Những bài huấn giáo của thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II về Đức Maria vô nhiễm nguyên tội

0
357

Gioan Phaolô II

Những bài huấn giáo về  Đức Maria vô nhiễm nguyên tội

 ————————

 

I. ĐỨC MARIA HOÀN TOÀN THÁNH THIỆN

1.Nơi Đức Maria, “đầy ân phúc”,  Hội thánh đã nhận biết “kẻ toàn thánh và không bị nhiễm vết nhơ tội lỗi”, “ngay từ lúc thụ thai đã được trang điểm với những ánh quang thánh thiện hết sức đặc biệt” (HT 56).

Lời tuyên dương này đã đòi hỏi một chặng đường suy tư đạo lý lâu dài, cuối cùng đưa tới việc xác định long trọng tín điều Vô nhiễm nguyên tội.

Danh xưng “được đổ tràn ơn thánh”, do thiên sứ chào Đức Maria vào lúc Truyền tin, đã gợi lên một ân huệ khác thường mà Thiên Chúa đã ban cho thiếu nữ Nazaret nhằm tới chức vụ làm mẹ, nhưng tự nó từ ngữ này mô tả hiệu quả mà ân phúc Chúa đã để lại nơi Đức Maria. Đức Maria đã được thấm nhuần ân phúc và vì thế  đã được thánh hóa. Đặc tính kekharitomene mang một ý nghĩa rất súc tích, mà Chúa Thánh Thần đã không ngừng giúp Hội thánh  đào sâu thêm.

2. Trong bài huấn giáo trước,  tôi đã nêu bật rằng trong lời chào của thiên sứ, từ ngữ  “Đầy ân phúc” có giá trị như là tên riêng: đó là tên của Đức Maria trước mặt Thiên Chúa. Theo phong tục Do thái, tên biểu lộ tính chất của một người và một đồ vật. Do đó, danh xưng  “Đầy ân phúc”  bày tỏ khía cạnh sâu đậm nhất nơi nhân cách của thiếu nữ Nazaret: Người đã được ân huệ và tình thương của Chúa nhào nặn đến nỗi đã có thể được định nghĩa bằng lòng ưu ái riêng biệt như vậy.

Công đồng đã nhắc nhở rằng nhiều giáo phụ đã nhắc đến chân lý đó khi họ gọi Đức Maria là “ Đấng toàn thánh”, đồng thời các ngài cũng nói rằng” Đức Maria ra như được Thánh Thần nhào nặn biến đổi thành tạo vật mới” (HT 56).

Ân phúc, hiểu theo nghĩa là “thánh sủng” tác dụng sự thánh hóa bản thân, đã thực hiện nơi Đức Maria một sự tạo dựng mới,  hoàn toàn phù hợp với chương trình của Thiên Chúa.

3.Như vậy sự  suy tư thần học đã có thể gán cho Đức Maria một sự thánh thiện hoàn hảo, mà  để được đầy đủ ý nghĩa, cần phải bao gồm ngay cả lúc khởi đầu sự sống của Người.

Dường như tác giả đầu tiên của chiều hướng giải thích sự tinh tuyền nguyên thủy là một giám mục ở Palestina tên là Theoteknos Livias, sống khoảng giữa năm 550 và 650. Ông đã trình bày Đức Maria “thánh thiện và tuyệt đẹp”, “trong trắng không tì ố”, và bàn tới việc Người được sinh ra với những lời này:” Người sinh ra giống như các Kêrubim, bằng đất sét tinh ròng vô nhiễm” (Bài giảng lễ Đức Mẹ lên trời).

Những lời cuối cùng, nhắc đến việc tạo dựng con người đầu tiên, được tạo dựng bởi đất sét không bị hoen ố vì tội lỗi, đã gán cho việc Đức Maria sinh ra cũng những đặc tính đó: nguồn gốc của Đức Trinh nữ cũng  “tinh tuyền vô nhiễm”, nghĩa là không có tội gì. Việc so sánh với các Kêrubim còn muốn nói tới sự thánh thiện trổi vượt, đặc trưng của cuộc đời Đức Maria ngay từ lúc bắt đầu hiện hữu.

Lời khẳng định của  Giám mục Theoteknos đánh dấu một giai đoạn quan trọng trong cuộc suy tư thần học về mầu nhiệm Thân mẫu Đấng Cứu Thế. Trước đó, các giáo phụ Hy lạp và Đông phương thường  nói tới một sự thanh tẩy do ơn thánh tác động nơi Đức Maria hoặc là trước khi xảy ra cuộc Nhập thể, (T.Grêgôriô Nazianzênô) hoặc là vào chính lúc Thiên Chúa nhập thể (thánh Ephrem, ông Saveriano Gabala, ông Giacobe Sarug).

Còn ông Theoteknos xem ra muốn Đức Maria được  thanh tịnh ngay từ lúc bắt đầu cuộc sống. Thực vậy, Đấng đã được Chúa định làm Thân mẫu Đấng Cứu Thế không thể nào không có một nguồn gốc hoàn toàn thánh thiện, không bị vương vấn vết nhơ nào hết.

4.Vào thế kỷ thứ VIII, ông Anrê giám mục Crêta là nhà thần học đầu tiên đã coi ngày sinh nhật của Đức Maria như là một cuộc tạo dựng mới. Ông lập luận  như sau : “Hôm nay nhân loại đã nhận được vẻ đẹp cố hữu của mình với tất cả vẻ sáng ngời của sự tinh tuyền. Những hổ thẹn vì tội lỗi trước đây đã làm che khuất ánh sáng và vẻ đẹp của bản tính nhân loại; nhưng khi Thân mẫu Đấng Tuyệt Mỹ được sinh ra, thì bản tính nhân loại đã lấy lại những đặc ân cổ truyền ở nơi Người,  và  đã được đúc nặn lên theo khuôn mẫu hoàn bị mà Thiên Chúa  đã muốn… Hôm nay bắt đầu việc canh cải bản tính con người, và thế giới cũ kỹ đã được Thiên Chúa biến đổi, nó  đã nhận được những hoa trái đầu mùa của cuộc tạo dựng lần thứ hai” (Bài giảng I lễ Sinh nhật Đức Maria).

Rồi lấy lại hình ảnh của khối đất sét nguyên thủy, ông nói tiếp :” Thân xác của Đức Trinh nữ là một  mảnh đất mà Thiên Chúa tác tạo, là hoa trái đầu mùa của dòng dõi Adam được  thần hóa nơi Đức Kitô, là hình ảnh thực sự giống với vẻ đẹp nguyên thủy, là đất sét đã được bàn tay của Nghệ sĩ thiên linh nhào nặn” (Bài giảng I Lễ An nghỉ của Đức Maria).

Do đó sự thụ thai tinh tuyền và vô nhiễm của Đức Maria được coi như là khởi thủy của cuộc tạo dựng mới. Đây là một đặc ân ban riêng cho cá nhân của người phụ nữ được chọn làm Thân mẫu Đức Kitô, khai nguyên một thời gian ân sủng dồi dào mà Chúa muốn ban cho toàn thể nhân loại.

Đạo lý này,  được  lặp lại do thánh Germanô Constantinopolis và thánh Gioan Đamascô, cũng vào thế kỷ thứ VIII, làm sáng tỏ giá trị của sự thánh thiện nguyên thủy của Đức Maria, được trình bày như là khởi nguyên của sự cứu chuộc thế giới.

Vì thế, cuộc suy tư lý của Hội thánh đã làm phát triển ý nghĩa của tước hiệu “đầy ơn phúc”, mà thiên sứ đã gán cho Đức Trinh nữ. Đức Maria đầy tràn ơn thánh sủng, và ngay từ lúc bắt đầu hiện hữu. Ơn thánh này, trong thư gửi Ephesô (1,6) được Chúa Kitô ban cho tất cả các tín hữu. Sự thánh thiện nguyên thủy của Đức Maria trở thành một khuôn mẫu vô lường của hồng ân và của việc đổ tràn ân phúc Đức Kitô vào thế giới.

II. VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI

Bài huấn giáo hôm nay xét tới nền tảng Kinh thánh của chân lý Đức Maria Vô nhiễm nguyên tội, qua việc khảo sát vài đoạn văn cổ điển: 1/ Lc 1,28: Đức Maria được thiên sứ gọi tên là “Đầy tràn ơn phúc”. 2/ St 3,15: mối thù truyền kiếp giữa người nữ đòi hỏi Đức Maria không hề ở dưới quyền hành của ma qủy. 3/ Kh 12,1: người nữ khoác áo mặt trời.

1. Như chúng ta đã thấy trong những bài huấn dụ trước, trong suy tư đạo lý của Giáo hội bên Đông phương, thành ngữ “ Đầy ơn phúc” từ thế kỷ thứ VI đã được giải thích về sự thánh thiện chi phối suốt cuộc đời Đức Maria. Như vậy Người  đã khai trương một cuộc tạo dựng mới.

Bên cạnh trình thuật việc Truyền tin của thánh Luca, Truyền thống và Huấn quyền đã coi  bản văn gọi là “Phúc âm nguyên thủy” (St. 3,15) như là một nguồn nữa của Sách Thánh bàn về chân lý Vô nhiễm nguyên tội của Đức Maria.

 Đoạn văn này, dựa theo bản dịch Latinh: “Bà sẽ đạp dập đầu ngươi”, đã gợi hứng cho rất nhiều bức họa vẽ Đức Vô nhiễm  đạp con rắn ở dưới chân mình.

Trước đây chúng tôi đã có dịp lưu ý  rằng bản dịch Latinh không có sát với nguyên bản Do thái, theo đó không phải là người nữ, nhưng là dòng dõi của bà, miêu duệ của bà, chà đạp đầu con rắn. Do đó bản văn quy gán sự chiến thắng Satan không phải là cho Đức Maria, nhưng là cho Con của Người. Tuy nhiên bởi vì quan niệm Kinh thánh đặt ra một sự liên kết chặt chẽ giữa cha mẹ với dòng dõi, cho nên cũng phù hợp với nghĩa nguyên bản khi trình bày Đức Nữ Vô nhiễm đạp dập đầu con rắn, không phải do quyền năng riêng của mình nhưng do ân huệ của Con mình.

2.Hơn nữa, bản văn Kinh Thánh vừa nói còn nhắc tới sự thù địch giữa một bên là người phụ nữ và dòng dõi của người đó, còn bên kia là con rắn với dòng dõi của nó. Đó là một sự thù địch do chính Thiên Chúa đã ấn định và mang một ý nghĩa đặc biệt khi chúng ta nghĩa tới sự thánh thiện của Đức Trinh Nữ. Để có thể diễn tả sự thù địch giữa con rắn và dòng dõi của nó, Đức Maria cần phải được cứu thoát khỏi quyền lực của tội lỗi ngay từ lúc bắt đầu hiện hữu.

Về điểm này, thông điệp Fulgens Corona, do Đức Thánh Cha Piô XII công bố năm 1953 để kỷ niệm 100 năm tuyên bố tín điều Vô nhiễm nguyên tội, đã lý luận như sau : “Giả như đã có một lúc nào đó Đức thánh Trinh nữ Maria đã không được ơn thánh Chúa phù giúp, để cho vết nhơ của tội nguyên tổ chiếm đoạt, thì giữa Người và con rắn sẽ đâu còn sự thù địch truyền kiếp  mà truyền thống đã nói tới khi định nghĩa tín điều Vô nhiễm nguyên tội; trái lại, đã xảy ra một sự khuất phục của Đức Maria đối với con rắn ”.

Vì thế sự thù địch tuyệt đối mà Chúa đã thiết lập giữa người nữ và ma quỷ đòi hỏi rằng nơi Đức Maria sự Vô nhiễm nguyên tội, nghĩa là hoàn toàn được cứu thoát khỏi tội lỗi ngay từ lúc bắt đầu hiện hữu. Người Con của Đức Maria  đã mang lại chiến thắng trên Satan và đã cho bà Mẹ được hưởng trước cuộc chiến thắng đó, bằng cách cứu Người ra khỏi tội lỗi.

Do đó, Chúa Con đã ban cho Người quyền năng chống cự ma quỷ, và như thế trong mầu nhiệm vô nhiễm nguyên tội, Chúa đã thể hiện hậu quả của công trình cứu chuộc một cách lạ thường.

3.Danh xưng “ Đầy ơn phúc “ và Phúc âm nguyên thủy, khi lôi kéo sự chú ý của chúng ta đến sự thánh thiện đặc biệt của Đức Maria  và sự cứu thoát khỏi ảnh hưởng của Satan, làm cho chúng ta nghĩ tới,  – qua một đặc ân duy nhất Chúa ban cho Đức Maria -, về sự khởi đầu một trật tự mới như là hậu quả của tình thân hữu với Thiên Chúa, và do đó tạo ra một sự thù địch giữa con rắn và loài người.

Khi tìm căn bản Kinh Thánh cho tín điều Vô nhiễm nguyên tội, người ta cũng thường trưng dẫnđoạn văn ở chương 12 sách Khải huyền, nói tới một  “người nữ  khoác áo mặt trời”(12,1). Khoa chú giải ngày nay đồng ý cho rằng người nữ tượng trưng cho cộng đoàn dân Chúa, đau đớn sinh ra Đấng Mêsia sống lại.

Tuy nhiên, bên cạnh việc giải thích theo nghĩa tập thể, bản văn cũng gợi ý nói tới một cá nhân khi khẳng định  rằng : “Bà ấy sẽ sinh ra một con trai, được sắp xếp để thống trị các dân nước bằng vương miện bằng sắt” (12,5). Như vậy, liên quan tới  việc sinh con, người ta chấp nhận có sự đồng hóa người nữ khoác áo mặt trời với Đức Maria, người đàn bà đã sinh ra Đấng Mêsia. Thực vậy, người đàn bà “tập thể” được miêu tả với những nét tương tự  như  người đàn bà Thân mẫu Đức Giêsu.

Đặc trưng của người đàn bà này là việc làm mẹ: bà “thụ thai và kêu gào vì những sự đau quặn lúc sinh” (12,2). Chi tiết này gợi lên cảnh tượng Thân mẫu Đức Giêsu  đứng gần bên Thập giá (xc. Ga19,25), nơi mà Người thông dự vào cuộc sinh hạ cộng đoàn các tín hữu với tâm hồn bị luỡi gươm đâm thâu qua (xc. Lc 2, 35).

Mặc dù đau đớn, nhưng bà “được khoác áo mặt trời”, – nghĩa là bà phản chiếu ánh quang của Thiên Chúa, và trở thành “một điềm lạ vĩ đại” của mối tương quan tình thương của Thiên Chúa  dành cho dân Người.

Tuy những hình ảnh này  không đả động trực tiếp đến ân huệ Vô nhiễm nguyên  tội, nhưng chúng có thể được giải thích như là cách diễn tả lòng âu yếm của Chúa Cha đã bao trùm Đức Maria bằng ân phúc của Đức Kitô và ánh quang của Chúa Thánh Thần.

Sau cùng, sách Khải huyền còn mời gọi hãy nhìn chiều kích Giáo hội nơi bản thân Đức Maria: người đàn bà khoác áo mặt trời tượng trưng cho sự thánh thiện của Hội thánh, sự thánh thiện này đã được thực hiện toàn vẹn nơi Thánh Trinh nữ, do một ân huệ đặc biệt.

4.–  Đối lại với những lời khẳng định đặc biệt của Kinh thánh mà Truyền thống và Huấn quyền  dựa vào để chứng minh đaọ lý về sự Vô nhiễm nguyên tội, xem ra có những vấn nạn dựa trên nhữngđoạn văn Kinh thánh nói tới tội lỗi tràn ngập nhân loại.

Cựu ước nói tới một sự ô nhiễm tội lỗi chi phối hết mọi người “sinh ra bởi người nữ” (Tv 50,7; G 14,2). Trong Tân ước, Thánh Phaolô tuyên bố  rằng do tội của ông Ađam, “tất cả mọi người đều mắc tội” và “vì tội của một người mà sự luận phạt đã được đổ xuống hết mọi người” (Rm 5,12.18). Vì thế, như sách Giáo lý của Hội thánh Công giáo đã nói, tội nguyên tổ đã “chi phối bản tính con người”, vì thế nó bị “rơi vào  tình trạng suy đồi”. Tội đã được truyền lại “do sự phát triển của nhân loại, nghĩa là do việc truyền đạt bản tính con người đã mất ơn thánh và sự công chính nguyên thủy” (s.404). Tuy nhiên thánh Phaolo đã khẳng định một khỏan trừ của định luật tổng quát vừa nói: đó là Đức Kitô, Đấng đã “không biết chi đến tội lỗi” (2Cor 5,21), và như thế  Người có thể mang ơn thánh dồi dào đến  nơi “mà tội lỗi tràn ngập” (Rm 5,20).

Những lời vừa nói không hẳn đưa tới kết luận rằng Đức Maria cũng bị gộp trong vòng nhân loại tội lỗi. Sự  so sánh của thánh Phaolô giữa ông Ađam với Đức Kitô được bổ túc với sự so sánh giữa bà Evà với Đức Maria. Vai trò của người nữ vào lúc xảy ra bi kịch tội lỗi cũng được diễn lại vào lúc cứu chuộc nhân loại.

Thánh Irênêô đã trình bày Đức Maria như là bà Eva mới: Đức Maria  nhờ lòng tin và sự tuân phục đã làm nghiêng lại  cán cân của sự bất tín và bất tuân của bà Eva. Một vai trò như vậy trong lịch sử cứu độ đòi hỏi phải được miễn trừ khỏi tội lỗi. Vì thế, cũng tương tự như Đức Kitô Adam mới, thực là một điều xứng hợp cho  Đức Maria bà Eva mới, cũng không biết đến tội lỗi và như thế có khả năng cộng tác vào công cuộc cứu chuộc.

Tội lỗi, ví như dòng thác lôi cuốn tất cả nhân loại đã phải dừng lại trước Đấng Cứu Thế và cộng-sự-viên trung tín của Người. Dĩ nhiên là có một sự khác biệt căn bản: Đức Kitô hoàn toàn thánh thiện do hiệu lực của ơn kết hợp nhân tính với thiên tính; còn Đức Maria được nên thánh do ân sủng được lãnh nhận nhờ công trạng của Chúa Cứu Thế.

III. VÔ NHIỄM : ĐƯỢC CỨU CHUỘC NHỜ ĐƯỢC PHÒNG NGỪA TỘI LỖI

Tiếp tục trình bày sự tiến triển của đạo lý về Đức Maria Vô nhiễm nguyên tội, trong bài huấn giáo hôm nay, Đức Thánh Cha đề cập đến một vấn nạn then chốt nảy ra vào thời Trung cổ: nếu Đức Maria không mắc tội – tội nguyên tổ cũng như tội cá nhân – thì Người đâu cần ơn cứu chuộc của Chúa Kitô? Chân phước Duns Scôtô đã tìm ra một câu trả lời: Đức Maria vẫn cần được Chúa Kitô cứu chuộc; tuy nhiên ơn cứu chuộc tác động nơi Đức Maria theo một cách thức khác với chúng ta. Người được phòng ngừa khỏi mắc tội lỗi, còn chúng ta được cứu ra khỏi tình trạng vướng mắc tội lỗi.

1.Đạo lý về sự thánh thiện của Đức Maria ngay từ khi thụ thai đã gặp phải vài sự chống đối ở bên Tây phương, bởi vì nó đụng tới những lời khẳng định của thánh Phaolô về tội nguyên tổ và về sự bành trướng của tội lỗi trên toàn thể nhân loại; những luận cứ cũng đã được thánh Augustinô lặp lại và khẳng định.

Thực ra thánh Augustinô đã nhìn nhận Đức Maria được thanh tịnh hoàn toàn và thánh thiện vô song, xét vì Người được Chúa chọn làm Mẹ của một người Con cực thánh. Chính vì thế, trong cuộc tranh luận với ông Pelagiô, thánh Augustinô nhấn mạnh rằng sự thánh thiện của Đức Maria là một hồng ân ngoại lệ của ơn thánh, và ông nói như sau :” Chúng ta hãy miễn trừ  Đức Maria, tôi không muốn rằng chúng ta nói tới tội lỗi ở nơi Người bởi vì chúng ta cần phải tôn kính Thiên Chúa: nào chúng ta không biết rằng Người đã được ban một ơn ngoại lệ nhằm để chiến thắng hoàn toàn tội lỗi, Người đã xứng đáng thụ thai và sinh hạ Đấng không hề mắc tội lỗi nào hết hay sao ?” (De natura et gratia, 42).

Thánh Augustino đã nhấn mạnh tới sự thánh thiện hoàn toàn nơi Đức Maria và Người không mắc tội lỗi cá nhân nào chiếu theo chức phẩm cao vời làm Thân mẫu Thiên Chúa. Tuy nhiên ông không thể nào quan niệm được Đức Maria hoàn toàn thoát khỏi hết mọi tội lỗi ngay từ lúc thụ thai, bởi vì điều này không thể dung hợp được với đạo lý về mọi người đều mắc tội tổ tông và đạo lý về mọi người con cháu Adam đều cần được cứu chuộc. Để có thể giải quyết vấn nạn này,  cần phải đào sâu sự hiểu biết đức tin của Giáo hội thì mới làm sáng tỏ được vấn đề  Đức Maria  đã có thể hưởng nhờ hồng ân cứu chuộc của Đức Kitô ngay từ lúc thụ thai.

2. Vào thế kỷ thứ IX, lễ Thụ thai của Đức Maria đã du nhập vào Tây phương, đầu tiên là tại miền Nam nước Italia, ở Napoli, rồi sang Anh quốc.

Vào khoảng năm 1128,  một đan sĩ ở Canterbury,  ông Eadmêrô đã viết khảo luận đầu tiên về việc Thụ thai Vô nhiễm. Ông than phiền rằng lễ phụng vụ  đã bị dẹp bỏ, mặc dù lễ này mang lại sự thích thú cho những kẻ “chất phát và khiêm tốn  phụng sự Chúa” (Tractatus de conceptione B.M.V. 1-2) .  Vì muốn cổ động tái lập lễ này, ông đã gạt bỏ vấn nạn của thánh Augustinô chống lại đặc ân vô nhiễm nguyên tội căn cứ vào đạo lý về sự truyền bá tội nguyên tổ cho toàn thể dòng dõi nhân loại. Ông Eadmerô sử dụng hình ảnh của một trái dẻ “được mọc giống, nuôi dưỡng và hình thành  ở  gai góc nhưng vẫn không bị gai đâm” (Tractatus, 10) . Rồi ông lập luận như sau: “giữa những gai nhọn của sự sinh sản tự nó truyền thông tội nguyên tổ, Đức Maria đã được che chở cho khỏi mọi vết nhơ do ý muốn của Thiên Chúa,  Đấng đã “có thể làm và đã muốn như vậy. Do đó nếu Chúa đã muốn thì tất nhiên Người đã làm”.

Dù  ông Eadmerô đã dẫn một chứng cớ thuận lợi,  nhưng những nhà thần học thế kỷ XIII vẫn còn quay về  những vấn nạn do thánh Augustino đưa ra, và họ lập luận như sau: ơn cứu độ do Đức Kitô mang lại sẽ không còn tính cách phổ quát nếu điều kiện tội lỗi đã không bao trùm tất cả mọi người. Nếu Đức Maria đã không mắc tội nguyên tổ, thì Người không cần được cứu chuộc. Thực vậy,  ơn cứu chuộc hệ tại sự giải thoát những người ở trong tình trạng tội lỗi.

3.Tiếp theo một vài nhà thần học thế kỷ XII, ông Duns Scôtô đã cung cấp chìa khóa để vượt qua những  vấn nạn về đạo lý Đức Maria Vô nhiễm nguyên tội. Ông chủ trương rằng Đức Kitô, Đấng Trung gian hoàn hảo, đã thực hiện việc trung gian nơi Đức Maria một cách tuyệt vời, bằng cách phòng ngừa Đức Maria  khỏi tội Nguyên tổ.

Nhu vậy, ông Duns Scôtô đã du nhập vào thần học tư tưởng  “cứu chuộc phòng ngừa”, theo đó Đức Maria được cứu chuộc một cách rất lạ lùng: không phải bằng cách giải thoát khỏi tội lỗi, nhưng bằng cách phòng ngừa cho khỏi tội lỗi.

Quan điểm  của ông Duns Scôtô, được đặt tên là “Tiến sĩ  của đạo lý Vô nhiễm”, từ thế kỷ thứ XIV trở đi đã được nhiều nhà thần học, cách riêng thuộc dòng Phanxicô, tán thành.  Sau khi Đức Giáo Hoàng Sixtô IV phê chuẩn Bài Lễ Thụ thai vô nhiễm năm 1477, đạo lý này dần dần được các trường phái thần học khác chấp nhận.

Sự tiến triển về phụng vụ và về đạo lý đã chuẩn bị con đường đưa tới việc định tín về phía Huấn quyền tối thượng. Điều này chỉ đạt được sau nhiều thế kỷ, duới sự thúc đẩy của một trực giác đức tin căn bản đó là: Thân mẫu Đức Kitô phải được thánh thiện hoàn toàn  ngay từ lúc bắt đầu hiện hữu.

4.Không ai không nhận ra rằng đặc ân ban cho Đức Maria làm nổi bật tác động cứu chuộc của Đức Kitô, Đấng không những chỉ giải thoát mà còn phòng ngừa khỏi tội lỗi. Chiều kích phòng ngừa – được thể hiện hòantoàn nơi Đức Maria –  nằm trong chương trình cứu chuộc của Đức Kitô, Đấng  giải thoát con người khỏi tội lỗi, và còn ban cho nó ân huệ và sức mạnh để chiến thắng ảnh hưởng của tội lỗi trong suốt đời mình.

Như thế, tín điều  Đức Maria Vô nhiễm nguyên tội không làm lu mờ nhưng còn làm nổi bật những hậu quả của ơn cứu chuộc của Đức Kitô đối với bản tính nhân loại. Tất cả các Kitô hữu nhìn lên Đức Maria, – người đầu tiên được Đức Kitô cứu chuộc, người đã được đặc ân không hề bị lệ thuộc quyền năng của sự dữ và tội lỗi -, như là một khuôn mẫu hòantoàn và bức chân dung sống động của sự thánh thiện (xc. HT 65); sự thánh thiện mà họ được kêu gọi đạt tới trong cuộc sống, nhờ ơn thánh  Chúa.

IV. VIỆC TUYÊN BỐ TÍN ĐIỀU VÔ NHIỄM

Bài huấn giáo hôm nay giải thích nội dung của tín điều Đức Maria Vô nhiễm nguyên tội, được long trọng tuyên bố do Đức Giáo hoàng Piô IX, với sắc chiếu Ineffabilis Deus, ngày 8.12.1854. Vài chi tiết của tín điều được đức Piô XII bổ túc trong thông điệp Fulgens Doctrina, nhân dịp kỷ niệm 100 năm công bố.

1.Niềm xác tín rằng Đức Maria đã được phòng ngừa khỏi hết mọi tì vết tội lỗi ngay từ lúc thụ thai, đến nỗi  có thể đáng được gọi là Đấng toàn thánh, trải qua dòng thời gian đã đâm sâu vào phụng vụ và thần học. Vào đầu thế kỷ thứ XIX, sự tiến triển đó đã gợi lên một phong trào thỉnh nguyện khi tuyên bố tín điều về đặc ân Vô nhiễm nguyên tội.

Đáp lại lời yêu cầu đó, vào giữa thế kỷ, Đức Thánh Cha Piô IX, sau khi đã tham khảo các nhà thần học, đã thỉnh ý tất cả các Giám mục về việc có nên và có thể định nghĩa tín điều hay không, ra như  triệu tập một “công đồng bằng thư tín”. Kết quả thực là đầy ý nghĩa: đại đa số 604 Giám mục đã trả lời đồng ý với đề nghị.

Sau khi đã xúc tiến cuộc  tham khảo rộng rãi, biểu lộ mối ưu tư của Đức Piô IX trước việc phát biểu  đức tin của Hội thánh khi xác định tín điều, ngài cũng rất cẩn thận trong việc soạn thảo văn kiện.

Ủy ban thần học, do Đức Thánh Cha Piô IX thiết lập để khảo sát về chân lý mạc khải, đã dành cho sự sống đạo của Giáo hội  một vai trò quan yếu. Chính tiêu chuẩn này đã ảnh hưởng tới việc phát biểu tín điều, bởi  vì  những biểu thức của đời sống Hội thánh, của đức tin và phụng tự của Dân Chúa, chiếm chỗ đứng đặc biệt hơn là những lý luận của kinh viện.

Sau cùng, năm 1854, Đức Piô IX, với  sắc chiếu  Ineffabilis, đã long trọng công bố tín điều Vô nhiễm nguyên tội như sau: “Chúng tôi long trọng tuyên bố (declaramus, pronuntiamus et definimus) rằng đây là một đạo lý được Chúa mặc khải:  Trinh nữ Maria rất thánh, ngay từ lúc đầu tiên thụ thai, đã được phòng  ngừa khỏi tì ố của tội nguyên  tổ , nhờ  ân sủng diệu kỳ và do đặc ân của Thiên Chúa toàn năng, và vì nhắm tới công trạng của Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu chuộc nhân loại.  Vì vậy, chân lý đó cần phải được hết mọi tín hữu tin vững chắc”.

2. Lời công bố tín điều Vô nhiễm đã diễn tả nòng  cốt của dữ kiện đức tin. Đức Giáo Hoàng Alêxandrô VII, trong sắc chiếu Sollicitudo, năm 1661, đã nói tới ơn phòng ngừa của linh hồn  Đức Maria  “vào lúc được dựng nên và phú bẩm vào trong thân xác”. Trái lại, định tín của Đức Piô IX không đả động gì đến cách thức  phú bẩm linh hồn vào trong thân xác, và áp dụng việc được gìn giữ khỏi mọi tì ố  của tội nguyên tổ  cho bản thân Đức Maria, vào giây phút đầu tiên của việc thụ thai.

Việc phòng ngừa “khỏi mọi tì ố của tội nguyên tổ” cũng bao hàm một hệ quả tích cực là sự phòng ngừa khỏi hết mọi tội lỗi, và việc công bố Đức Maria thánh thiện hoàn toàn. Đạo lý được sự công bố tín điều mang lại sự đóng góp quan trọng. Thực vậy, việc diễn tả đặc ân một cách tiêu cực, – bị chi phối do những cuộc tranh luận bên Tây phương về tội nguyên tổ -, cần được bổ túc bằng việc phát biểu tích cực về sự thánh thiện của Đức Maria, được truyền thống Đông Phương nhấn mạnh rõ rệt.

Sự tuyên tín của Đức Piô IX chỉ nói tới sự gìn giữ khỏi tội nguyên tổ và không minh thị bao hàm sự gìn giữ khỏi các dục vọng. Tuy nhiên, việc Đức Maria được gìn giữ khỏi hết mọi vết nhơ tội lỗi cũng mang theo hệ luận rằng Người cũng được giữ gìn cho khỏi những dục vọng, nghĩa là những khuynh hướng vô trật tự , theo như công đồng Trentô đã nói, xuất phát từ tội lỗi và hướng chiều về tội lỗi.

3. “Nhờ  ân sủng diệu kỳ và do đặc ân của Thiên Chúa toàn năng”, sự gìn giữ khỏi tội nguyên tổ là một đặc ân của Thiên Chúa có tính cách hoàn toàn nhưng-không, mà Đức Maria đã lãnh nhận ngay từ lúc đầu tiên của sự hiện hữu.

Công thức định tín không nói rằng đây là một đặc ân độc nhất vô nhị, nhưng hiểu ngầm như vậy.  Tính cách độc nhất vô nhị được  khẳng định rõ rệt trong thông điệp Fulgens corona, năm1953, khi Đức Thánh Cha Piô XII nói tới “một đặc ân duy nhất không hề được ban cho một ai khác”, như vậy đã loại trừ ý kiến (tuy chẳng có nền tảng) của vài người nghĩ rằng đặc ân cũng  có thể được ban cho Thánh Giuse.

Trinh nữ Maria đã lãnh nhận đặc ân Vô nhiễm nguyên tội “nhắm tới công trạng của Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu chuộc nhân loại”, nghĩa là nhờ việc cứu chuộc phổ quát của Chúa Kitô.

Bản văn định tín không nói minh thị rằng Đức Maria  đã được cứu chuộc; tuy vậy, sắc chiếu  Ineffabilis đã khẳng định ở một chỗ khác rằng “Người đã được cứu chuộc  cách vượt bực”. Đây là một chân lý diệu kỳ: Đức Kitô là kẻ cứu chuộc Thân mẫu của mình và đã tác động nơi Người một sự cứu chuộc “một cách hết sức  tuyệt hảo”(Fulgens corona), ngay từ giây phút đầu tiên của cuộc hiện hữu. Công đồng Vaticano II đã tuyên bố rằng Hội thánh “trầm trồ tán dương nơi Đức Maria hoa trái phúc lộc nhất của cuộc Cứu chuộc” (Hiến chế Phụng vụ số 103).

4.Đạo lý được long trọng công bố như  là “do Chúa  mặc khải”. Đức Giáo Hoàng Piô IX thêm rằng chân lý đó “cần phải được hết mọi tín hữu tin vững chắc”. Do đó, những ai không chấp nhận, hoặc duy trì một ý kiến đối nghịch  thì “đức tin của ho bị chìm đắm” và “đã tự tách rời khỏi sự hợp nhất công giáo”.

Khi  công bố chân lý về tín điều Vô nhiễm nguyên tôi, vị tiền nhiệm của tôi đã ý thức rằng mình đang thực hiện quyền giáo huấn bất khả ngộ với tư cách là mục tử của toàn thể Hội thánh, một điều sẽ được định tín tại công đồng Vaticano I sau đó. Người đã dùng quyền giáo huấn bất khả ngộ nhằm phục vụ đức tin của toàn thể Dân Chúa. Thực là có ý nghĩa khi mà sự phục vụ  thể hiện qua việc xác định một đặc ân của Đức Maria.

V. THÁNH THIỆN SUỐT ĐỜI

Tự nó, tín điều Vô nhiễm nguyên tội chỉ khẳng định rằng Đức Maria được phòng ngừa khỏi tì ố của tội nguyên tổ. Tuy nhiên, truyền thống Hội thánh, nhất là bên Đông phương, đã nhìn Đức Maria như Đấng “Toàn thánh” (hoàn toàn thánh thiện). Người không mắc tội riêng cũng không mắc những khiếm khuyết luân lý.

1. Việc xác định tín điều Vô nhiễm nguyên tội chỉ nhắm trực tiếp đến lúc đầu tiên của cuộc đời Đức Maria; ngay từ lúc ấy Người đã được “phòng ngừa khỏi hết mọi tì ố của tội nguyên tổ”. Như vậy Huấn quyền của Đức Thánh Cha chỉ muốn xác định chân lý đã trở thành đối tượng của những cuộc tranh luận trải qua các thế kỷ: việc phòng ngừa  khỏi tội nguyên tổ,  chứ không bận tâm đến việc định nghĩa sự thánh thiện suốt đời của Đức Trinh nữ Thân mẫu của Chúa. Chân lý này đã nằm trong cảm thức chung của các Kitô hữu rồi. Cảm thức này chứng thực rằng Đức Maria không mắc tội nguyên tổ thì cũng được giữ gìn cho khỏi hết mọi tội cá nhân, và sự thánh thiện nguyên thủy đã được ban cho Người hầu làm tràn đầy trót cuộc sống của mình.

2.Hội thánh luôn luôn  nhìn nhận rằng Đức Maria thánh thiện và được thoát khỏi hết mọi tội lỗi và mọi khiếm khuyết luân lý. Công đồng Trentô bày tỏ niềm xác tín đó khi quả quyết rằng không ai “có thể tránh được, trong suốt cuộc đời, khỏi hết mọi tội lỗi dù là tội nhẹ đi nữa, nếu không do một đặc ân khác thường, như  Hội thánh vẫn hiểu về Đức Thánh Trinh nữ”  (DS 1573).  Kể cả người Kitô hữu, dẫu đã được ơn thánh biến đổi và canh tân, vẫn còn có thể phạm tội. Thực vậy, ơn thánh không phòng ngừa khỏi hết mọi tội lỗi trong suốt đời, trừ khi nào được một đặc ân đảm bảo sự miễn trừ tội lỗi, như công đồng Trentô đã khẳng định. Điều này đã xảy ra nơi Đức Maria.

Công đồng Trentô đã không muốn định tín về đặc ân này, nhưng đã tuyên bố rằng Hội thánh  “chủ trương” (tenet), nghĩa là nắm giữ, khẳng định chắc chắn. Đây là một sự lựa chọn từ ngữ nhấn mạnh đến tính cách vững chắc của đạo lý, chứ  không  muốn xếp  vào những loạai lòng tin tưởng đạo đức hay ý kiến sốt sắng; chân lý này đã hiên diện trong niềm tin của Dân Chúa. Mặt khác, niềm thâm tín đó dựa trên ân phúc mà thiên thần nhận thấy nơi Đức Maria  vào lúc Truyền tin. Khi gọi Người là “Đấng đầy ân phúc”, kekharitomênê,  thiên sứ đã nhìn nhận nơi Người một phụ nữ được trang điểm bằng  sự toàn hảo bền vững và sự tràn đầy thánh thiện, không có bóng dáng tội lỗi, không có khiếm khuyết  về luân lý và đạo đức.

3.Một vài giáo phụ thuộc những thế kỷ đầu tiên, khi chưa thủ đắc niềm thâm tín về sự thánh thiện toàn diện của Đức Maria, cho nên đã gán cho Người một vài sự bất toàn hay khuyết điểm. Ngay cả một vài tác giả gần đây cũng lấy lại ý kiến đó.  Tuy nhiên những bản văn Phúc âm được họ trưng dẫn  để bảo vệ ý kiến này không thể nào cho phép dùng làm cơ sở để  khẳng định về một tội lỗi hay bất toàn luân lý ở nơi Thân mẫu Đấng cứu chuộc.

Câu trả lời của Đức Giêsu cho Thân mẫu của mình, lúc lên 12 tuổi: “Tại sao ông bà tìm tôi? Ông bà không biết rằng tôi phải lo lắng những công chuyện của Cha tôi sao?”(Lc 2,49), đôi khi đã được giải thích như là một lời trách móc kín đáo. Tuy nhiên, nếu đọc kỹ bản văn hơn thì chúng ta thấy rằng Đức Giêsu đã không khiển trách bà mẹ và ông Giuse vì đã đi tìm Người, xét vì hai vị có trách nhiệm phải trông nom mình.

Khi gặp lại Đức Giêsu sau khi đã khổ cực tìm kiếm, Đức Maria chỉ muốn hỏi lý do của cách cư xử như vậy: “Con ơi, tại sao con đã làm như vậy?” (Lc 2,48). Và Đức Giêsu đã trả lời bằng việc giải thích “tại sao”, chứ không hề trách móc; Người chỉ gợi lên mầu nhiệm mình là  con Thiên Chúa.

Những lời nói tại Cana: “Này bà, việc gì đến bà với tôi? Giờ tôi chưa tới” (Ga 2, 4), cũng không thể nào được giải thích như là một lời trách móc.

Đứng trước cảnh lúng túng sẽ xảy ra cho đôi tân hôn vì thiếu rượu, Đức Maria  ngỏ lời với Đức Giêsu một cách đơn sơ, tỏ bày vấn đề cho Người biết. Đức Giêsu, tuy biết mình là Đấng Mêsia chỉ phải vâng theo  ý của Cha, đã đón nhận lời yêu cầu của Mẹ. Nhất là Người đã đáp lại đức tin của Đức Trinh nữ, và như vậy Người đã khởi đầu những phép lạ, bày tỏ vinh quang của Người.

4. Một vài tác giả khác cũng giải thích theo lối tiêu cực  lời tuyên bố của Đức Giêsu, khi mà vào lúc bắt đầu  cuộc đời công khai, Đức Maria và thân quyến  muốn được gặp Người. Khi kể lại câu trả lời của Đức Giêsu đối với kẻ trình rằng: “Kìa mẹ và anh em của Thầy đứng ở ngoài và muốn gặp Thầy”, thánh sử Luca đã cho chúng ta chìa khóa để giải thích câu chuyện, nghĩa là phải đi từ tâm tình nội tại của Đức Maria, khác hẳn với những “anh em họ hàng” (xc. Ga 7,5).

Đức Giêsu trả lời: “Mẹ tôi và anh em tôi là những người lắng nghe Lời Chúa và đem ra thực hành” (Lc 8, 21). Thực vậy, trong trình thuật Truyền tin, ông Luca đã trình bày Đức Maria như là khuôn mẫu của viêc lắng nghe Lời Chúa và sự quảng đại tuân hành. Được giải thích trong bối cảnh đó, câu chuyện này trở thành một dịp ca ngợi Đức Maria, kẻ đã chu toàn kế hoạch của Thiên Chúa trong cuộc đời của mình. Những lời của Đức Giêsu, vừa chống lại mưu toan của anh em họ hàng, vừa tán dương lòng trung thành của Đức Maria đối với ý của Chúa cũng như vẻ cao cả của Người đã làm mẹ không những về thể lý mà nhất là về tinh thần.

Khi bày tỏ sự ca ngợi một cách gián tiếp như vậy, Đức Giêsu đã sử dụng một phương pháp độc đáo: Người đã nêu bật thái độ cao quý của Đức Maria, dưới ánh sáng của những lời khẳng định mang tính cách phổ quát, và bày tỏ sự liên đới và gần gũi của Đức Trinh nữ đối với nhân loại đang tiến lên con đường khó nhọc của việc nên thánh.

Sau cùng, những lời mà Chúa Giêsu dùng để đáp lại lời của một phụ nữ khen bà mẹ của mình có phúc: “Phúc cho những người lắng nghe Lời Chúa và tuân giữ!” (Lc 11, 28),  không hề nghi ngờ sự toàn thiện của Đức Maria; trái lại, muốn nêu bật việc Người trung tín chu toàn Lời của Chúa: đó là điều mà Hội thánh vốn hiểu khi dùng những lời đó vào những lễ  phụng vụ kính Đức Maria.

Thực vậy, bản văn Phúc âm, qua những lời tuyên bố của Đức Giêsu , đã muốn bày tỏ lý do cao quý nhất của Đức Mẹ nằm ở chỗ  kết khắng khít với Thiên Chúa và gắn bó hoàn toàn với Lời Chúa.

5.Đặc ân mà Thiên Chúa đã ban cho Đấng “Toàn thánh” đưa chúng ta đến chỗ ca ngợi những kỳ công mà ơn thánh đã thực hiện trong  cuộc đời Đức Maria.

Đặc ân đó cũng nhắc nhở chúng ta rằng Đức Maria luôn luôn thuộc về Chúa, và không có sự bất toàn nào  làm sứt mẻ sự hòa hợp giữa Người với Thiên Chúa.

Do đó,  cuộc sống dương thế của Người được đánh dấu bằng việc tiến triển không ngừng về đức tin, cậy và mến. Vì vậy, đối với các tín hữu, Đức Maria là dấu hiệu sáng ngời của lòng Chúa khoan dung  và là kẻ hướng dẫn chắc chắn tiến tới những đỉnh cao của  sự trọn lành Phúc âm và sự thánh thiện[1].

———————-

[1] Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo đã trình bày cả hai khía cạnh: tiêu cực, Đức Maria không mắc tì ố tội lỗi (số 488-493);  tích cực, Người là Đấng Toàn thánh (số 721-726; 2767).  Đức Maria được vô nhiễm nhờ ơn thánh gìn giữ khỏi tội lỗi, và trở thành lý do để chúng ta tin tưởng vào quyền năng của ơn thánh gìn giữ chúng ta khỏi phạm tội (số  2853-2854). Nơi Đấng Toàn thánh, chúng ta chiêm ngưỡng lý tưởng thánh thiện (số 829; 967).

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here