một hành vi vật chất, vì đối tượng được nhận biết luôn ẩn giấu cái gì đó vượt trên dữ kiện thường nghiệm. Mọi tri thức của chúng ta, dù là tri thức đơn giản nhất, cũng đều là một phép lạ nhỏ, bởi lẽ tri thức ấy không bao giờ được giải thích đầy đủ chỉ bằng những phương tiện vật chất mà ta sử dụng. Trong mọi sự thật đều có cái gì đó lớn hơn cái mà ta mong đợi, trong tình yêu mà ta đón nhận, luôn có một yếu tố khiến ta bất ngờ. Chúng ta sẽ không bao giờ hết ngỡ ngàng về những điều này. Trong mọi tri thức và mọi hành vi yêu thương, linh hồn luôn cảm nghiệm điều gì đó “lớn hơn”, xem ra giống như một món quà ta lãnh nhận, hay một chiều cao ta được nâng lên. Sự phát triển của các cá nhân và các dân tộc cũng được đặt ở chiều cao như thế, nếu ta nhận ra rằng phải có chiều kích thiêng liêng thì sự phát triển mới mang ý nghĩa đích thực. Điều đó đòi hỏi cặp mắt mới và con tim mới, có thể vượt lên trên tầm nhìn duy vật về những biến cố của nhân loại, có thể thoáng thấy cái “vượt lên trên” mà kỹ thuật không thể ban tặng. Bước theo con đường này, sẽ có thể theo đuổi sự phát triển con người toàn diện, sự phát triển có chuẩn mực định hướng là sức năng động của bác ái trong chân lý.

***

KẾT LUẬN

 

78. Không có Thiên Chúa, con người không biết mình sẽ đi về đâu và cũng không thể hiểu mình là ai. Đối mặt với biết bao vấn đề lớn lao của việc phát triển các dân tộc, gần như chúng ta mất can đảm và buông xuôi; lời của Đức Giêsu Kitô đến trợ giúp chúng ta, Đấng muốn chúng ta biết rằng: “Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15,5) và động viên chúng ta: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20). Đối mặt với bao công tác phải chu toàn, sự hiện diện của Chúa bên cạnh những ai kết hợp trong Danh Người và làm việc cho công bằng, sẽ nâng đỡ chúng ta. Trong Thông điệp POPULORUM PROGRESSIO, Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã nhắc nhớ chúng ta rằng con người không đủ khả năng tự tạo sự phát triển, vì con người tự mình không thể thiết lập một chủ thuyết nhân bản đích thực. Chỉ khi chúng ta, từng người cũng như từng cộng đồng, nhận ra rằng chúng ta được mời gọi trở thành con cái trong một gia đình của Thiên Chúa, khi đó chúng ta mới có khả năng đưa ra một tầm nhìn mới và triển khai những năng lực mới nhằm phục vụ cho một chủ thuyết nhân bản toàn diện.[53] Do đó, công việc phục vụ lớn nhất cho phát triển là nền nhân bản Kitô giáo, nền nhân bản làm sống lại đức bác ái và để cho chân lý hướng dẫn mình, khi đón nhận người này kẻ khác như những quà tặng thường xuyên của Thiên Chúa. Việc đón nhận Thiên Chúa cũng kéo theo sự đón nhận anh chị em và sự sống, phải được xem như một trách nhiệm liên đới và hân hoan. Ngược lại, việc đóng kín dựa theo ý thức hệ đối với Thiên Chúa và chủ thuyết vô thần của sự dửng dưng, quên mất Đấng Sáng Tạo, sẽ gặp nguy hiểm là quên đi những giá trị của con người; ngày nay đó là những ngăn trở lớn lao cho việc phát triển. Một nền nhân bản loại trừ Thiên Chúa là một nền nhân bản phi nhân. Chỉ có nền nhân bản nào khai mở cho Đấng Tuyệt Đối mới có thể hướng dẫn chúng ta trong việc thúc đẩy và hiện thực những hình thức sống mang tính xã hội và dân sự – trên bình diện cơ cấu, tổ chức, văn hóa và đạo đức – đồng thời giúp chúng ta tránh những nguy hiểm trở thành nô lệ cho những trào lưu hiện hành. Ý thức về tình yêu bất biến của Thiên Chúa sẽ nâng đỡ chúng ta trong sự dấn thân cực nhọc nhưng cao thượng, cho sự công bằng và sự phát triển các dân tộc, giữa thành công và thất bại trong việc theo đuổi không mỏi mệt những trật tự chân chính cho những thực tại nhân sinh. Tình yêu Thiên Chúa kêu gọi chúng ta vượt qua tất cả những gì ngăn cách và chóng qua; củng cố sức lực chúng ta để tiếp tục làm việc trong công cuộc tìm kiếm công ích cho mọi người, cho dù chưa hiện thực ngay bây giờ; và những gì chúng ta cố gắng hiện thực – chúng ta và những nhà chức trách chính trị và chuyên viên kinh tế – vẫn luôn thấp kém hơn những gì chúng ta khao khát.[54] Thiên Chúa ban cho chúng ta sức mạnh để chiến đấu và để chịu đau khổ vì tình yêu, lo lắng cho công ích, vì Người là TẤT CẢ cho chúng ta, là hy vọng vĩ đại của chúng ta.

79. Sự phát triển cần đến cac Kitô hữu biết giang tay hướng về Thiên Chúa trong thái độ cầu nguyện; các Kitô hữu đó ý thức rằng bác ái ngập tràn chân lý – Caritas in Veritate, từ đó xuất phát sự phát triển đích thực – không phải là công trình của chúng ta, nhưng được Thiên Chúa ban tặng cho chúng ta. Vì thế ngay trong những thời điểm khó khăn nhất và hoàn cảnh phức tạp nhất, chúng ta không những phải phản ứng cách ý thức, nhưng trước hết phải gắn bó vào tình yêu của Người. Sự phát triển đòi hỏi phải chú tâm đến đời sống tinh thần, quí trọng những kinh nghiệm tin tưởng vào Thiên Chúa, tình huynh đệ tinh thần trong Đức Kitô, phó thác vào sự quan phòng và lòng nhân từ của Thiên Chúa, tình yêu và sự tha thứ của Người, sự từ bỏ mình, đón nhận tha nhân, công bằng và hòa bình. Tất cả những điều này rất cần thiết để biến “các trái tim chai đá” thành “trái tim thịt” (Ed 36,26), để làm cho cuộc sống trên trái đất mang tính “thần linh” và nhờ thế mà xứng đáng với phẩm giá của con người hơn. Tất cả đều thuộc về con người, vì con người là chủ thể sự hiện sinh của mình; và đồng thời cũng thụôc về Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là nguyên lý và cùng đích của tất cả nhưng gì có giá trị và dẫn đến ơn giải thoát: “Thế gian, sự sống, sự chết, hiện tại hay tương lai, tất cả đều thuộc về anh em, mà anh em thuộc về Đức Kitô, và Đức Kitô lại thuộc về Thiên Chúa” (1Cr 3,22-23). Khao khát sâu xa nhất của các Kitô hữu là cả gia đình nhân loại có thể gọi Thiên Chúa là “Cha chúng con!”. Cùng với Người Con Một, ước gì mọi người có thể học cầu nguyện cùng Cha, và với những lời kinh mà chính Đức Giêsu đã dạy chúng ta, xin Cha cho ta biết làm cho Danh Cha được cả sáng khi sống theo Thánh Ý của Người, và tiếp theo là có được lương thực hằng ngày cũng như sự hiểu biết và khoan dung đối với những người có lỗi, xin đừng để chúng con sa chước cám dỗ, nhưng giải thoát chúng ta khỏi sự dữ (Mt 6,9-13).

Vào cuối năm thánh Phaolô, tôi muốn diễn tả ước muốn này bằng chính những lời của thánh Tông đồ trong thư Rôma: “Lòng bác ái không được giả hình giả bộ. Anh em hãy gớm ghét điều dữ, tha thiết với điều lành; thương mến nhau với tình huynh đệ, coi người khác trọng hơn mình” (Rm 12,9-10). Đức Trinh nữ Maria, Đấng đã được Đức Giáo Hoàng Phaolô VI tuyên bố là Mẹ Hội Thánh (Mater Ecclesiae) và được các Kitô hữu tôn vinh là Speculum Iustitiae (Gương Công Lý)Regina Pacis (Nữ Vương Bình An), xin Mẹ che chở và ban cho anh chị em, qua lời cầu bầu trên thiên quốc của Mẹ, sức mạnh, hy vọng và niềm vui mà chúng ta đang cần để tiếp tục dấn thân cách quảng đại để thực hiện “sự phát triển con người toàn diện và tất cả mọi người”.[55]

 

 

Ban hành tại Rôma, gần Đền Thờ thánh Phêrô,

ngày 29 tháng 6, nhằm ngày lễ hai thánh Tông đồ Phêrô và Phaolô, năm 2009,

vào năm thứ năm triều Giáo Hoàng của Tôi.

+ BENEDICTUS XVI

Giáo Hoàng

(Ủy Ban Giáo Lý Đức Tin/HĐGMVN)

 

 

 


[1] Đức Giáo Hoàng Phaolô VI, Thông điệp Populorum progressio, số 17.

[2] Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Sứ điệp Hòa Bình Thế Giới 2003, số 5: AAS 95 (2003), 343.

[3] Ibidem.

[4] Đức Giáo Hoàng Benedict XVI, Sứ điệp Hòa Bình Thế Giới 2009, số 13.

[5] Đức Giáo Hoàng Phaolô VI, Thông điệp Populorum Progressio, số 65.

[6] Ibid., số 36-37.

[7] Ibid., số 37.

[8] Công Đồng Vatican II, Sắc lệnh Apostolicam Actuositatem (Tông Đồ Giáo Dân), số 11.

[9] Đức Giáo Hoàng Phaolô VI, Thông điệp Populorum progressio, số 14; Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Thông điệp Centesimus Annus, số 32.

[10] Đức Giáo Hoàng Phaolô VI, Thông điệp Populorum Progressio, số 77.

[11] Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Sứ điệp Hòa Bình Thế Giới 1990, số 6.

[12] “Heraklit von Ephesus” (khoảng 535-475 TCN), di cảo 22B124.

[13] Toát Yếu Chủ Thuyết Xã Hội Của Giáo Hội, số 451-487.

[14] Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Sứ điệp Hòa Bình Thế Giới 1990, số 10.

[15] Đức Giáo Hoàng Phaolô VI, Thông điệp Populorum Progressio, số 65.

[16] Đức Giáo Hoàng Benedict XVI, Sứ điệp Hòa Bình Thế Giới 2008, số 7.

[17] Đức Giáo Hoàng Benedict XVI, Huấn thị cho các thành viên LHQ (18.4.2008): Insegnamenti IV,1 (2008) 618-626.

[18] Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Sứ điệp Hòa Bình Thế Giới 1990, số 13.

[19] Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Thông điệp Centesimus Annus, số 36.

[20] Ibid., số 38; Đức Giáo Hoàng Benedict XVI, Sứ điệp Hòa Bình Thế Giới 2007, số 8.

[21] Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Thông điệp Centesimus Annus, số 41.

[22] Ibidem.

[23] Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Thông điệp Evangelium Vitae, số 20.

[24] Đức Giáo Hoàng Phaolô VI, Thông điệp Populorum Progressio, số 85.

[25] Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Sứ điệp Hòa Bình Thế Giới 1998, số 3: AAS 90 (1998), 150.

[26] Theo thánh Thomas: “Ratio partis contrariatur rationi personae” trong: III Sent.d.5,3,2; và “Homo non ordinatur ad communitatem politicam secundum se totum et secundum omnia sua”, trong Summa Theoligiae I-II, q.21,a.4, ad 3.

[27]Công Đồng Vatican II, Hiến chế Lumen Gentium (Giáo Hội Thánh), số 1.

[28] Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Huấn thị cho Ủy Ban Thần Học Quốc Tế và Ủy Ban Học Thuyết Về Thánh Thomas thành Aquin (8.11.2001), số 3: Insegnamenti XXIV, 2 (2001) 676-677.

[29] Bộ Giáo Lý Đức Tin, Giải thích về tính duy nhất và tính phổ quát ơn cứu độ của Đức Giêsu Kitô và Hội thánh Dominus Jesus (6.8.2000), số 22. AAS 92 (2000), 763-764; Id., Doctrinal Note on some questions regarding the participation of Catholics in political life (24 November 2002), 8: AAS 96 (2004), 369-370.

[30] Đức Giáo Hoàng Benedict XVI, Thông điệp Spe salvi, số 31.

[31] Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Thông điệp Centesimus Annus, số 5.

[32] Ibid., số 12.

[33] Đức Giáo Hoàng Piô XI, Thông điệp Quadragesimo Anno (15.5.1931) AAS 23 (1931) 203; Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Thông điệp Centesimus Annus, số 48.

[34] Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII, Thông điệp Pacem in Terris, số 74.

[35] Đức Giáo Hoàng Phaolô VI, Thông điệp Populorum Progressio, số 10.41.

[36] Đức Giáo Hoàng Benedict XVI, Huấn thị cho Ủy Ban Thần Học Quốc Tế (5.10.2007): Insegnamenti III, 2 (2007) 418-421.

[37] Đức Giáo Hoàng Benedict XVI, Huấn thị cho các Giám mục Thái Lan nhân dịp Ad limina (16.5.2008): Insegnamenti IV,1 (2008) 798-801.

[38] Huấn thị Erga migrantes caritas Christi (3.5.2004): AAS 96 (2004) 762-822.

[39] Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Thông điệp Laborem Exercens, số 8.

[40] Huấn thị kết thúc cử hành Bí tích Thánh Thể cho người lao động (1.5.2000): Insegnamenti XXIII, 1 (2000) 720.

[41] Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Thông điệp Centesimus Annus, số 36.

[42] Đức Giáo Hoàng Benedict XVI, Huấn thị cho thành viên LHQ (18.4.2008) tại New York.

[43] Đức Giáo Hoàng Gioan XIII, Thông điệp Pacem in terris (11.4.1963); Toát Yếu Chủ Thuyết Xã Hội Của Giáo Hội, số 441.

[44] Công Đồng Vatican II, Hiến chế Gaudium et Spes, số 82.

[45] Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Thông điệp Sollicitudo rei Socialis, số 43.

[46] Đức Giáo Hoàng Phaolô VI, Thông điệp Populorum Progressio, số 41; Công Đồng Vatican II, Hiến chế Gaudium et Spes, số 57.

[47] Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Thông điệp Laborem Exercens, số 5.

[48] Đức Giáo Hoàng Phaolô VI, Tông thư Octogesima Adveniens, số 29.

[49] Đức Giáo Hoàng Benedict XVI, Huấn thị cho các thành viên Giáo hội Ý (19.10.2006) A.A.O 465-477

[50] Bộ Giáo Lý Đức Tin, Huấn thị Dignitas Personae, Phẩm Giá Con Người (8.9.2008): AAS 100 (2008), 858-887.

[51] Đức Giáo Hoàng Phaolô VI, Thông điệp Populorum Progressio, số 3.

[52] Công Đồng Vatican II, Hiến chế Gaudium et spes, số 14.

[53] Đức Giáo Hoàng Phaolô VI, Thông điệp Populorum Progressio, số 42.

[54] Đức Giáo Hoàng Benedict XVI, Thông điệp Spe Salvi, số 35.

[55] Đức Giáo Hoàng Phaolô VI, Thông điệp Populorum Progressio (26.3.1967), số 42.