Những Văn Kiện Đời Tu (Tập 1) – Sắc Lệnh Về Canh Tân Và Thích Nghi Đời Tu

0
454

Sắc Lệnh Về Canh Tân
Và Thích Nghi Đời Tu
(Perfectae caritatis, 28-10-1965)

Văn kiện gồm có 15 số, không phân chia chương mục. Dựa theo nội dung, chúng ta có thể mô tả thứ tự như sau. Ngoài lời mở đầu và kết luận, sắc lệnh bàn đến việc canh tân dưới năm khía cạnh : những nguyên tắc canh tân ; canh tân nội tâm ; canh tân tuỳ theo mỗi hình thức tu trì ; canh tân các yếu tố cốt yếu ; canh tân vài điểm cụ thể.

Mở đầu (1)

Ý nghĩa và giá trị của đời tu trong Giáo Hội

I/ Những nguyên tắc hướng dẫn việc canh tân

A/ Năm nguyên tắc lý thuyết (2) :

– theo Chúa Ki-tô ;

– ý định của vị sáng lập ;

– đời sống Giáo Hội hôm nay ;

– hoàn cảnh thế giới hiện đại ;

– canh tân đời sống thiêng liêng của mỗi người

B/ Ba lãnh vực cần phải canh tân thích nghi (3)

– lối sống, cầu nguyện, hoạt động ;

– cách thức quản trị

– hiến pháp và quy luật

C/ Những ai có trách nhiệm canh tân thích nghi (4)

– tất cả mọi phần tử ;

– các bề trên và tu nghị

II/ Việc canh tân cá nhân

A/ Những yếu tố chung cho hết mọi hình thức tu trì (5)

– tận hiến cho Thiên Chúa ;

– phục vụ Giáo Hội ;

– thông dự vào mầu nhiệm Vượt Qua ;

– lấy Đức Ki-tô làm trung tâm cuộc đời ;

– vừa chiêm niệm vừa hoạt đông

B/ Những nguồn mạch của đời sống thiêng liêng (6)

– vun trồng lòng mến ;

– cầu nguyện, suy niệm Lời Chúa ; cử hành phụng vụ ;

III/ Việc canh tân tuỳ theo mỗi hình thức tu trì

A/ Các Dòng thuần tuý chiêm niệm (7)

B/ Các Dòng làm việc tông đồ (8)

C/ Các Dòng đan tu, kinh sĩ, hành khất (9)

D/ Các Dòng không làm giáo sĩ (10)

Đ/ Các tu hội đời (11)

IV/ Canh tân những yếu tố cốt yếu

A/ Khiết tịnh (12)

B/ Khó nghèo (13)

C/ Vâng lời (14)

D/ Sống chung (15)

V/ Chín điểm cụ thể

A/ Nội vi Dòng kín (16)

B/ Tu phục (17)

C/ Huấn luyện các phần tử (18)

D/ Việc thành lập tu hội mới (19)

Đ/ Việc duy trì, đổi mới và từ bỏ vài công tác (20)

E/ Các Dòng và đan viện đang kiệt quệ (21)

G/ Liên hiệp giữa các Dòng và đan viện (22)

H/ Hiệp hội các bề trên cao cấp (23)

I/ Cổ động ơn gọi (24).

Sau khi Công Đồng bế mạc, Đức Phao-lô VI đã ban hành tự sắc “Ecclesiae sanctae” (6-8-1966) nhằm thực thi sắc lệnh về việc canh tân Dòng tu (chẳng hạn như : tổng hội canh tân và duyệt xét hiến pháp ; việc đọc kinh thần vụ ; tâm nguyện ; việc khổ chế ; khó nghèo ; đời sống nội bộ ; nội vi ; huấn luyện các phần tử ; liên hiệp và bãi bỏ các Dòng ; hiệp hội các bề trên cao cấp). Những quy luật này chỉ có tính cách tạm thời và chuyển tiếp cho đến khi ban hành Bộ Giáo Luật mới. Tuy nhiên, bên cạnh những quy định thực tiễn có tính cách tạm thời, các văn kiện của Công Đồng Va-ti-ca-nô II còn chứa đựng những đạo lý vượt lên khoảng cách thời gian, và luôn được trích dẫn trong các văn kiện hậu Công Đồng.

  1. (Lời mở đầu : Ý nghĩa của sắc lệnh. Đời tu trong tính năng động của Giáo Hội)

(a. Từ hiến chế Lumen Gentium tới sắc lệnh này). Trong hiến chế Ánh sáng muôn dân”, Thánh Công Đồng đã từng nêu rõ việc theo đuổi đức ái trọn hảo qua các lời khuyên Phúc Âm là công cuộc bắt nguồn từ giáo huấn và gương sáng của Thầy Chí Thánh và tỏ hiện như một dấu chỉ huy hoàng của Nước Trời. Giờ đây Thánh Công Đồng muốn bàn về đời sống và kỷ luật của các hội dòng có phần tử tuyên giữ khiết tịnh, khó nghèo và vâng lời, cũng như tiên liệu những nhu cầu của các hội dòng ấy theo những đòi hỏi của thời đại chúng ta.

(b. Sự phát triển của đời tu mang lại lợi ích cho Giáo Hội). Ngay từ thời sơ khai, đã có những người nam cũng như nữ, qua việc thực hành các lời khuyên Phúc Âm, quyết tự nguyện theo Chúa Ki-tô với một tinh thần tự do thanh thoát hơn, bắt chước Người cách trung thành hơn, và mỗi người một cách, tất cả đều sống tận hiến cho Thiên Chúa ; trong số đó có nhiều người được Chúa Thánh Thần thúc đẩy nên đã theo đuổi đời sống cô liêu tịch mạc, hoặc lập ra những dòng tu đã được Giáo Hội hài lòng dùng quyền của mình để đón nhận và phê chuẩn. Từ đó, bởi thánh ý Thiên Chúa, nảy sinh lạ lùng không biết bao nhiêu hội dòng khác nhau, đã mưu ích nhiều đến nỗi nhờ đó Giáo Hội chẳng những được trang bị đầy đủ hầu thi hành mọi việc thiện (x. 2 Tm 3,17) và sẵn sàng chu toàn nhiệm vụ kiến tạo Thân Thể Chúa Ki-tô (x. Ep 4,12) mà còn được con cái tô thắm bằng những ân huệ khác nhau để như một hiền thê trang điểm xinh xắn ra mắt lang quân mình (x. Kh 21,2) lại nhờ đó mà đức khôn ngoan muôn mặt của Thiên Chúa được tỏ hiện (x. Ep 3,10).

(c. Một đời sống được hiến dâng cho Chúa Cha, như Đức Ki-tô và cùng với Đức Ki-tô). Chính giữa biết bao ân huệ khác nhau ấy, tất cả những người được Thiên Chúa kêu gọi thực hành và quyết tâm khấn giữ trung thành các lời khuyên Phúc Âm đều hiến thân cho Chúa cách đặc biệt, khi noi theo gương Chúa Ki-tô, Đấng khiết trinh và khó nghèo (x. Mt 8,20 ; Lc 9,58), Đấng vì vâng lời cho đến chết trên thập giá (x. Pl 2,8) nên đã cứu chuộc và thánh hoá nhân loại. Được thúc đẩy như thế bởi đức mến mà Chúa thánh Thần đổ tràn trong lòng (x. Rm 5,5), họ càng ngày càng sống cho Chúa Ki-tô và Thân Thể Người là Giáo Hội (x. Cl 1,24). Bởi vậy, họ càng nồng nàn kết hiệp với Chúa Ki-tô bao nhiêu qua việc dâng mình gồm trọn cả cuộc sống, đời sống Giáo Hội càng phong phú hơn và việc tông đồ của Giáo Hội càng dồi dào mãnh liệt hơn bấy nhiêu.

(d. Tầm quan trọng và đối tượng độc giả của sắc lệnh này). Nhưng để giá trị của cuộc đời thánh hiến bởi khấn giữ các lời khuyên và để nhiệm vụ khẩn thiết của đời sống ấy trong hoàn cảnh hiện tại mưu cầu lợi ích lớn lao hơn cho Giáo Hội, Thánh Công Đồng này quy định những điểm sau đây liên quan đến các nguyên tắc tổng quát nhằm canh tân thích nghi đời sống và kỷ luật các dòng tu cũng như các tu hội có đời sống chung nhưng không có lời khấn và cả các tu hội đời, dù mỗi thứ vẫn giữ tính chất riêng biệt của mình. Còn các tiêu chuẩn riêng để trình bày và áp dụng cách thích ứng các nguyên tắc chung ấy sẽ được những cơ quan thẩm quyền sau Công Đồng quy định.

(Phần thứ nhất :
Canh tân thích nghi các hội dòng) (ss. 2-4)

  1. (Năm nguyên tắc chung của việc canh tân thích nghi)

Việc canh tân thích nghi đời sống tu trì một trật bao gồm sự liên tục trở về nguồn mạch của đời sống Ki-tô hữu và ơn linh ứng nguyên thuỷ của hội dòng cũng như sự thích nghi hội dòng với những hoàn cảnh đổi thay qua các thời đại. Phải xúc tiến việc canh tân ấy dưới sự thúc đẩy của Chúa Thánh Thần và sự hướng dẫn của Giáo Hội theo các nguyên tắc sau đây:

  1. (Theo Chúa Ki-tô). Bước theo Chúa Ki-tô như Phúc Âm dạy là tiêu chuẩn tối hậu của đời tu trì, nên tất cả các hội dòng phải coi tiêu chuẩn ấy như là quy luật tối thượng.
  2. (Đoàn sủng có tính cách lịch sử của hội dòng). Chính để mưu ích cho Giáo Hội nên mỗi dòng có tính cách và phận vụ riêng. Do đó phải trung thành nhận thức và noi giữ tinh thần cùng ý hướng đặc biệt của các Đấng sáng lập cũng như tất cả các truyền thống lành mạnh, vì tất cả những yếu tố đó tạo nên di sản của mỗi hội dòng.

c (Sự sống của toàn thể Giáo Hội). Mọi hội dòng đều phải tham dự vào đời sống của Giáo Hội và tuỳ tính cách riêng của mình phải hết sức cổ võ những sáng kiến và đề nghị của Giáo Hội, chẳng hạn trong lãnh vực Kinh Thánh, phụng vụ, tín lý, mục vụ, đại kết, truyền giáo và xã hội như thể là của riêng chính mình.

  1. (Lưu tâm đến thế giới mình đang sống). Các hội dòng phải thúc đẩy các tu sĩ tìm hiểu đầy đủ về hiện trạng của con người, thời thế và về các nhu cầu của Giáo Hội, làm sao để một khi biết khôn ngoan nhận định những hoàn cảnh của thế giới ngày nay trong ánh sáng đức tin và biết nung nấu nhiệt tâm truyền giáo, họ có thể nâng đỡ con người cách hữu hiệu hơn.

đ. (Mỗi người phải canh tân về mặt thiêng liêng). Đời sống tu trì trước hết nhằm làm cho các tu sĩ theo Chúa Ki-tô và kết hợp với Thiên Chúa nhờ tuyên giữ các lời khuyên Phúc Âm ; bởi thế, phải thận trọng cân nhắc : những nỗ lực tốt đẹp nhất nhằm thích nghi với các nhu cầu hiện đại sẽ chẳng sinh hoa kết quả gì, nếu không được linh động nhờ sự canh tân thiêng liêng, vì đó là yếu tố bao giờ cũng giữ địa vị then chốt, ngay cả khi phải xúc tiến các hoạt động bên ngoài.

  1. (Các tiêu chuẩn thực hành để canh tân thích nghi)

(a. Canh tân cách sống, cầu nguyện và làm việc). Cách sống, cách cầu nguyện và hoạt động phải tuỳ theo tính chất của mỗi dòng để thích ứng với hiện trạng thể lý và tâm lý của các tu sĩ ; cũng như với các nhu cầu tông đồ, những đòi hỏi văn hoá, những hoàn cảnh xã hội và kinh tế ở khắp mọi nơi, nhất là ở trong các xứ truyền giáo.

(b. Canh tân đường lối quản trị). Cũng phải theo các tiêu chuẩn ấy để duyệt lại đường lối quản trị các dòng.

(c. Cập nhật tu luật). Bởi vậy, các hiến chương, các kim chỉ nam, các bản tục lệ, sách kinh và nghi thức cũng như các tập sách luật tương tự phải được duyệt lại cho thích hợp ; phải loại bỏ những quy tắc lỗi thời để thích nghi với những văn kiện của Thánh Công Đồng này.

  1. (Người chịu trách nhiệm chính trong việc canh tân)

(a. Tất cả mọi phần tử). Việc canh tân hữu hiệu và thích nghi đúng đắn chỉ có thể thành đạt với sự cộng tác của hết mọi tu sĩ trong dòng.

(b. Các bề trên và tổng hội). Nhưng ấn định các tiêu chuẩn và thiết lập các khoản luật về việc canh tân thích nghi cũng như cho phép thí nghiệm đầy đủ và khôn ngoan, phải là nhiệm vụ riêng của các vị có thẩm quyền, nhất là của tổng tu nghị, và nếu cần, với sự phê chuẩn của Toà Thánh hoặc các đấng bản quyền tuỳ theo Giáo Luật ấn định. Còn các bề trên, phải thăm dò và thu nhận những ý kiến của các tu sĩ cách thích đáng trong những vấn đề liên quan đến toàn thể hội dòng.

(c. Các đan viện nữ). Để canh tân thích nghi các đan viện nữ, cũng có thể đón nhận nguyện vọng và ý kiến của các hội đồng liên viện hoặc của các hội đồng khác đã triệu tập hợp pháp.

 (d. Không nên tăng thêm luật pháp). Tuy nhiên, mọi người nên nhớ là phải đặt niềm hy vọng canh tân vào việc gia tăng lòng cần mẫn tuân giữ quy luật và hiến pháp hơn là làm thêm nhiều luật mới.

(Phần thứ hai :
Việc canh tân bản thân)

  1. (Yếu tố chung cho mọi hình thức đời sống tu trì)

(a. Tận hiến cho Chúa). Tu sĩ của bất cứ hội dòng nào cũng phải ghi tâm điều này : chính nhờ tuyên giữ các lời khuyên Phúc Âm mà mình đã đáp ứng ơn thiên triệu, vì thế, chẳng những phải chết đi cho tội lỗi (x. Rm 6,11), nhưng còn phải từ bỏ thế gian để sống cho một mình Thiên Chúa. Thực vậy, họ đã cung hiến toàn thể cuộc đời để làm tôi tớ Thiên Chúa và sự cung hiến ấy đã thực sự tạo nên một sự thánh hiến đặc biệt, ăn rễ sâu trong sự thánh hiến của phép rửa tội, đồng thời biểu lộ nó cách trọn hảo hơn.

(b. Phục vụ Giáo Hội). Vì sự tự hiến ấy đã được Giáo Hội chuẩn nhận, nên họ phải biết rằng mình đã được ràng buộc vào bổn phận phục vụ Giáo Hội.

(c. Thông dự vào mầu nhiệm Vượt Qua). Việc phụng sự Thiên Chúa như thế phải hối thúc và nung đúc họ thực hành các nhân đức, nhất là đức khiêm nhường và vâng lời, can đảm và khiết tịnh, nhờ những nhân đức ấy, họ tham dự vào sự tự huỷ của Đức Ki-tô (x. Pl 2,7-8) và đồng thời vào sự sống của Người trong Thánh Thần (x. Rm 8,1-13).

(d. Đức Ki-tô, trung tâm cuộc đời). Vậy, các tu sĩ phải trung thành với lời khấn của mình và vì Chúa Ki-tô, từ bỏ mọi sự (x. Mc 10,28), để theo Người (x. Mt 19,21) như một điều cần thiết duy nhất (x. Lc 10,42), nghe lời Người (x. Lc 10,39) và lo lắng đến những gì thuộc về Người (x. 1 Cr 7,32).

(đ. Vừa chiêm niệm vừa hoạt động). Vì thế, tu sĩ của bất cứ hội dòng nào, trong lúc chỉ đi tìm một Thiên Chúa trên hết mọi sự, đều phải liên kết việc chiêm niệm với nhiệt tâm tông đồ : vì nhờ chiêm niệm, họ kết hợp lòng trí với Thiên Chúa, và nhờ nhiệt tâm tông đồ, họ tham gia công cuộc cứu chuộc và mở rộng Nước Chúa.

  1. (Ưu tiên của đời sống thiêng liêng)

(a. Mến Chúa trên hết). Những ai khấn giữ các lời khuyên Phúc Âm đều phải tìm kiếm và yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự, vì Người đã yêu mến chúng ta trước (x. 1 Ga 4,10) ; trong mọi hoàn cảnh, họ phải cố gắng phát triển đời sống ẩn dấu cùng Chúa Ki-tô trong Thiên Chúa (x. Cl 3,3), vì đó là nguồn mạch và động lực phát sinh tình yêu tha nhân nhằm cứu độ nhân loại và xây dựng Giáo Hội. Cũng chính đức ái này làm linh động và hướng dẫn việc thực hành các lời khuyên Phúc Âm.

(b. Kinh Thánh và phụng vụ, nguồn mạch của đức ái). Vì thế, các tu sĩ của các hội dòng phải cần mẫn luyện tập tinh thần cầu nguyện và cả sự cầu nguyện, múc ở nơi nguồn mạch đích thực của nền tu đức Ki-tô giáo. Trước hết, hằng ngày, phải có quyển Kinh Thánh trong tay để học được những kiến thức siêu việt về Chúa Giê-su Ki-tô” (x. Pl 3,8) nhờ đọc và suy gẫm. Phải theo tinh thần của Giáo Hội để đem hết tâm hồn, miệng lưỡi chu toàn các lễ nghi phụng vụ, nhất là Mầu Nhiệm Thánh Thể, lại phải nuôi dưỡng đời sống tu đức bằng nguồn mạch phong phú ấy.

(c. Yêu mến tha nhân). Nhờ bổ sức như thế nơi bàn luật Chúa và bàn thờ, họ hãy yêu thương các chi thể của Chúa Ki-tô như anh em, kính trọng và yêu mến các vị chủ chăn với tình con thảo ; họ phải càng ngày càng sống và cảm nghĩ với Giáo Hội, và tận hiến phụng sự sứ vụ của Giáo Hội.

(Phần thứ ba :
Việc canh tân tuỳ theo mỗi hình thức tu trì)

  1. (Các dòng thuần tuý chiêm niệm)

Trong những hội dòng hoàn toàn chuyên lo chiêm niệm, các tu sĩ chỉ nhất tâm phụng sự một mình Thiên Chúa trong cô tịch và lặng lẽ, trong việc chuyên lo cầu nguyện và hân hoan hãm mình, thì cho dù nhu cầu hoạt động có khẩn thiết đi nữa, những hội dòng ấy vẫn giữ một địa vị cao quý trong Nhiệm Thể Chúa Ki-tô, trong đó, mỗi chi thể đều có một tác động khác nhau” (x. Rm 12,4). Thực vậy, họ dâng lên Thiên Chúa hy lễ chúc tụng tuyệt hảo, làm vẻ vang Dân Thiên Chúa bằng những hoa trái thánh thiện dồi dào, lấy gương lành lôi cuốn và làm cho dân ấy thêm lớn mạnh bằng việc tông đồ tuy âm thầm nhưng phong phú. Như thế, họ là vinh dự của Giáo Hội và là mạch tuôn trào các ơn thiêng. Tuy nhiên, cũng phải duyệt lại cách sống của họ theo những nguyên tắc và tiêu chuẩn về việc thích nghi canh tân như đã nói trên kia ; dẫu vậy, vẫn phải kính cẩn bảo tồn sự cách biệt thế gian và những sinh hoạt riêng trong đời chiêm niệm của họ.

  1. (Những hội dòng dấn thân làm việc tông đồ)

(a. Nhiều đặc sủng khác nhau). Trong Giáo Hội có rất nhiều dòng, giáo sĩ và giáo dân, dấn thân làm những việc tông đồ khác nhau tuỳ theo các ơn Chúa ban : ơn phục vụ để phục vụ, ơn dạy bảo để dạy dỗ, ơn khuyên răn để khuyên răn ; có kẻ thì phân phát cách hồn nhiên, có kẻ làm việc bác ái cách vui vẻ (x. Rm 12,5-8). Các ân sủng dẫu khác nhau, tuy nhiên cũng cùng một Thánh Thần (x. 1 Cr 12,4).

(b. Hoạt động tông đồ là yếu tố đặc biệt của đời tu). Nơi những hội dòng này, bản tính đời sống tu trì nhắm hoạt động tông đồ và từ thiện như một tác vụ thánh và như công trình riêng của đức ái, do Giáo Hội uỷ thác cho họ và phải được thi hành nhân danh Giáo Hội. Vì thế, toàn thể cuộc đời tu dòng của các tu sĩ phải thấm nhuần tinh thần tông đồ và toàn thể hoạt động tông đồ phải được linh động nhờ tinh thần tu dòng. Vậy, để các tu sĩ trước hết đáp lại ơn kêu gọi của họ là theo Chúa Ki-tô và phục vụ chính Chúa Ki-tô trong các chi thể của Người, hoạt động của các tu sĩ phải được xuất phát từ đời sống kết hiệp mật thiết với chính Chúa Ki-tô, nhờ đó, chính đức mến Chúa yêu người được triển nở.

(c. Thích ứng với việc tông đồ). Bởi thế, các hội dòng ấy hãy thích nghi luật lệ và tập tục riêng với những đòi hỏi của việc tông đồ họ chuyên lo. Nhưng, vì đời tu dòng chuyên lo hoạt động tông đồ mang nhiều hình thức khác nhau, nên trong việc thích nghi canh tân, cần xét đến tính cách khác biệt ấy, đồng thời đời sống phụng sự Chúa Ki-tô của các tu sĩ trong nhiều hội dòng khác nhau, cần được nâng đỡ bằng những phương thế thích hợp riêng tuỳ mỗi hội dòng.

  1. (Các dòng đan tu, kinh sĩ, hành khất)

(a. Các dòng đan tu). Phải trung thành duy trì và càng ngày càng làm sáng tỏ định chế đan viện khả kính trong tinh thần đích thực của nó, ở Đông Phương cũng như Tây Phương. Định chế ấy, qua bao thế kỷ, đã tạo được nhiều công nghiệp hiển hách trong Giáo Hội và cộng đồng nhân loại. Nhiệm vụ chính của các đan sĩ là dâng lên Thiên Chúa uy nghi việc phục vụ khiêm tốn nhưng cao quý trong phạm vi đan viện, hoặc hoàn toàn hiến thân phụng thờ Thiên Chúa trong đời sống ẩn dật, hoặc phụ trách cách hợp pháp một vài công cuộc tông đồ hay bác ái Ki-tô giáo. Vậy, tuy vẫn duy trì tính cách riêng của mỗi hội dòng, họ cũng cần canh tân những tập truyền tốt lành xưa và thích nghi chúng với những nhu cầu hiện đại của các linh hồn để đan viện trở thành như trung tâm vun trồng dân Ki-tô giáo.

(b. Các dòng kinh sĩ và các dòng hành khất). Cũng vậy, các dòng mà hiến pháp hay quy luật liên kết chặt chẽ đời sống tông đồ với việc đọc kinh nhật tụng trong cung nguyện và những luật lệ đan tu, hãy hoà hợp cách sống với những đòi hỏi của việc tông đồ thích hợp với họ, làm sao để trung thành giữ được lối sống của mình đồng thời vẫn sinh nhiều ích lợi cho Giáo Hội.

  1. (Các dòng không làm giáo sĩ)

(a. Thực sự là đời sống tu trì). Các hội dòng giáo dân, bất luận nam cũng như nữ, tự nó làm thành một bậc sống đầy đủ để tuyên giữ các lời khuyên Phúc Âm. Vì thế, Thánh Công Đồng quý trọng bậc sống rất hữu ích này, hữu ích cho sứ mệnh mục vụ của Giáo Hội trong lãnh vực giáo dục thanh thiếu niên, săn sóc bệnh nhân và chu toàn những nhiệm vụ khác. Thánh Công Đồng củng cố các tu sĩ ấy trong ơn gọi của họ và khuyến khích họ thích nghi cuộc sống với những đòi hỏi hiện đại.

(b. Có thể một vài phần tử lãnh tác vụ linh mục). Thánh Công Đồng tuyên bố rằng : trong những dòng dành cho các tu huynh, không có gì trở ngại nếu có vài tu sĩ lãnh nhận chức thánh để đáp ứng những nhu cầu cần đến chức vụ linh mục trong nhà mình, tuỳ tổng tu nghị quyết định, nhưng vẫn phải duy trì tính chất giáo dân của tu hội.

  1. (Tu hội đời)

(a. Không phải tu sĩ, nhưng đúng là đời sống thánh hiến). Những tu hội đời, tuy không phải là dòng tu, nhưng cũng tuyên giữ các lời khuyên Phúc Âm cách thực sự và trọn vẹn ở giữa đời, được Giáo Hội công nhận. Lời khấn ấy tận hiến các hội viên nam cũng như nữ, giáo dân cũng như giáo sĩ hiện đang sống giữa đời. Bởi đó, chính họ trước hết phải quyết tâm tận hiến toàn thân cho Thiên Chúa trong đức ái trọn hảo ; còn tu hội thì phải giữ tính chất đặc thù của mình, nghĩa là sống giữa đời, để dù ở đâu, họ cũng có thể chu toàn hữu hiệu việc tông đồ ở giữa đời và như phát sinh từ lòng đời theo như tu hội đã chủ trương khi thành lập.

(b. Tầm quan trọng của việc huấn luyện). Tuy nhiên, các tu hội ấy phải biết rõ rằng : chỉ có thể chu toàn nhiệm vụ lớn lao ấy một khi các hội viên được ân cần huấn luyện về đạo đức cũng như nhân bản, sao cho họ thực sự là men giữa đời để làm cho Thân Thể Chúa Ki-tô được mạnh mẽ và lớn lên. Vì vậy, các bề trên phải thận trọng lo cho họ được huấn luyện nhất là về đường tu đức, cũng như phải cổ võ cho việc huấn luyện ấy được tiếp tục nữa.

(Phần thứ tư :
Canh tân những yếu tố cốt yếu)

  1. (Khiết tịnh)

(a. Giá trị). Đức khiết tịnh vì Nước Trời” (Mt 19,12), mà các tu sĩ khấn giữ, phải được quý trọng như một ân huệ cao cả của ơn thánh. Thật vậy, ơn ấy giải thoát lòng con người cách đặc biệt (x. 1 Cr 7,32-35), để nồng nàn yêu mến Chúa và yêu mọi người hơn. Vì thế, đức khiết tịnh là dấu chỉ đặc biệt của kho tàng trên trời và cũng là phương tiện thích hợp nhất cho các tu sĩ hân hoan hiến mình phụng sự Thiên Chúa và làm việc tông đồ. Do đó, họ gợi ra trước mặt mọi Ki-tô hữu sự kết hợp lạ lùng do Thiên Chúa thiết lập và sẽ tỏ hiện đầy đủ ở đời sau, đó là Giáo Hội được nhận Chúa Ki-tô làm lang quân độc nhất của mình.

(b. Các phương thế thực hiện). Vậy, các tu sĩ hãy trung thành với lời tuyên giữ, tin vào lời Chúa, trông cậy vào ơn Người, đừng tự phụ vì sức riêng của mình, lại phải sống hãm mình và gìn giữ ngũ quan. Cũng đừng bỏ qua những phương thế tự nhiên giúp cho tinh thần và thể xác được lành mạnh. Như thế, họ sẽ không bị lung lạc vì những tà thuyết rêu rao rằng sự tiết dục trọn vẹn là việc không thể giữ được hoặc có hại cho sự phát triển con người ; và như bởi một bản năng thiêng liêng, họ hãy khước từ tất cả những gì đe doạ đức khiết tịnh. Hơn nữa, hết mọi người, nhất là các bề trên, đều phải nhớ rằng : đức khiết tịnh được bảo trì an toàn hơn cả khi trong đời sống cộng đoàn có tình huynh đệ đích thực giữa các tu sĩ.

(c. Điều kiện để có thể tuyên khấn khiết tịnh). Sự tiết dục trọn vẹn đụng chạm đến những khuynh hướng thâm sâu của bản tính con người, nên những người muốn khấn giữ khiết tịnh chỉ nên quyết định và chỉ được chấp thuận sau một thời gian thử thách thực đầy đủ và đã thấy có sự trưởng thành tâm lý, tình cảm cần thiết. Không những phải căn dặn họ về những nguy hiểm hay xảy đến cho đức khiết tịnh, nhưng còn phải huấn luyện thế nào để họ đón nhận cuộc sống độc thân hiến dâng cho Thiên Chúa cũng đem lại lợi ích cho con người toàn diện của họ.

  1. (Khó nghèo)

(a. Giá trị quy Ki-tô và tính hiện tại). Tự nguyện sống khó nghèo để theo Chúa Ki-tô là một dấu chứng ngày nay rất được quý trọng. Vì thế, các tu sĩ hãy miệt mài trau dồi và nếu cần, hãy biểu lộ sự khó nghèo đó bằng những hình thức mới. Nhờ nhân đức này, họ được san sẻ sự khó nghèo của Chúa Ki-tô, Đấng tuy giàu có, đã trở nên thiếu thốn vì chúng ta để chúng ta được giàu sang nhờ sự khó nghèo của Người (x. 2 Cr 8,9 ; Mt 8,20).

(b. Khó nghèo cá nhân, thực sự). Khó nghèo trong đời tu không chỉ hạn hẹp trong sự lệ thuộc bề trên khi sử dụng của cải, nhưng phải là nghèo khó trong thực tế và trong tinh thần để chỉ lo thu tích một kho tàng trên trời (Mt 6,20).

(c. Làm việc và phó thác cho Chúa). Trong chức vụ riêng của mỗi người, các tu sĩ phải cảm thấy luật làm việc là luật chung ràng buộc họ, và trong lúc nhờ đó mưu cầu những gì cần thiết để sống và hoạt động, họ hãy trút bỏ mọi âu lo quá đáng để trông cậy vào sự quan phòng của Cha trên trời (x. Mt 6,25).

(d. Có thể từ khước sở hữu của cải). Các hội dòng có thể ấn định trong hiến pháp cho phép các tu sĩ khước từ gia sản đã có hay sẽ lãnh nhận.

(đ. Khó nghèo tập thể : các chỉ dẫn tích cực). Chính các hội dòng, tuỳ hoàn cảnh địa phương, hãy nỗ lực làm chứng tập thể về khó nghèo, hãy sẵn lòng trích một phần của cải để cung ứng cho những nhu cầu khác của Giáo Hội và nâng đỡ những người thiếu thốn là những người mà mọi tu sĩ phải yêu thương với tâm tình của Chúa Ki-tô (x. Mt 19,21 ; 25,34-46 ; Gc 2,15-16 ; 1 Ga 3,17). Các tỉnh cũng như các nhà của hội dòng hãy san sẻ của cải cho nhau, để nơi dư thừa giúp đỡ nơi thiếu thốn.

(e. Khó nghèo tập thế : các chỉ dẫn tiêu cực). Mặc dầu các hội dòng được quyền sở hữu những gì cần thiết để sống ở đời này và để hoạt động, trừ khi nào quy luật và hiến pháp quy định ngược lại, nhưng họ hãy tránh mọi hình thức xa hoa trục lợi quá đáng hoặc thu tích tài sản.

  1. (Vâng lời)

(a. Giá trị quy Ki-tô, cứu chuộc và Giáo Hội). Nhờ tuyên giữ vâng lời, các tu sĩ dâng hiến ý muốn mình làm của lễ bản thân dâng lên Thiên Chúa, nhờ đó họ được kết hiệp với ý muốn cứu độ của Người cách kiên trì và chắc chắn hơn. Vậy theo gương Chúa Ki-tô, Đấng đã đến để làm theo ý Chúa Cha (x. Ga 4,34 ; 5,30 ; Dt 10,7 ; Tv 39,9) tự nhận làm thân phận tôi tớ” (Pl 2,7) và đã học tập đức vâng lời từ những đau khổ phải chịu (x. Dt 5,8), các tu sĩ, được Chúa Thánh Thần thúc đẩy, hãy lấy đức tin tùng phục các vị bề trên, đại diện Thiên Chúa, và nhờ các ngài hướng dẫn, họ phục vụ mọi anh em trong Chúa Ki-tô, như chính Chúa Ki-tô vì tuân phục Chúa Cha đã phục vụ anh em và hiến dâng mạng sống để cứu chuộc mọi người (x. Mt 20,28 ; Ga 10,14-18). Như thế, họ được liên kết chặt chẽ hơn với sứ mệnh phục vụ của Giáo Hội và nỗ lực đạt đến tầm mức sung mãn của Chúa Ki-tô (x. Ep 4,13).

(b. Thực hành vâng lời theo Tin Mừng). Vậy các tu sĩ hãy khiêm tốn vâng phục các bề trên của mình theo tiêu chuẩn quy luật và hiến pháp, trong tinh thần tin kính và yêu mến đối với thánh ý Chúa, dùng tất cả năng lực trí tuệ, ý muốn cũng như năng khiếu và ơn Chúa ban để thi hành các giới lệnh và chu toàn những phận vụ đã được uỷ thác cho mình, vì biết mình đang góp công xây dựng Thân Thể Chúa Ki-tô theo như ý định Thiên Chúa. Như thế, đức vâng lời trong đời tu chẳng những không làm giảm bớt phẩm giá, nhưng còn giúp nhân vị trưởng thành nhờ phát triển tự do của con cái Thiên Chúa.

(c. Thi hành quyền bính theo Tin Mừng). Các vị bề trên phải trả lẽ về các linh hồn đã được uỷ thác cho mình (x. Dt 13,17), nên hãy ngoan ngoãn tuân hành thánh ý Thiên Chúa khi chu toàn bổn phận và hãy thi hành quyền bính trong tinh thần phục vụ anh em, làm sao để chứng minh được mối tình Thiên Chúa đã yêu họ. Với lòng kính trọng nhân vị, các ngài hãy cai quản những kẻ thuộc quyền như là những con cái Thiên Chúa bằng cách thúc đẩy sự vâng phục tự nguyện. Phải đặc biệt để cho họ được tự do cần thiết trong việc xưng tội và linh hướng. Hãy hướng dẫn các tu sĩ biết cộng tác với tinh thần vâng lời tích cực và trách nhiệm, trong những bổn phận phải chu toàn và những sáng kiến cần có. Nên các bề trên hãy sẵn sàng lắng nghe các tu sĩ và khuyến khích họ cộng tác mưu lợi ích của hội dòng và của Giáo Hội, tuy nhiên vẫn phải duy trì quyền ấn định và truyền dạy những gì phải làm.

Các tu nghị và các hội đồng phải trung thành chu toàn bổn phận quản trị đã được uỷ thác đồng thời thể hiện sự tham gia và quan tâm của mọi tu sĩ, mỗi người theo cách thức riêng, đối với lợi ích của toàn thể cộng đoàn.

  1. (Đời sống chung)

(a. Thực hành. Các giá trị và kết quả). Đời sống chung được nuôi dưỡng bằng giáo lý Phúc Âm, phụng vụ thánh và nhất là bí tích Thánh Thể phải được duy trì trong lời cầu nguyện, trong sự hiệp thông cùng một tinh thần (x. Cv 2,42), theo gương Giáo Hội sơ khai, trong đó các tín hữu chỉ có một tấm lòng, một tâm hồn (x. Cv 4,32). Là chi thể của Chúa Ki-tô, các tu sĩ hãy mang lấy gánh nặng cho nhau (x. Gl 6,2), và trọng kính lẫn nhau trong tinh thần giao hảo huynh đệ (x. Rm 12,10). Thực vậy, khi được tình yêu của Thiên Chúa nhờ Chúa Thánh Thần đổ tràn đầy trong mọi tâm hồn (x. Rm 5,5), cộng đoàn giống như một gia đình thực sự đoàn tụ nhân danh Chúa, được hưởng sự hiện diện của Người (x. Mt 18,20). Yêu thương là chu toàn lề luật (x. Rm 13,10) và là dây liên kết sự trọn lành (x. Cl 3,14) ; nhờ đức ái mà chúng ta biết rằng mình được chuyển từ cõi chết sang cõi sống (x. 1 Ga 3,14). Hơn nữa, sự hiệp nhất huynh đệ loan báo Chúa Ki-tô đã đến (x. Ga 13,35 ; 17,21) và phát sinh một năng lực tông đồ mãnh liệt.

(b. Tránh phân biệt giai cấp). Để tình huynh đệ giữa các tu sĩ được mật thiết hơn, hãy để những anh em trợ sĩ, hay gọi bằng những tên tương tự, được liên kết chặt chẽ với cuộc sống và hoạt động của cộng đoàn. Trừ khi hoàn cảnh bắt buộc phải làm thế khác, phải liệu sao để trong các dòng nữ chỉ có một bậc tu độc nhất. Giữa các chị em, chỉ còn sự khác biệt do việc phân phối công tác đòi hỏi, công tác mà mỗi người lãnh nhận tuỳ theo ơn Chúa gọi đặc biệt hay do năng khiếu riêng.

(c. Bình đẳng). Còn các đan viện và hội dòng nam, không thuần tuý dành cho giáo dân, tuỳ tính cách riêng, theo tiêu chuẩn do hiến pháp ấn định, có thể chấp nhận giáo sĩ và giáo dân trên cùng một đẳng cấp, có quyền lợi và nghĩa vụ như nhau, trừ những gì thuộc về chức thánh.

(Phần thứ năm :
Canh tân trong vài điểm cụ thể)

  1. (Nội vi của đan viện nữ)

(a). Luật nội vi giáo hoàng phải được duy trì trong các đan viện nữ chuyên sống đời chiêm niệm ; nhưng sau khi đã thu thập ý nguyện của chính các đan viện, hãy thích nghi với hoàn cảnh thời gian và không gian, bỏ những tập tục đã lỗi thời.

(b). Còn các đan sĩ khác, chuyên lo việc tông đồ bên ngoài theo định chế, được miễn khỏi giữ luật nội vi giáo hoàng, để có thể dễ dàng hơn mà chu toàn bổn phận tông đồ đã được uỷ thác, tuy nhiên vẫn giữ luật nội vi theo hiến pháp ấn định.

  1. (Tu phục)

Y phục của các tu sĩ là dấu chỉ sự tận hiến, nên phải giản dị và khiêm tốn, khó nghèo và tề chỉnh, hơn nữa, phải phù hợp với sức khoẻ và thích nghi với hoàn cảnh thời gian, không gian cũng như nhu cầu chức vụ. Y phục của tu sĩ nam cũng như nữ, không thích ứng với các tiêu chuẩn trên đây, cần phải được sửa đổi.

  1. (Huấn luyện các tu sĩ)

(a. Sau năm tập). Việc canh tân thích nghi các hội dòng lệ thuộc rất nhiều vào việc huấn luyện tu sĩ. Vì thế, các tu sĩ không phải là giáo sĩ và các nữ tu không nên ra làm việc tông đồ ngay khi vừa mãn nhà tập, nhưng phải tiếp tục huấn luyện họ cách thích đáng về mặt tu trì, tông đồ, giáo lý và kỹ thuật trong những nhà có đủ điều kiện ; cũng nên cho họ thi lấy những văn bằng thích hợp.

(b. Huấn luyện thích hợp với thế giới hiện nay). Nhưng, để việc thích nghi đời tu dòng với những đòi hỏi của thời đại chúng ta không chỉ hời hợt bên ngoài và để những tu sĩ chuyên lo việc tông đồ bên ngoài theo hiến pháp khỏi thiếu khả năng chu toàn nhiệm vụ, phải cho họ học biết cách thích đáng những lối sống, cách cảm nghĩ và suy tư đang thịnh hành trong xã hội hiện tại, mỗi người tuỳ theo khả năng trí thức và tâm tính riêng. Phải biết hoà hợp các yếu tố của việc huấn luyện sao cho người tu sĩ có một đời sống thuần nhất.

(c. Thường huấn). Suốt đời, các tu sĩ hãy chuyên chăm hoàn bị việc huấn luyện tu đức, giáo lý, kỹ thuật ; còn các bề trên hãy tuỳ sức lo cho họ có cơ hội, phương tiện và thời giờ để chu toàn bổn phận ấy.

(d. Chọn lựa và chuẩn bị các người huấn luyện). Các bề trên cũng có nhiệm vụ chọn lựa kỹ càng và chuẩn bị cẩn thận những vị giám đốc, linh hướng và giáo sư.

  1. (Thành lập hội dòng mới)

Về việc thành lập những hội dòng mới, phải cân nhắc kỹ lưỡng xem có cần thiết, hay ít là có ích lợi lớn lao và có khả năng tăng triển không. Như thế mới tránh được sự thành lập bữa bãi những hội dòng vô ích hoặc thiếu sinh lực. Trong các Giáo Hội mới, hãy đặc biệt cổ võ và phát triển những hình thức dòng tu thích hợp với tính tình và phong hoá dân chúng, cũng như tập tục và hoàn cảnh địa phương.

  1. (Bảo toàn, thích nghi hoặc loại bỏ những công tác chuyên biệt của dòng)

(a). Các hội dòng phải trung thành duy trì và chu toàn phận sự riêng, hãy để ý đến lợi ích của toàn thể Giáo Hội và các giáo phận mà thích nghi công việc với nhu cầu thời đại và địa phương, sử dụng những phương thế thích hợp, cả những phương thế tân tiến ; trái lại hãy loại bỏ những công việc nào ngày nay ít phù hợp với tinh thần và bản chất đích thực của hội dòng.

(b). Tinh thần truyền giáo phải được tuyệt đối duy trì trong các hội dòng, và được thích nghi tuỳ bản chất riêng của mỗi hội dòng với hoàn cảnh hiện tại, để việc rao giảng Phúc Âm giữa muôn dân được hữu hiệu.

  1. (Các dòng và đan viện suy thoái)

Còn các hội dòng và đan viện nào theo ý kiến của đấng bản quyền liên hệ, và phán đoán của Toà Thánh, không có hy vọng hữu lý để phát triển được, thì cấm nhận thêm tập sinh và nếu có thể, hãy sáp nhập với một hội dòng hoặc một đan viện khác đang hưng thịnh hơn mà mục đích và tinh thần không khác nhau bao nhiêu.

  1. (Sự phối hợp giữa các hội dòng)

Nếu tiện lợi và được Toà Thánh chấp thuận, các hội dòng và đan viện tự trị hãy xúc tiến thành lập các hiệp hội (foederatio) nếu đại khái cùng thuộc về một gia đình tu, hoặc thành lập những liên hiệp (unio) nếu có hiến pháp, tập tục tương tự và cũng sống theo một tinh thần, nhất là khi quá nhỏ bé, hoặc thành lập những liên hội (associatio) nếu họ chuyên lo những công việc bề ngoài giống nhau hoặc trùng nhau.

  1. (Hiệp hội bề trên thượng cấp)

(a). Nên cổ võ những hội nghị hay hội đồng các bề trên thượng cấp do Toà Thánh quy định, vì những hội đồng như vậy giúp ích rất nhiều để mỗi hội dòng đạt tới mục đích riêng cách hoàn hảo hơn, để phát triển sự hợp tác hữu hiệu hơn nhằm mưu ích cho Giáo Hội, để phân phối đồng đều hơn các thợ chuyên giảng Phúc Âm trong một địa hạt nhất định, cũng như để cứu xét, thương lượng những vấn đề chung có liên quan đến các tu sĩ, trong khi phối hợp và cộng tác thích ứng với các hội đồng giám mục về lãnh vực hoạt động tông đồ.

(b). Các tu hội đời có thể thành lập những tổ chức tương tự.

  1. (Cổ võ ơn gọi tu trì)

(a). Các linh mục và những nhà giáo dục Ki-tô giáo phải cố gắng hết sức để cổ động cho ơn gọi tu trì được thêm đông, được chọn lựa thận trọng và thích đáng hầu đáp ứng đầy đủ với nhu cầu của Giáo Hội. Ngay khi giảng dạy thường ngày, cũng hãy năng đề cập đến những lời khuyên Phúc Âm và việc chọn lựa bậc sống tu trì. Trong khi giáo dục con cái theo luân lý Ki-tô giáo, cha mẹ phải vun trồng và bảo vệ các mầm non ơn gọi tu trì trong tâm hồn chúng.

(b). Các hội dòng được phép tuyên truyền cho hội dòng mình để cổ võ ơn kêu gọi và tìm các ứng sinh, nhưng phải hành động với sự khôn ngoan cần thiết và tuân giữ những tiêu chuẩn do Toà Thánh và các đấng bản quyền đã ban hành.

(c). Tuy nhiên, các tu sĩ hãy nhớ rằng : gương sáng của đời sống mới là lời giới thiệu hùng hồn nhất cho hội dòng mình và là lời mời gọi tốt nhất để gia nhập đời tu.

  1. (Kết luận)

Các hội dòng đã được Thánh Công Đồng có ý đề cập đến khi ấn định những tiêu chuẩn canh tân thích nghi này, hãy mau mắn đáp ứng ơn thiên triệu và phận vụ mình trong Giáo Hội thời hiện tại. Thực vậy, Thánh Công Đồng ngưỡng mộ cuộc sống trinh khiết, khó nghèo và vâng lời của họ, đó là cách sống chính Chúa Ki-tô đã nêu gương ; Thánh Công Đồng vững lòng kỳ vọng nơi những công cuộc rất hữu hiệu của họ, dù âm thầm hay công khai. Vậy, hết thảy các tu sĩ hãy nhờ đức tin trọn hảo, đức mến Chúa yêu người, lòng mến thánh giá và niềm cậy trông vinh quang đời sau, mà truyền bá Phúc Âm Chúa Ki-tô trên toàn thế giới, để mọi người thấy dấu chứng của họ mà ngợi khen Cha chúng ta trên trời (x. Mt 5,16). Như thế, nhờ lời cầu bầu của Đức Trinh Nữ Ma-ri-a rất dịu hiền, Mẹ Thiên Chúa, mà cuộc đời của Mẹ là khuôn mẫu cho mọi người”, các hội dòng mỗi ngày một bành trướng và trổ sinh những hoa trái cứu độ dồi dào hơn.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here