Thánh Tôma Với Lễ Mình Thánh Chúa

0
60


 

Thánh Tôma Với Lễ Mình Thánh Chúa

Thời sự Thần học – Số 39, tháng 03/2005, tr. 16-24

Phan Tấn Thành

 

Truyền thống đã gán cho thánh Tôma Aquinô như là tác giả rất nhiều kinh phụng vụ và ngoài phụng vụ. Có lẽ nhiều người chỉ biết thánh nhân như là một nhà triết học hoặc thần học đã cung cấp cho Giáo hội nhiều suy tư sâu sắc; nhưng ít người biết rằng người cũng soạn nhiều kinh nguyện, cách riêng là những lời nguyện kính Mình Thánh Chúa. Các Sách Lễ bằng tiếng Latinh đều đặt trong phần phụ lục hai kinh nguyện của thánh Tôma đọc trước và sau khi dâng lễ (Praeparatio ad Missam – Gratiarum Actio post Missam. Oratio S. Thomae Aquinatis). Trước đây, tại các giáo phận do các cha Dòng Đaminh phụ trách, các tín hữu đọc kinh này hằng ngày (“Tôi lạy ơn Đức Chúa Trời có phép vô cùng…” – “Tôi cám ơn Chúa rất thánh”). Nhưng đặc biệt nhất là truyền thống đã gán cho thánh Tôma Aquinô là soạn giả những bản kinh phụng vụ lễ Kính Mình Thánh Chúa (Officium de festo Corporis Christi)[1]. Vào thời cận đại, khi duyệt lại các bản văn chính thức, vài nhà phê bình đã đặt nghi vấn chung quanh tác giả của bản kinh này, nhưng cha Jean Pierre Torrell cho biết là vấn đề đã giải quyết xong[2]. Tại sao vấn đề được đặt ra như vậy? Nghi vấn được đặt ra do hai lý do chính: 

– Thời xưa cũng như thời nay, mỗi lần ai được Toà thánh nhờ viết một văn kiện (thí dụ một thông điệp, một huấn thị hay một bản văn phụng vụ) thì họ phải giấu tên chứ không được phép đánh trống gõ mõ rêu rao cho cả làng biết.

– Lý do thứ hai là vào thời Trung cổ, chưa có luật tác quyền: sau khi xuất bản một cuốn sách, tác giả không đi đăng ký để giữ bản quyền. Ngày nay, tác quyền nhằm bảo vệ tác giả khỏi bị đánh cắp do nạn “luộc sách”; nhưng đời xưa thì ngược lại: có người xuất bản nhưng không dám đề tên của mình mà lại đi núp bóng một tác giả thời danh để dễ lưu hành hơn. Từ đó có nạn “gán ghép” tác giả! Cả hai lý do đó đều xảy ra cho Phụng vụ lễ kính Mình Thánh Chúa[3]

I. Nguồn gốc lễ Mình Thánh Chúa

Nên biết là tên gọi “Lễ Mình và Máu Thánh Chúa” (SS.mi Corporis et Sanguinis Christi sollemnitas) mới được đưa vào lịch phụng vụ từ sau công đồng Vaticanô II (1969), còn trước đó chỉ gọi là “lễ Mình Thánh Chúa” (Corpus Domini). Việc tôn kính Mình Thánh Chúa đã có từ lâu đời trong Hội thánh, đặc biệt qua việc cử hành Thánh lễ ngày Chúa nhựt. Nhưng việc dành ra một ngày trong năm làm lễ trọng kính Mình Thánh Chúa thì muộn hơn. Lễ này được chính thức thiết lập trong toàn thể Hội thánh do sắc chiếu Transiturus của Đức Thánh Cha Urbano IV ngày 11 tháng 8 năm 1264, với một nguồn gốc khá ly kỳ. Vào thời cận đại, các lễ phụng vụ thường bắt nguồn từ một sắc lệnh của Tòa thánh. Nhưng việc thiết lập lễ Mình Thánh Chúa thì không do sáng kiến của Toà thánh, nhưng bắt nguồn từ lòng đạo đức bình dân. Vào thế kỷ XIII, ra như phản ứng lại phong trào Albigeois (miền Nam nước Pháp) phủ nhận bí tích Thánh Thể, nhiều phong trào giáo dân ở Bắc Âu đã cổ động lòng sùng kính bí tích này. Họ tổ chức những cuộc thờ lạy Bánh thánh, giật chuông nhà thờ khi linh mục thánh-hiến bánh và rượu, và ban phép lành với Mình Thánh Chúa. Tại Liège (nay thuộc nước Bỉ), qua trung gian của thánh nữ Julienne (1193-1258) một nữ tu dòng Autinh ở Mont-Cornillon, họ xin đức cha Robert de Thorete, giám mục giáo phận được cử hành một lễ kính Mình Thánh vào ngày thứ năm sau Chúa nhựt kính Chúa Ba Ngôi. Ý nguyện đã được chấp thuận năm 1246, và một bản văn phụng vụ đã được soạn ra. Vào năm 1252, vị sứ thần Toà thánh bên Đức, hồng y Hugues de Saint Cher O.P., cảm kích trước những buổi cử hành trọng thể ở Liège, đã cho phép mở rộng việc cử hành lễ này trên toàn thể lãnh thổ nhiệm sở của mình. Trước khi đắc cử giáo hoàng (1261-1264), đức Urbanô IV nguyên là một giáo sĩ Liège (tên thật là Jacques Pantaléon) đã tham dự nhiều cuộc rước kiệu tại nguyên quán, và cũng đã nhận được đơn thỉnh nguyện xin phép cử hành lễ kính Mình Thánh Chúa trong toàn thể Hội thánh. Đang khi Tòa thánh còn suy tính thì xảy ra một biến cố tại nhà thờ Bolsena (cách Rôma 138 cây số) : năm 1263, một linh mục tên là Phêrô Praga (người Séc) trên đường hành hương Rôma, đang khi dâng Thánh lễ thì nổi lên lòng nghi ngờ về việc bánh rượu biến đổi thành Mình Máu Thánh. Thế rồi cha thấy Máu thánh chảy lênh láng trên khăn thánh. Tiếng đồn lan ra, và dân chúng tổ chức rước khăn thánh về nhà thờ chánh toà Orvieto (cách đó không xa), nơi ĐTC đang cư ngụ. Phép lạ này đã thúc đẩy việc thiết lập lễ Mình thánh Chúa trong toàn Hội thánh, với sắc chiếu Transiturus ngày 11/8/1264 như đã nói.

 

II. Thánh Tôma và phụng vụ lễ Mình Thánh Chúa

Lúc đó thánh Tôma đang dạy học ở Orvieto (1261-1265), nơi dòng Đaminh có học viện (Studium). Vì thế nếu thánh Tôma được mời soạn bài lễ phụng vụ thì cũng không gì lạ. Ắt là ngài cũng được cung cấp những bản văn đang lưu hành ở Liège. Tuy nhiên, như đã nói trên đây, soạn giả các bản văn phụng vụ (cũng như các văn kiện Toà thánh) không ký tên vào tác phẩm của mình. Mãi đến năm 1312, một tác giả lịch sử Giáo hội (Historia ecclesiastica, lib.22, cap.24, col.1154) tên là Tolomeo da Lucca mới tiết lộ danh tánh. Từ đó trở đi, các người viết tiểu sử thánh Tôma đều lặp lại nguồn tin đó. Thế nhưng vào thời cận đại, người ta đòi xét lại toàn bộ vấn đề, nghĩa là đòi hỏi phải có chứng cứ chắc chắn. Theo các nhà phê bình, mẩu tin của ông Tolomeo tiết lộ cách xa thời sự gần nửa thế kỷ, và không có nguồn nào khác để kiểm chứng. Vấn đề trở nên phức tạp hơn khi biết rằng tuy lễ Mình Thánh Chúa được thiết lập vào tháng 8 năm 1264, nhưng Đức Giáo hoàng Urbano IV băng hà vào đầu tháng 10 cùng năm, cho nên sắc chiếu chìm trong quên lãng. Bản văn phụng vụ cũng chịu chung số phận. Mãi đến khi họp công đồng chung tại Vienne bên Pháp (từ tháng 10 năm 1311 tới tháng 5 năm 1312) đức thánh cha Clementê V mới nhắc đến văn kiện đó. Phải chờ đến năm 1317 thì lễ Mình Thánh Chúa mới được cử hành đều đặn. Tổng hội của Dòng Đaminh họp năm 1318 tại Lyon mới truyền du nhập lễ này vào Sách nguyện. Bản văn phụng vụ gồm những phần sau:

Thánh lễ: Đừng kể ba bài ca trích từ Kinh thánh (ca-nhập-lễ, ca-dâng-lễ, ca-hiệp-lễ), công trình sáng tác chủ yếu là ba lời nguyện chính và nhất là ca-tiếp-liên. 

Phụng vụ giờ kinh. Việc lựa chọn các thánh vịnh không khó khăn cho lắm, và cũng có thể nói như vậy về các điệp ca. Điểm đặc sắc nằm ở các thánh thi và điệp ca Tin mừng. 

Thiết tưởng nên nên lưu ý vài điểm 

1/Từ thời thánh Tôma đến nay, trong Giáo hội đã diễn ra nhiều cuộc cải tổ phụng vụ. Những bản văn trong Sách Lễ và Sách nguyện hiện nay không hoàn toàn giống như lúc thánh Tôma sáng tác nữa. 

2/ Tuy nhiên, ta có thể nhận thấy sự liên tục nơi các bản văn căn bản của ngày lễ, chẳng hạn như các lời nguyện, và điệp ca Tin mừng. Cách riêng điệp ca Tin mừng Kinh chiều II không những được đọc như kinh viếng Mình Thánh nhưng còn được trích dẫn nguyên văn trong Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo (số 1402) vì đạo lý súc tích:

“Ôi yến tiệc Mình và Máu Thánh, Chúa Kitô thành lương thực nuôi ta!

Tiệc nhắc nhở Người đã chịu khổ hình và đổ đầy ân sủng xuống cõi lòng nhân thế ;

tiệc bảo đảm cho ta một ngày mai huy hoàng rực rỡ”.

Thánh thể được ví như một bàn tiệc, nhìn dưới ba chiều kích: hiện tại, quá khứ, tương lai. 

Trong hiện tại, đây là bàn tiệc nuôi dưỡng chúng ta như lương thực, và ban cho chúng ta ân sủng, nghĩa là sống trong tình nghĩa với Chúa. 

Chiều kích quá khứ được nhắc đến như là “tưởng niệm cuộc khổ hình Đức Kitô”, tức là hy lễ trên thập giá. 

Chiều kích tương lai của bí tích được diễn tả qua từ ngữ “bảo chứng của vinh quang”, nghĩa là sự thông hiệp sung mãn với Thiên Chúa. 

3/ Ngoài các bản “văn xuôi”, phụng vụ còn duy trì các bản “văn vần”, gồm các thánh thi các giờ Kinh Sách, Kinh Sáng, Kinh Chiều và Ca tiếp liên trong Thánh lễ (Lauda Sion Salvatorem). Phải chăng thánh Tôma cũng có tâm hồn thi sĩ? Nếu biết rằng các bản văn này đã được phổ nhạc (không những với điệu bình ca trong phụng vụ mà còn qua những bản hợp xướng nữa) vì thế có thể tặng thêm cho thánh Tôma tước vị nhạc sĩ nữa? Thực ra, rất có thể là thánh Tôma dựa vào các thánh thi đã có sẵn, và biến đổi các lời cho hợp với thần học về bí tích. 

– Trong số những thánh thi ngày lễ, bài thánh thi Kinh Chiều Pange lingua gloriosi quen thuộc hơn cả, bởi vì được hát trong các cuộc rước kiệu Mình Thánh Chúa, và cách riêng là hai đoạn chót Tantum ergo sacramentum. Trước đây chúng ta có bản dịch trong sách Toàn niên Kinh nguyện (“Chúng tôi kính lạy Mình thánh rất sang trọng, Máu Thánh rất châu báu vô cùng”). Sách Giờ kinh Phụng vụ đã dịch lại với ngôn ngữ hiện đại hơn, và cố gắng duy trì thể thơ. Thánh thi gồm có 6 đoạn, mỗi đoạn 6 câu trong nguyên bản Latinh, nhưng trong bản dịch Việt ngữ chỉ còn 4 câu. Đoạn thứ nhất là lời mời gọi hãy ca ngợi mầu nhiệm Mình rất vinh hiển và Máu châu báu đổ ra làm giá chuộc muôn dân bởi người con của phụ nữ cao vời và cũng là Vua muôn dân. Đoạn thứ hai khai triển niềm tin về thân thế và công trình của Đức Kitô: “Người đã được trao ban cho chúng ta, Người đã sinh ra cho chúng ta từ đức Trinh nữ thanh khiết; Người đã sống giữa trần thế gieo vãi hạt giống Lời Chúa; Người kết thúc cuộc lữ hành dương thế bằng một việc tuyệt diệu”, sẽ được mô tả trong hai đoạn Ba và Bốn. “Trong đêm Tiệc Ly, lúc ngồi bàn cùng với các anh em, sau khi đã tuân giữ những thủ tục luật cũ quy định, Người đã tự tay trao hiến mình cho 12 môn đệ. Lời Nhập thể bằng một lời đã đổi bánh thực trở nên thịt của mình; và rượu trở nên Máu của Chúa Kitô: cho dù giác quan ngỡ ngàng đi nữa, nhưng duy đức tin đã đủ để củng cố cho tấm lòng chân thành”. Hai đoạn 5 và 6 họp thành bài hát Tantum ergo, rút ra hệ luận thực hành từ niềm tin đến thờ lạy chúc tụng: “Nào chúng ta hãy cúi đầu thờ lạy bí tích cực trọng; nghi thức cũ đã nhường chỗ cho nghi thức mới; ta hãy lấy đức tin bù vào khiếm khuyết của giác quan”. Theo các nhà phê bình, đoạn chót không do thánh Tôma sáng tác, nhưng lấy lại từ vinh tụng ca của một thánh thi lễ thánh Agnes. 

– Một thánh thi khác, tuy không thuộc về phụng vụ lễ Mình thánh Chúa, nhưng thường được cử hành trong các buổi chầu Thánh Thể là Adoro te devote. Theo một thủ bản viết vào đầu thế kỷ XIV, thánh Tôma đã soạn kinh này vào lúc lâm chung. Tuy nhiên, các nhà phê bình bắt đầu đặt nghi vấn bởi vì các danh mục các tác phẩm thánh Tôma trước đó không nhắc đến kinh này. Thêm vào đó lại còn những vấn nạn thần học: nhiều từ ngữ trong thánh thi này không phù hợp với đạo lý thánh Tôma về bí tích Thánh Thể. Dù thế, cha Torrell cũng cho thấy những lý chứng tích cực về tác quyền của thánh Tiến sĩ Thiên Thần (sách đã dẫn, trang 132-135). Vào mùa Vọng năm nay, cha Raniero Cantalamessa đã bắt đầu chú giải thánh thi này trong loạt bài giảng các ngày thứ 6 trước mặt Đức Thánh Cha. 

Tôi xin trích dẫn nguyên bản Latinh, kèm theo bản dịch tiếng Pháp, và sau cùng là bản dịch Việt ngữ (cổ) trong sách Mục lục (địa phận Sàigòn). 

Adoro te 
Adoro te devote, latens Deitas, 
Quae sub his figuris vere latitas; 
Tibi se cor meum totum subjicit, 
Quia te contemplans totum deficit. 
Visus gustus, tactus in te fallitur, 
Sed auditu Solo tuto creditur. 
Credo quidquid dixit Dei Filius, 
Nil hoc Veritatis verbo verius. 
In cruce latebat sola Deitas, 
At hic latet simul et humanitas. 
Ambo tamen credens atque confitens. 
Peto quod petivit latro poenitens. 
Plagas, sicut Thomas, non intueor; 
Deum tamen meum te confiteor. 
Fac me tibi semper magis credere, 
In te spem habere, te diligere. 
O memoriale mortis Domini, 
Panis vivus, vitam praestans homini, 
Praesta meae menti de te vivere 
Et te illi semper dulce sapere. 
Pie pellicane, Jesu Domine, 
Me immundum munda tuo sanguine, 
Cujus una stilla salvum facere 
Totum mundum quit ab omni scelere. 
Jesu quem velatum nunc aspicio 
Oro, fiat illud quod tam sitio: 
Ut te revelata cernens facie 
Visu sim beatus tuae gloriae. 
Amen. 

 

Je t”adore dévotement, Déité cachée, 
Qui sous ces figures est réellement présente. 
A toi mon coeur tout entier se soumet, 
Car en te contemplant tout entier il défaille. 
Vue, toucher, gỏt sont ici déroutés, 
Mais par l”oụe seule est totalement crédible. 
Je crois tout ce qu”a dit le Fils de Dieu, 
Rien n”est plus vrai que ce verbe de Vérité. 
Sur la croix se cachait la seule Déité, 
Ici se cache aussi l’humanité 
Pourtant, croyant et confessant l”une et l”autre, 
J”implore ce qu”implora le larron pénitent. 
Je n”inspecte pas tes plaies comme Thomas, 
Pourtant, je te confesse comme mon Dieu. 
Fais que de plus en plus en toi je croie, 
Qu”en toi j”espère, que je t”aime. 
O mémorial de la mort du Seigneur, 
Pain vivant donnant la vie à l”homme, 
Donne à mon âme de vivre de toi, 
Et de toujours te gỏter avec douceur 
Bon pélican, Seigneur Jésus, 
Purifie-moi, impur, par ton sang 
Dont une seule goutte peut sauver 
Le monde entier de ses crimes. 
Jésus, que j”aperçois maintenant voilé, 
Je te prie, fais ce dont j”ai tant soif: 
Que, contemplant à découvert ta face 
Je sois heureux de la vue de ta gloire. 
Amen. 

Tôi kính lạy Chúa Giêsu, 
Thật ẩn trong hình bánh rượu; 
Lòng tôi khâm ngưỡng nhìn xem, 
Trí tôi kinh khủng rụng rời. 
Tay cầm, miệng nếm, mắt xem, 
Ba ấy đâu dầu có ngại; 
Song việc tai nghe đã phải, 
Một nầy tin vững lòng tôi. 
Tôi tin mọi lời 
Con Đức Chúa Trời đã dạy; 
Không lời gì khác 
Hẳn bằng lời chân thật này. 
Trên Thánh Giá xưa, 
Tính Chúa ẩn che có một; 
Nay trong Bí-tích, 
Tính Người gồm ẩn hòa hai, 
Lạy Chúa, tôi tin, 
Cùng nguyện: xưng ra hai ấy, 
Dám trông phước thánh, 
Ban cho kẻ trộm lành xưa. 
Nay dầu không thấy Chúa tôi 
Như thánh Tô-ma thuở trước, 
Song tôi cũng xưng ra thật, 
Chúa là thật Chúa Trời tôi. 
Xin Chúa cho tôi, 
Càng đặng cậy tin mến Chúa, 
Cậy tin mến Chúa, 
Trên hết mọi sự đừng nguôi. 
Ớ phép nhiệm mầu 
Nhắc lại ơn xưa Chúa chuộc! 
Nầy bánh hằng sống, 
Xuống nuôi khắp hết mọi người. 
Lạy Chúa rất nhơn lành, 
Đã nuôi tôi bằng Mình Thánh Chúa 
Xin lấy Máu Thánh Chúa, 
Mà rửa tôi cho sạch tội đời. 
Chúa tôi rày ẩn nơi đây, 
Nguyện sau đặng toại lòng khao khát, 
Là khi hồn ra khỏi xác, 
Đặng lên trời mừng Chúa chẳng cùng. Amen 

(Lưu ý : Hình như trước đây kinh này đã được phổ nhạc) 

 


[1] Sách nguyện của Dòng Đa Minh, ấn bản cuối cùng trước công đồng Vaticanô II (Breviarium iuxta Ritum Ordinis Praedicatorum, Romae 1962, Pars altera), ghi chú như sau : “Celebratur festum Corporis Christi, cuius Officium editum est a sancto Thoma Aquinate”.

[2] Jean-Pierre Torrell, Saint Thomas Aquinas. Vol. I. The Person and His Work, translated by Robert Royal, The Catholic University of America Press, Washington DC 1996, p.129-136. Tác giả ghi nhận công trình của cha P.M. Gy O.P., La liturgie dans l’histoire, Paris 1990, p.223-245.

[3] James A. Weisheipl, Tommaso d’Aquino. Vita, pensiero, opere, Jaca Book Milano 1988, p.182-190.