Tại Sao Mừng Lễ Thánh Giuse Vào Ngày 19 Tháng 3 ?

0
101


 

Kính thưa quý vị đọc giả,

Vào ngày 19 tháng ba hằng năm, Giáo hội mừng lễ thánh Giuse, bạn trăm năm Đức Trinh nữ Maria. Thông thường, phụng vụ mừng lễ một vị thánh nhân dịp kỷ niệm ngày ly trần hay một biến cố liên quan đến vị ấy. Ngày 19 tháng 3 có liên quan gì đến thánh Giuse không? Linh mục Phan Tấn Thành trả lời.

************

Chung quanh lễ kính thánh Giuse, chúng ta nên ghi nhận vài dữ kiện sau đây. Việc tôn kính thánh Giuse ra đời rất chậm, so với Đức Mẹ và các thánh. Thánh Giuse thật là mẫu gương của sự thầm lặng khi còn sống cũng như sau khi qua đời. Thật vậy, lễ kính các thánh tông đồ, tử đạo đã được cử hành từ những thế kỷ đầu tiên, rồi đến lễ kính Đức Mẹ kể từ sau công đồng Ephêsô. Đang khi đó, trong suốt thiên niên kỷ thứ nhất, không ai nhắc đến thánh Giuse. Bước sang thiên niên kỷ thứ hai, bên Đông phương, từ thế kỷ X, giáo hội Constantinopolis mừng lễ thánh Giuse chung với các thánh tổ phụ (từ ông Abraham cho đến người hôn phu của đức Maria) vào ngày 26 tháng chạp ; hoặc chung với vua Đavit và tông đồ Giacôbê vào chủ nhật trong tuần bát nhật lễ Chúa Giáng sinh. Có lẽ do ảnh hưởng của các đoàn người hành hương Thánh địa trở về, lòng tôn kính thánh Giuse được nhen nhúm bên Tây phương. Ngôi nhà nguyện đầu tiên dâng kính thánh Giuse được cất tại Parma (Italia) vào năm 1074, và thánh đường đầu tiên được cung hiến cho Người tại Bologna (Italia) năm 1129. Tên thánh Giuse được ghi vào Tử-đạo-thư (martyrologium) ở vài nơi bên Đức (Reichenau, Trier) vào ngày 19 hoặc 20 tháng 3 hằng năm. Tuy nhiên mãi đến thế kỷ XIII mới thấy bài lễ (Officium) được sử dụng tại đan viện Dòng Biển đức tại Liège, nhưng các chứng tích vào thời đó vẫn còn hiếm hoi. Một bước tiến xa hơn được bắt đầu với sự xuất hiện các Dòng hành khất. Lễ thánh Giuse được mừng vào ngày 19 tháng 3 ở trong dòng Tôi tớ Đức Mẹ (quyết định của tổng hội năm 1324), dòng Phansinh (năm 1399), dòng Cátminh (cuối thế kỷ XIV). Theo đà đó, năm 1479, đức giáo hoàng Sixtô IV (dòng Phan sinh) truyền thêm lễ thánh Giuse vào sách nguyện và sách lễ Rôma; nhưng quyết định chỉ có giá trị cho giáo phận Rôma mà thôi. Phải chờ đến ngày 8/5/1621, đức Grêgôriô XV mới truyền cử hành trong toàn thể Hội thánh; thế nhưng nghị định không được chấp hành, và đức Urbanô VIII đã lặp lại vào năm 1642. Tóm lại, lễ thánh Giuse chỉ mới được mừng trên toàn thể Giáo hội, cách đây chưa đầy 500 năm, như vậy là khá muộn, so với các thánh tông đồ.

Tại sao lại chọn vào ngày 19 tháng 3 ?

Lần đầu tiên tên thánh Giuse được nhắc đến vào ngày 19/3 là một cuốn ATử đạo thư@ (martyrologium: nêu danh tánh của các thánh nhân dịp kỷ niệm ngày qua đời của các ngài) thế kỷ VIII của một đan viện Biển-đức ở Rheinau (thuộc tổng Zurigô, Thụy sĩ). Người ta không rõ nguồn gốc mối liên hệ giữa ngày 19/3 với thánh Giuse. Một giả thuyết cho rằng trước kia đã có lễ thánh Giuse Antiokia vào ngày 20/3 trong nhiều Atử đạo thư@. Có thể do sự trùng tên cho nên lịch đã ghi thánh Giuse hôn phu của đức Maria vào cùng ngày hoặc vào ngày hôm trước. Một giả thuyết nữa cho rằng thời xưa tại Rôma, ngày 19/3 là lễ của các người thợ tôn kính nữ thần Minerva; vì thế nó được thay thế bằng lễ kính thánh Giuse là một người thợ là điều xem ra dễ hiểu. Tiếc rằng chưa có đủ bằng chứng lịch sử về lễ kính thánh Giuse thợ vào các thế kỷ đầu tiên của Kitô giáo!

Tuy nhiên, cũng nên biết là vào thời cận đại, bên cạnh ngày 19 tháng 3, phụng vụ còn thêm những ngày khác để mừng kính thánh Giuse. Vào giữa thế kỷ XIX, đức thánh cha Pio IX, vào ngày 10/9/1847, đã châu phê lễ mừng thánh Giuse bảo trợ Hội thánh, lúc đầu được mừng vào chúa nhật thứ ba sau lễ Phục sinh, và sau đó dời sang ngày thứ tư trước đó. Tuy nhiên lễ này đã bị dẹp vào năm 1956, khi đức thánh cha Piô XII thiết lập lễ thánh Giuse lao động, mừng vào ngày 1 tháng 5, ngày lao động quốc tế. Vào lúc mới thiết lập, lễ này được mừng với bậc lễ trọng, nhưng với cuộc cải tổ lịch phụng vụ sau công đồng Vaticanô II, lễ này chỉ được mừng như lễ nhớ tự do.

Tại sao vậy ?

Bởi vì không phải tất cả mọi quốc gia đều mừng lễ lao động vào ngày 1 tháng 5. Thật vậy, ngày 1 tháng 5 gắn với lịch sử đảng Cộng sản, nên nhiều nước không muốn nghe nói đến. Tại Hoa kỳ và Canada, lễ lao động được cử hành vào thứ hai đầu tháng 9. Gần chúng ta, Australia và New Zealand để tự do hoặc dời sang ngày khác. Dù sao, trở lại với các lễ kính thánh Giuse, chúng ta không nên bỏ qua lễ Thánh Gia, lúc đầu được cử hành tại vài địa phương, và trở thành phổ quát từ năm 1914.

Ngoài ba ngày lễ vừa kể, mỗi năm được mừng một lần, nhiều nơi còn dành thứ tư hàng tuần để kính thánh Giuse. Ngày thứ tư có liên quan gì đến thánh nhân không ?

Tục lệ Kitô giáo dành ngày thứ sáu để kính nhớ cuộc Tử nạn của Chúa, ngày thứ bảy kính Đức Mẹ, và ngày thứ tư kính thánh Giuse. Tục lệ kính thánh Giuse tương đối mới. Năm 1876, các sư huynh giáo dục dòng Maristes được phép tưởng nhớ thánh Giuse mỗi ngày thứ Tư trong kinh Tiểu nhật khoá kính Đức Mẹ. Năm 1883 Sách lễ Roma và Sách nguyện đã xếp Thánh lễ ngoại lịch kính thánh Giuse vào ngày thứ Tư. Dưới khía cạnh lịch sử, các học giả không thấy một mối liên hệ nào giữa ngày thứ tư với thánh Giuse. Vào những thế kỷ đầu tiên của Kitô giáo, các tín hữu ăn chay mỗi tuần hai ngày, (thứ tư và thứ sáu), khác với người Do thái cũng ăn chay mỗi tuần hai ngày, nhưng là vào thứ hai và thứ năm. Theo sự giải thích của vài giáo phụ, ngày thứ sáu tưởng niệm Chúa Giêsu chịu chết trên thập giá, còn ngày thứ tư tưởng nhớ ngày Chúa bị Giuđa phản bội. Không rõ từ hồi nào người ta dành thứ tư để kính thánh Giuse, và vì lý do gì. Tuy vậy, cũng có người bóp trán để giải thích thế này. Ngày thứ tư là ngày ở giữa tuần lễ, với nhịp độ làm việc cao, khác với nhịp độ uể oải hay cầm chừng của đầu tuần hay cuối tuần. Như vậy đáng để dành cho thánh Giuse, gương mẫu của sự cần cù làm việc.

Chúng ta đang ở trong tháng Ba dương lịch. Tháng này được dành kính thánh Giuse. Tục lệ này bắt đầu từ hồi nào ?

Lý do của việc dành tháng 3 để kính thánh Giuse khá đơn giản: nó là sự phát triển của lễ kính thánh nhân vào ngày 19 tháng 3. Việc cử hành được nối dài với tuần bát nhật và được chuẩn bị bởi tuần chín ngày. Ngày 4/3/1713, đức thánh cha Clêmentê XI ban ân xá cho những người tham dự tuần cửu nhật được tổ chức tại nhà thờ thánh Inhaxiô tại Rôma. Kế đó người ta kéo dài việc tôn kính thánh Giuse ra suốt tháng 3 dương lịch. Năm 1802 giáo xứ thánh Augustinô tại Modena (Italia) in một quyển sách nhỏ với tựa đề ATháng hoa huệ, tháng ba dâng hiến thánh Giuse@. Kể từ đó trở đi, nhiều sách tương tự được xuất bản tại nhiều nơi. Ngày 27/4/1865 đức thánh cha Piô IX ban ân xá cho những ai làm viêc đạo đức trong một tháng để kính thánh Giuse. Sắc lệnh của đức Piô IX ngày 4/2/1877 cho phép tính tháng thánh Giuse từ ngày 16/2 đến ngày 19/3. Giáo hoàng Lêô XIII trong thông điệp Quamquam pluries năm 1889 đã khuyên nhủ thực hành chung việc đạo đức hằng ngày trong tháng Ba để tôn kính thánh Giuse.

Các việc đạo đức kính thánh Giuse là những việc nào ?

Có hai hình thức phổ thông nhất: một là kinh cầu thánh Giuse, hai là suy gẫm bảy sự vui buồn thánh Giuse. Về Kinh cầu thánh Giuse, bản văn lâu đời nhất là của cha Jerónimo Gracián dòng Cát-minh, xuất bản ở Roma năm 1597 bằng tiếng Ý và Tây ban nha. Tiếp theo, có rất nhiều bản văn khác về kinh cầu các thánh đã xuất hiện, trong đó một vài sai lầm thần học được xen vào. Vì thế, năm 1601 dưới thời đức Clêmentê VIII, Toà Thánh đã ra sắc lệnh tất cả các kinh cầu phải được đệ trình để duyệt y trước khi cho sử dụng công khai. Kinh cầu được lưu hành hiện nay do đức Piô X châu phê ngày 18/3/1909. Kinh cầu thánh Giuse dựa theo khung sườn của kinh cầu Đức Bà, với bố cục như sau. Sau phần dẫn nhập (kêu cầu Chúa Ba Ngôi, và Đức Mẹ), là lời khẩn nài thánh Giuse kèm theo 25 danh hiệu. Có thể phân ra thành 6 nhóm: a) sự thánh thiện (số 1); b) nguồn gốc : dòng dõi vua Đavít, và miêu duệ các tổ phụ (số 2-3); c) các chức vụ được uỷ thác đối với đức Maria (số 4-5) và với Chúa Giêsu (số 6-8); d) các nhân đức nội tâm, gồm 6 nhân đức: công chính, khiết tịnh, khôn ngoan, mạnh bạo, vâng lời, trung thành (số 9-14); e) các nhân đức trong tương quan với tha nhân: nhẫn nại, thanh bần, cần cù lao động, mẫu gương cho các gia trưởng (số 15-18); f) bảo trợ: những người trinh khiết (số 19), các gia đình (số 20), những người túng quẫn (số 21), những người ốm đau và lâm tử (số 22-23), chống cự ma quỷ (số 24), bổn mạng Hội thánh (số 25).

Kinh Suy gẫm bảy sự buồn cùng bảy sự vui thánh Giuse được gán cho chân phúc Gennaro Sarnelli (+1744) làm tác giả. Bảy sự vui buồn thánh Giuse suy gẫm những biến cố vui buồn của thánh Giuse, dựa theo những trình thuật Tin mừng thơ ấu của thánh Mathêu và thánh Luca, đó là:

Thứ nhất, Đức Mẹ mang thai Chúa Giêsu, gây ra nhiều băn khoăn cho thánh Giuse, nhưng sau đó được thiên thần giải thích. – Thứ hai, khi chứng kiến cảnh khó nghèo của Chúa Giêsu lúc sinh ra tại Belem. – Thứ ba, khi làm phép cắt bì cho Chúa Giêsu. – Thứ tư, khi cụ Simeon tiên báo những đau khổ của Chúa Giêsu. – Thứ năm, khi trốn qua Ai cập. – Thứ sáu, khi trở về Nadarét. – Thứ bảy, khi lạc mất và tìm lại Đức Giêsu trong đền thờ. Sau mỗi cảnh suy niệm, đọc một kinh Lạy Cha và Kính mừng, có thể thêm kinh Sáng danh.