• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

Tông Huấn Familiaris Consortio (Gia Đình Kitô Hữu) Của ĐGH Gioan Phaolô II (Ngày 22-11-1981) – (2)

TÔNG HUẤN FAMILIARIS CONSORTIO

NHIỆM VỤ GIA ĐÌNH KITÔ HỮU TRONG THẾ GIỚI NGÀY NAY

CỦA ĐỨC GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLÔ II

Ngày 22 Tháng 11 Năm 1981

***

***

 

III. THAM DỰ VÀO VIỆC PHÁT TRIỂN XÃ HỘI

Gia đình, tế bào đầu tiên và sống động của xã hội

42. Bởi vì “Đấng Tạo hóa đã đặt gia đình làm nguồn gốc và nền tảng cho xã hội con người”, nên gia đình trở thành “tế bào đầu tiên và sống động của xã hội”.[1]

Gia đình có những liên hệ chặt chẽ và sống động xã hội vì nó làm thành nền tảng cho xã hội và không ngừng tiếp sức cho xã hội bằng việc phục vụ sự sống: chính giữa lòng gia đình đã sinh ra các công dân, và chính trong gia đình mà các công dân ấy lần đầu tiên thực tập các nhân đức xã hội, là linh hồn cho sinh hoạt và sự phát triển xã hội.

Như thế, vì bản chất và ơn gọi của nó, thay vì đóng khung trên chính mình, gia đình rộng mở đến những gia đình khác và đến xã hội, và chu toàn vai trò xã hội của mình.

Đời sống gia đình: kinh nghiệm hiệp thông và chia sẻ

43. Chính kinh nghiệm về sự hiệp thông và chia sẻ phải là đặc điểm cho đời sống thường nhật của gia đình, và tạo nên phần thiết yếu và căn bản mà gia đình đóng góp được cho xã hội.

Các tương quan giữa những phần tử trong cộng đồng gia đình được phát triển dưới sự thúc đẩy và hướng dẫn của luật “cho không” bằng cách kính trọng và vun trồng nơi mọi người cũng như nơi mỗi người, ý thức về phẩm giá con người như nguồn giá trị duy nhất, cụ thể hóa trong sự tiếp đón nồng nhiệt, gặp gỡ và đối thoại, quảng đại sẵn sàng phục vụ vô vị lợi và tương trợ sâu xa,…

Như vậy, phát huy sự hiệp thông đích thực giữa những ngôi vị có trách nhiệm trong gia đình trở thành một việc thực tập căn bản và không thể thay thế được cho đời sống xã hội, một gương mẫu và là một khích lệ cho các tương quan cộng đồng mở rộng, được đánh dấu bằng các đức tính: kính trọng, công bằng, ý thức đối thoại, tình yêu.

Bằng cách ấy, như các nghị phụ Thượng Hội Đồng Giám Mục đã nhắc lại, gia đình làm nên cái nôi và là phương tiện hữu hiệu nhất để nhân bản hóa và ngôi vị hóa xã hội: chính gia đình hoạt động cách độc đáo và sâu xa cho công cuộc kiến tạo thế giới, giúp đem lại được một đời sống thực sự nhân đạo, cách riêng là bảo tồn và truyền đạt các nhân đức và các “giá trị”. Như Công Đồng Vaticano II nói: gia đình là “nơi mà nhiều thế hệ gặp gỡ và giúp đỡ nhau trở nên khôn ngoan đầy đủ hơn cũng như giúp nhau hòa hợp những quyền lợi cá nhân với những đòi hỏi khác của cuộc sống xã hội”.[2]

Chính vì thế, đứng trước một xã hội càng ngày càng có nguy cơ làm cho con người mất nhân vị và trở thành vô danh tức là một xã hội phi nhân và có sức phi nhân hóa với những hậu quả tiêu cực dưới biết bao hình thức “chạy trốn” – như uống rượu, dùng ma tuý, hoặc cả đến nạn khủng bố – ngày nay gia đình vẫn còn làm chủ và chiếu toả những năng lực phi thường có thể kéo con người ra khỏi sự vô danh, thức tỉnh con người ý thức lại phẩm giá của mình, mặc lại cho con người một nhân tính sâu xa, và tích cực đưa dẫn con người với sự duy nhất và độc đáo của nó vào trong mạch sống xã hội.

Vai trò xã hội và chính trị

44. Vai trò xã hội của gia đình chắc chắn không thể giới hạn vào việc truyền sinh và giáo dục, cho dù hai công việc này là hình thức đầu tiên không thể thay thế được để diễn tả vai trò ấy.

Gia đình, dù biệt lập hay kết thành hiệp hội, đều có thể và phải dấn thân cho nhiều công cuộc phục vụ xã hội, cách riêng là lo cho những người nghèo và trong mọi trường hợp, lo cho những người và những tình cảnh mà các tổ chức từ thiện và cứu tế công cộng không thể lo hết được.

Sự đóng góp xã hội của gia đình có cái độc đáo riêng mà càng ngày người ta càng thấy rõ và càng phải tích cực cổ võ nhiều hơn, nhất là khi con cái bắt đầu lớn dần, để làm cho tất cả mọi thành phần trong gia đình đều tham gia hết sức có thể.[3]

Về điểm này, trong xã hội chúng ta cần phải nhấn mạnh tầm quan trọng ngày càng lớn của lòng hiếu khách, dưới mọi hình thức của nó hoặc chỉ đơn giản là để mở rộng cửa nhà mình, và hơn nữa, mở rộng lòng mình trước những nhu cầu của anh chị em chúng ta, hoặc còn đi đến chỗ dấn thân cụ thể để bảo đảm cho mỗi gia đình có được nơi ăn chốn ở cần thiết như một môi trường tự nhiên để bảo vệ và làm cho gia đình được phát triển. Và trên tất cả, gia đình Kitô hữu được mời gọi lắng nghe lời khuyến dụ của thánh Tông Đồ: “Hãy ân cần cho khách trọ nhà”,[4] và do đó, theo chân Đức Kitô và với tình bác ái của Ngài, họ còn được mời gọi hãy tiếp rước những anh chị đang gặp cảnh thiếu thốn: “Kẻ nào cho một người trong những kẻ bé mọn này uống một bát nước lã mà thôi, vì danh nghĩa là môn đệ của Thầy, thì quả thật, Thầy bảo các con, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu”.[5]

Vai trò xã hội của gia đình còn được mời gọi diễn tả dưới hình thức, can thiệp chính trị: chính các gia đình là những kẻ đầu tiên phải làm sao để các luật lệ và cơ chế của nhà nước không những đừng làm tổn thương các quyền lợi và bổn phận của gia đình, nhưng còn nâng đỡ và bảo vệ chúng một cách tích cực. Về điểm này, gia đình cần có một ý thức càng lúc càng mạnh mẽ rằng, mình là những người đi đầu của điều mệnh danh là “chính sách gia đình”, và mình phải lãnh lấy trách nhiệm biến đổi xã hội; nếu không chính gia đình sẽ là nạn nhân đầu tiên của những điều xấu vì đã thụ động và lãnh đạm đứng nhìn. Lời Công Đồng Vaticano II mời gọi vượt lên trên thứ luân lý cá nhân chủ nghĩa cũng là mời gọi các gia đình với tư cách là gia đình.[6]

Xã hội phục vụ gia đình

45. Tương quan chặt chẽ giữa gia đình và xã hội một đàng đòi hỏi gia đình phải mở rộng và tham gia vào xã hội cũng như tham gia vào việc phát triển xã hội, đàng khác lại đòi xã hội không được thiếu sót trong bổn phận nền tảng của nó là tôn trọng và thăng tiến gia đình.

Chắc chắn gia đình và xã hội có những vai trò bổ sung cho nhau trong việc bảo vệ và thăng tiến công ích cho hết mọi người và cho con người toàn diện. Nhưng xã hội, và đúng hơn nữa là quốc gia, phải nhận rằng gia đình là “một xã hội được hưởng một quyền lợi riêng biệt và ưu tiên”,[7] do đó trong những gì liên hệ tới tương quan giữa họ và gia đình, họ có nghĩa vụ trọng yếu phải theo đúng nguyên tắc hỗ trợ gia đình.

Theo nguyên tắc ấy, quốc gia không được tước mất những trách nhiệm mà gia đình có thể tự mình chu toàn lấy cách tốt đẹp, hoặc một mình hoặc bằng cách tự ý liên kết với những gia đình khác; trái lại quốc gia phải hết sức tạo điều kiện thuận lợi và khơi động những sáng kiến có trách nhiệm của gia đình. Xác tín được rằng, thiện ích qua gia đình đối với cộng đồng dân sự là một giá trị khẩn thiết mà người ta không thể từ bỏ, quyền bính công cộng phải hết sức xả thân để cung ứng cho các gia đình mọi sự trợ giúp – về kinh tế, xã hội, giáo dục, chính trị, văn hóa – mà họ cần có để hòan thành các nghĩa vụ của họ một cách thật sự nhân bản.

Hiến chương về quyền gia đình

46. Hành động hỗ tương để nâng đỡ và phát triển lẫn nhau giữa gia đình và xã hội là một lý tưởng thường bị các sự kiện thực tế đối ngược hẳn lại, lắm khi thật trầm trọng, theo đó người ta chỉ thấy có sự chia cách, có khi còn là đối nghịch giữa gia đình và xã hội.

Quả thế, như Thượng Hội Đồng Giám Mục vẫn hằng lưu ý, tình cảnh của rất nhiều gia đình, thuộc nhiều nước khác nhau thật đáng đặt thành vấn đề, ngay cả khi tình cảnh ấy đúng ra không đến nỗi xấu: ngược với công lý, các luật pháp và cơ chế không nhìn nhận những quyền bất khả xâm phạm của gia đình và ngay cả của nhân vị, và thay vì tự đặt mình phục vụ các gia đình, xã hội lại tấn công gia đình một cách tàn bạo các giá trị, và các yêu cầu của gia đình. Như thế, trong khi theo ý định của Thiên Chúa, gia đình là tế bào căn bản của xã hội, làm chủ những quyền lợi và bổn phận có trước các quyền lợi và bổn phận của quốc gia hay bất cứ một cộng đồng nào khác, thì nó lại đang là nạn nhân của xã hội, của sự trì trệ và chậm trễ không chịu can thiệp, và hơn nữa của những bất công rõ rệt trong xã hội.

Chính vì thế Hội Thánh công khai và mạnh mẽ đứng ra bảo vệ các quyền của gia đình chống lại những lạm dụng không thể dung thứ của xã hội và của nhà nước. Về phần các nghị phụ Thượng Hội Đồng Giám Mục, trong những quyền lợi của gia đình, các Ngài đề cập đến những quyền sau đây:

- Quyền được hiện hữu và được triển nở trong tư thế của gia đình, nghĩa là tất cả mọi người và cách riêng là những người nghèo đều được lập gia đình và duy trì gia đình mình bằng những phương tiện thích hợp.

- Quyền thi hành sứ mạng của mình trong tất cả những gì liên hệ tới việc truyền sinh và giáo dục con cái.

- Quyền được sống thân mật trong cuộc sống hôn nhân cũng như gia đình.

- Quyền có sự bền vững trong liên hệ vợ chồng và trong cơ chế hôn nhân.

- Quyền tin và tuyên xưng lòng tin của mình cũng như truyền bá lòng tin ấy.

- Quyền giáo dục con cái đúng với những truyền thống riêng của gia đình, đúng với những giá trị tôn giáo và văn hóa của nó, nhờ những dụng cụ, những phương tiện và những cơ chế cần thiết.

- Quyền được hưởng sự an ninh thể lý, xã hội, chính trị, kinh tế, nhất là đối với những người nghèo và những người đau yếu.

- Quyền có được nhà ở thích hợp với một đời sống gia đình lành mạnh.

- Quyền được phát biểu và đại diện trước các quyền bính công cộng, kinh tế, xã hội và văn hóa, cũng như trước cơ quan trực thuộc, hoặc một cách trực tiếp hoặc qua trung gian các hiệp hội.

- Quyền thiết lập những hiệp hội với những gia đình khác và những cơ chế khác, để chu toàn sứ mạng của mình một cách thích hợp và với đầy đủ khả năng.

- Quyền bảo vệ các trẻ vị thành niên bằng những cơ chế và những luật lệ thích hợp để chống lại ma tuý, phim ảnh khiêu dâm, nạn uống rượu,…

- Quyền có những giải trí lành mạnh, nhằm hậu thuẫn cho các giá trị gia đình.

- Quyền của những người già được sống và được chết cách xứng đáng.

- Quyền di dân toàn gia đình để mưu tìm những hoàn cảnh sống tốt đẹp hơn.[8]

Tòa Thánh tiếp nhận lời yêu cầu minh nhiên của Thượng Hội Đồng Giám Mục, và sẽ để tâm đào sâu những gợi ý đó, soạn ra một “hiến chương những quyền lợi của gia đình” để nêu ra cho các cấp liên quan tới vấn đề này và trình lên cho các thẩm quyền liên hệ.

Ân sủng và trách nhiệm của gia đình Kitô hữu

47. Vai trò xã hội độc đáo của mọi gia đình cũng là vai trò xã hội của gia đình Kitô hữu, nhưng theo một danh hiệu mới mẻ và đặc biệt hơn, vì gia đình này được Bí tích Hôn Phối thiết lập. Khi đảm nhận thực tại nhân loại của tình yêu vợ chồng trong mọi chiều kích của nó, Bí tích Hôn Phối làm cho đôi bạn và cha mẹ Kitô hữu có khả năng sống ơn gọi giáo dân – và đó là trách nhiệm của họ – và do đó có khả năng “tìm kiếm Nước Thiên Chúa cách chính xác qua việc quản trị các thực tại trần thế mà họ đang xếp đặt theo ý Thiên Chúa”.[9]

Vai trò xã hội và chính trị là một phần trong sứ mạng vương đế, tức là sứ mạng phục vụ, mà các vợ chồng Kitô hữu được dự phần nhờ Bí tích Hôn Phối, khi họ vừa nhận lấy một lệnh truyền mà họ không thể trốn tránh, vừa nhận lấy một ân sủng có sức nâng đỡ và sinh động cuộc đời họ.

Như thế gia đình Kitô hữu được mời gọi làm chứng cho mọi người thấy sự tận tâm quảng đại và vô vị lợi của mình đối với những vấn đề xã hội, mà ưu tiên là lo cho những người nghèo và những người bị bỏ rơi. Chính vì thế, khi bước theo Chúa trong một tình yêu thương đặc biệt đối với tất cả mọi người nghèo, gia đình Kitô hữu phải lưu tâm riêng đến những ai đói khát, túng thiếu, già cả, những ai bị đau ốm, nghiện ngập hoặc không có gia đình.

Tiến tới một trật tự quốc tế mới

48. Đứng trước chiều kích toàn cầu đang là đặc điểm của những vấn đề xã hội khác nhau ngày nay, gia đình thấy rằng trong những gì liên hệ đến sự phát triển xã hội, vai trò của gia đình được mở rộng ra một cách hòan toàn mới mẻ: đó là phải cộng tác để thực hiện một trật tự quốc tế mới, vì chỉ có qua sự liên đới toàn cầu người ta mới có thể nhắm tới và giải quyết được những vấn đề khổng lồ và bi thảm về công bình trên thế giới, về tự do của các dân tộc, về hòa bình của nhân loại.

Các gia đình Kitô hữu đã ăn rễ sâu trong đức tin và đức cậy chung của mọi người và được sinh động nhờ đức ái, nên sự hiệp thông tinh thần của họ kết thành một năng lực bên trong từ đó sự công bình hòa giải, huynh đệ và hòa bình giữa mọi người được phát sinh, lan rộng và tăng trưởng. Như một Hội Thánh “nhỏ”, gia đình Kitô hữu được mời gọi theo hình ảnh của Hội Thánh “lớn”, để làm một dấu chỉ hiệp nhất cho thế giới và để theo chiều hướng ấy mà thực hiện, vai trò tiên tri, làm chứng cho vương quốc và cho hòa bình của Đức Kitô mà cả thế giới đang tiến tới.

Điều đó, các gia đình Kitô hữu sẽ có thể thực hiện được qua việc phục vụ giáo dục của họ, nghĩa là khi họ cống hiến cho con cái một mẫu mực đời sống được xây dựng trên những giá trị: sự thật, tự do, công bình và tình yêu, cũng như khi họ dấn thân một cách tích cực và có trách nhiệm để lo cho xã hội và các cơ chế của nó được thật sự tăng trưởng về mặt nhân bản, hoặc hơn nữa khi họ dùng những cách thế khác nhau để nâng đỡ các hiệp hội cơ bản nhất là phục vụ các vấn đề của trật tự quốc tế.

IV. THAM DỰ VÀO CUỘC SỐNG VÀ VÀO SỨ MẠNG CỦA HỘI THÁNH

Gia đình trong mầu nhiệm Hội Thánh

49. Giữa các trách nhiệm căn bản của gia đình Kitô hữu, có một trách nhiệm có thể nói là có tính cách Hội Thánh, vì trách nhiệm này đặt gia đình vào chỗ phục vụ cho việc xây dựng Nước Thiên Chúa trong lịch sử, bằng cách dự phần vào cuộc sống và sứ mạng của Hội Thánh.

Để hiểu rõ việc tham dự ấy hệ tại ở đâu, bao gồm những gì và có đặc điểm nào, ta cần tìm hiểu những liên hệ rất nhiều và sâu xa nối kết Hội Thánh với gia đình Kitô hữu và làm cho gia đình này trở thành một “Hội Thánh thu nhỏ” (Ecclesia domestica),[10] đến nỗi, theo cách của nó, gia đình là một hình ảnh sống động và là một biểu hiện lịch sử của chính mầu nhiệm Hội Thánh.

Trước hết chính Mẹ Hội Thánh sinh ra, giáo dục, xây dựng gia đình Kitô hữu, bằng cách thực hiện cho nó sứ mạng mà Hội Thánh đã nhận được từ nơi Chúa mình. Khi loan báo Lời Chúa, Hội Thánh mặc khải cho gia đình Kitô hữu chân tính của nó, nói khác đi, cho biết gia đình là gì và phải trở nên thế nào theo ý định của Thiên Chúa. Khi cử hành Bí tích, Hội Thánh làm phong phú và củng cố gia đình Kitô với ơn của Đức Kitô để thánh hóa nó mà tôn vinh Cha. Khi canh tân lại lời công bố giới răn mới về đức ái, Hội Thánh làm sinh động và hướng dẫn gia đình Kitô hữu vào việc phục vụ tình yêu, để giúp nó bắt chước và sống lại chính tình yêu hiến mình và hy sinh mà Chúa Giêsu đã dành cho toàn thể nhân loại.

Đến lượt mình, gia đình Kitô hữu cũng hòa nhập vào trong mầu nhiệm Hội Thánh đến độ được dự phần vào sứ mạng cứu rỗi đặc biệt của Hội Thánh theo cách riêng của mình. Nhờ ơn Bí tích Hôn Phối “trong bậc sống và trong lãnh vực của họ, đôi bạn và cha mẹ Kitô hữu cũng có được ơn riêng dành cho họ trong lòng dân Thiên Chúa”.[11] Do đó, không những họ “nhận được” tình yêu của Đức Kitô để trở nên một cộng đồng “được cứu rỗi”, mà còn được mời gọi “truyền đạt” cho anh chị em của họ chính tình yêu của Đức Kitô, để như thế họ trở nên một cộng đồng, “cứu rỗi” người khác. Đến nỗi, tuy vẫn là hoa quả và dấu chỉ của sự phong nhiêu siêu nhiên của Hội Thánh, gia đình Kitô hữu còn là biểu tượng, chứng tích và san sẻ thiên chức làm mẹ của Hội Thánh.[12]

Một trách nhiệm có tính cách hội thánh riêng biệt và độc đáo

50. Gia đình Kitô hữu được mời gọi góp phần tích cực và có trách nhiệm vào sứ mạng của Hội Thánh với một tư thế riêng biệt và độc đáo, bằng cách tự đặt mình phục vụ Hội Thánh và xã hội cả từ trong yếu tính lẫn trong hành động của mình, với tư cách là một cộng đồng thân mật của sự sống và tình yêu.

Nếu gia đình Kitô hữu là một cộng đồng mà các liên hệ của nó đều đã được Đức Kitô canh tân nhờ đức tin, và các Bí tích, thì việc nó tham dự vào sứ mạng của Hội Thánh phải được thực hiện một cách cộng đồng; vợ chồng phải phục vụ Hội Thánh và thế giới với tư cách là đôi bạn, cũng như cha mẹ và con cái phải phục vụ Hội Thánh và thế giới với tư cách là gia đình. Họ phải chung “một tấm lòng và một linh hồn”[13] trong đức tin, trong tinh thần tông đồ chung đang sinh động họ cũng như qua việc cộng tác đang đưa họ dấn thân vào việc phục vụ cộng đồng Hội Thánh và cộng đồng dân sự.

Ngoài ra, gia đình Kitô hữu xây dựng Nước Thiên Chúa trong lịch sử qua các thực tại thường nhật liên hệ tới điều kiện sống của họ và là đặc điểm của điều sống ấy: từ đó chính ngay trong tình yêu hôn nhân và gia đình – được sống trong những giá trị phong phú phi thường và với những đòi hỏi của một tình yêu toàn diện, chuyên nhất, trung thành và phong nhiêu[14] – mà gia đình Kitô hữu diễn tả và thực hiện, phần tham dự của họ vào sứ mạng tiên tri, tư tế và vương đế của Đức Giêsu Kitô và của Hội Thánh Người. Như thế, tình yêu và sự sống kết thành tâm điểm cho sứ mạng cứu độ của gia đình Kitô hữu trong Hội Thánh và vì Hội Thánh.

Công Đồng Vaticano II nhắc lại điều ấy khi viết: “Các gia đình hãy quảng đại san sẻ cho nhau những sự phong phú tinh thần. Như thế, vì xuất phát từ hôn nhân là hình ảnh của giao ước tình yêu nối kết Đức Kitô với Hội Thánh đồng thời, vì dự phần vào giao ước ấy, gia đình Kitô hữu làm cho mọi người thấy sự hiện diện sống động của Đấng Cứu Thế trong thế giới và bản chất đích thực của Hội Thánh, qua tình yêu vợ chồng, qua sự quảng đại chấp nhận sinh sản con cái, qua sự hiệp nhất và trung tín của gia đình cũng như qua sự hợp tác thân ái giữa mọi thành phần trong gia đình”.[15]

Sau khi đã xác định nền tảng cho phép các gia đình Kitô hữu tham dự vào sứ mạng của Hội Thánh như thế, việc quan trọng bây giờ là đưa ra ánh sáng những gì hàm chứa trong sự tham dự ấy, theo ba sự qui chiếu, mà thật ra chỉ là một, tức là qui chiếu vào Đức Giêsu Kitô, trong tư cách là tiên tri, là tư tế và là vua, bằng cách trình bày gia đình Kitô hữu như là:

1. Cộng đồng tin và loan báo Tin Mừng.

2. Cộng đồng đối thoại với Thiên Chúa.

3. Cộng đồng phục vụ con người.

1. Gia đình Kitô hữu, cộng đồng tin và rao giảng Tin Mừng

Đức tin khám phá và thán phục ý định của Thiên Chúa về gia đình

51. Bởi vì gia đình Kitô hữu dự phần vào sự sống và sứ mạng của Hội Thánh, một Hội Thánh đang kiên trì lắng nghe Lời Thiên Chúa với tâm tình tôn giáo và đang công bố Lời ấy với lòng tin cậy mãnh liệt,[16] nên gia đình ấy sống vai trò tiên tri của mình bằng cách đón nhận và loan báo Lời Chúa; như thế gia đình ngày càng trở nên một cộng đồng tin và rao giảng Tin Mừng.

Sự tuân phục của đức tin cũng đòi hỏi cả đôi bạn và cha mẹ Kitô hữu:[17] họ được mời gọi đón nhận Lời của Chúa là Đấng mặc khải cho họ cái mới mẻ kỳ diệu – nói cách khác là “Tin Mừng” – trong đời sống hôn nhân và gia đình của họ, đời sống đã được Đức Kitô làm cho nên thánh và có sức thánh hóa. Quả vậy, chỉ trong đức tin họ mới có thể, với một niềm sung sướng biết ơn, khám phá và thán phục phẩm giá của hôn nhân và gia đình mà Thiên Chúa đã nâng cao, bằng cách lấy đó làm dấu chỉ và môi trường của giao ước yêu thương giữa Thiên Chúa và con người, giữa Đức Kitô và Hội Thánh là Hiền Thê của Người.

Như thế, ngay việc chuẩn bị hôn nhân đã có tính chất của một hành trình đức tin; quả vậy, đó là một cơ chế đặc biệt giúp cho những người đính hôn khám phá lại và đào sâu đức tin đã lãnh nhận trong Phép Rửa tội và được nuôi dưỡng nhờ việc giáo dục Kitô giáo. Bằng cách ấy, họ công nhận và đón nhận một cách tự do ơn gọi sống theo gương Đức Kitô và phục vụ Nước Thiên Chúa trong chính bậc sống hôn nhân của mình.

Giây phút quyết liệt mà đôi bạn trong tư thế là đôi bạn bày tỏ đức tin là lúc họ cử hành Bí tích Hôn Nhân; do bản chất sâu xa của nó, việc cử hành này là một sự công bố trong Hội Thánh về Tin Mừng của tình yêu hôn nhân: nó là Lời Chúa “mặc khải” và “hoàn tất” dự phóng đầy khôn ngoan và yêu thương mà Thiên Chúa đã có đối với đôi bạn khi dẫn họ tới chỗ tham dự một cách nhiệm mầu nhưng thực sự vào chính tình yêu của Thiên Chúa đối với loài người. Nếu việc cử hành Bí tích Hôn nhân tự nó là việc công bố Lời Chúa, thì tất cả những người đang chủ động và cử hành Bí tích ấy, với những danh hiệu khác nhau, đều phải biến đó thành một việc “tuyên xưng đức tin” trong lòng Hội Thánh và cùng với Hội Thánh, tức là cộng đồng các tín hữu.

Việc tuyên xưng đức tin này đòi hỏi phải được kéo dài suốt cuộc đời của đôi bạn và gia đình. Quả vậy, Thiên Chúa đã kêu gọi đôi bạn “vào” hôn nhân, Ngài còn tiếp tục kêu gọi họ “trong” hôn nhân.[18] Trong và qua các sự kiện, các vấn đề, các khó khăn, các biến cố của cuộc sống thường nhật, Thiên Chúa đến với họ và nêu lên cho họ những “đòi hỏi” cụ thể để dự phần vào tình yêu của Đức Kitô đối với Hội Thánh, những đòi hỏi sát với tình cảnh đặc biệt – về gia đình, xã hội và Hội Thánh mà trong đó họ đang sống.

Khám phá ý định của Thiên Chúa và tuân phục ý định ấy là hai việc phải được thực hiện trong cùng một lúc trong cộng đồng hôn nhân và gia đình, qua kinh nghiệm nhân bản về tình yêu giữa đôi bạn cũng như giữa cha mẹ và con cái, khi tình yêu ấy được sống trong Thần Khí Đức Kitô.

Vì thế, cũng như trong Hội Thánh lớn, Hội Thánh nhỏ tại gia cần được Tin mừng hóa liên tục và sâu đâïm: từ đó mới sinh ra bổn phận phải giáo dục gia đình liên tục trong đức tin.

Thừa tác vụ phúc âm hóa của gia đình Kitô hữu

52. Tùy mức độ gia đình Kitô hữu đón nhận Tin Mừng và trưởng thành trong đức tin, mà nó trở nên một cộng đồng Phúc Âm hóa. Chúng ta hãy nghe lại lời của Đức Phaolô VI: “… Cũng như Hội Thánh, gia đình có nghĩa vụ tạo môi trường cho Tin Mừng được truyền đạt tới và từ đó Tin Mừng được lan toả ra. Vậy trong một gia đình ý thức về sứ mạng này, mọi phần tử của gia đình đều Phúc Âm hóa và đều được Tin mừng hóa. Cha mẹ chẳng những truyền thụ Tin Mừng cho con cái mà còn có thể nhận lại chính Tin Mừng ấy đã được sống sâu sắc từ phía con cái. Và một gia đình như thế sẽ có sức Tin mừng hóa nhiều gia đình khác và cả môi trường chung quanh”.[19]

Như Thượng Hội Đồng Giám Mục đã lặp lại theo lời kêu gọi của tôi ở Puebla, tương lai việc Tin mừng hóa tùy thuộc phần lớn nơi Hội Thánh tại gia.[20] Sứ mạng tông đồ ấy của gia đình bắt nguồn từ trong Bí tích Thánh tẩy và họ đã nhận được nơi Bí tích Hôn Phối một sức đẩy mới để truyền đạt đức tin, để thánh hóa và biến đổi xã hội hiện tại theo ý định của Thiên Chúa.

Gia đình Kitô hữu, nhất là ngày nay, đặc biệt được mời gọi làm chứng cho giao ước phục sinh của Đức Kitô nhờ việc kiên trì toả sáng niềm vui của tình yêu và sự chắc chắn của lòng trông cậy, mà gia đình phải lưu tâm tới: “Gia đình Kitô hữu lớn tiếng loan truyền sức mạnh của Nước Thiên Chúa và niềm cậy trông vào một cuộc sống hạnh phúc”.[21]

Trong nhiều hoàn cảnh cụ thể ngày nay, việc dạy giáo lý ở gia đình thật cấp thiết đến mức tuyệt đối, như Hội Thánh đã ghi nhận nhiều chỗ: “Ở những nơi luật lệ chống tôn giáo chủ ý cản trở việc giáo dục đức tin, ở những nơi tình trạng vô tín ngưỡng hỗn độn hay chủ nghĩa thế tục lan tràn khiến trên thực tế, không thể nào có được sự tăng trưởng tôn giáo, thì thứ Hội Thánh này, tức là gia đình, là môi trường độc nhất còn lại trong đó trẻ em và thanh niên có thể nhận được một khoa giáo lý chân chính”.[22]

Một việc phục vụ có tính cách Hội Thánh

53. Thừa tác vụ Tin mừng hóa của bậc cha mẹ Kitô hữu có tính cách độc đáo và không thể thay thế được. Nó mang những đặc tính riêng biệt của đời sống gia đình như phải có, nghĩa là một đời sống được dệt bằng tình yêu, sự giản dị, sự dấn thân cụ thể và những việc làm chứng thường ngày”.[23]

Gia đình phải đào tạo cho con cái bước vào đời sống, giúp cho mỗi người con biết chu toàn trọn vẹn bổn phận của mình tùy theo ơn gọi đã nhận được từ Thiên Chúa. Quả thế, nhờ rộng mở đến các giá trị siêu việt, vui vẻ phục vụ tha nhân, chu toàn các nghĩa vụ của mình một cách quảng đại và trung thành, cũng như luôn luôn ý thức về sự tham dự vào mầu nhiệm thập giá vinh quang của Đức Kitô, gia đình trở thành chủng viện đầu tiên và tuyệt hảo cho ơn gọi sống đời tận hiến vì Nước Thiên Chúa.

Thừa tác vụ Tin mừng hóa và dạy giáo lý của cha mẹ, phải theo sát con cái suốt đời chúng, cả trong tuổi thiếu niên và tuổi thanh niên, là tuổi mà thường thường con cái hay đứng lên phản kháng hoặc thẳng thừng từ chối đức tin Kitô giáo mà chúng đã nhận trong những năm đầu tiên của cuộc đời. Cũng như trong Hội Thánh, công việc Tin mừng hóa không bao giờ được thực hiện mà không gây đau khổ cho vị tông đồ, thì cũng thế trong gia đình Kitô hữu, cha mẹ phải rất can đảm và hết sức đương đầu với những khó khăn mà đôi khi thừa tác vụ Tin mừng hóa gặp phải nơi chính con cái của họ.

Người ta không được quên rằng việc phục vụ mà đôi bạn và cha mẹ Kitô hữu chu toàn vì lợi ích của Tin Mừng, thiết yếu là một việc phục vụ có tính cách Hội Thánh, hay đúng hơn, nằm trong khuôn khổ của toàn thể Hội Thánh, là cộng đồng đã được Tin Mừng hóa và đang có sức mạnh Tin Mừng hóa. Vì là một thừa tác vụ đã bắt nguồn từ trong sứ mạng độc nhất của Hội Thánh, và phát xuất từ sứ mạng ấy, đồng thời vì được xếp đặt để xây dựng Thân thể duy nhất của Đức Kitô,[24] nên thừa tác vụ Tin mừng hóa và dạy giáo lý của Hội-Thánh-tại-gia phải luôn được kết hiệp mật thiết và hòa nhịp một cách có ý thức với tất cả những dịch vụ khác về Tin mừng hóa, và dạy giáo lý đang có và đang hoạt động trong cộng đồng Hội Thánh, ở giáo phận hoặc ở giáo xứ.

Rao giảng Tin Mừng cho mọi thụ tạo

54. Tính cách đại đồng không ranh giới là chân trời riêng của việc Tin mừng hóa đang được sức mạnh thừa sai sinh động từ bên trong. Quả thế, đó là sự đáp trả mệnh lệnh tỏ tường, không úp mở của Đức Kitô: “Hãy đi khắp thế gian, rao giảng Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo”.[25]

Cả đức tin và sứ mạng Tin mừng hóa của gia đình Kitô hữu cũng có cái hơi thở thừa sai công giáo như thế. Khi Bí tích Hôn Phối lấy lại và nêu lên một lần nữa bổn phận đã ăn rễ từ trong Bí tích Rửa Tội và Thêm Sức là phải bảo vệ và truyền bá đức tin,[26] Bí tích ấy biến đôi bạn và cha mẹ Kitô hữu thành chứng nhân của Đức Kitô “cho đến tận cùng trái đất”,[27] thành những vị “thừa sai” đích thực của tình yêu và sự sống.

Ngay từ bên trong gia đình cũng đã có thể chu toàn được một hình thức hoạt động thừa sai nào đó. Như khi một phần tử nào đó trong gia đình không có đức tin hoặc không sống phù hợp với đức tin. Lúc đó những phần tử khác trong gia đình phải đem lại cho người ấy một chứng tích sống động về đức tin của họ, để có thể thúc đẩy và nâng đỡ người ấy trên con đường tiến tới chỗ gắn bó trọn vẹn với Đức Kitô Cứu Thế.[28]

Được tinh thần thừa sai linh động ngay từ bên trong, Hội Thánh tại gia được mời gọi để trở nên một dấu hiệu cho thấy sự hiện diện của Đức Kitô cũng như của tình yêu Người dành cho “những kẻ ở xa”, cho gia đình chưa tin và cả cho những gia đình Kitô hữu không còn sống phù hợp với đức tin đã lãnh nhận. Hội Thánh tại gia được mời gọi “dùng gương sáng và lời chứng” để soi sáng cho “những người đang tìm kiếm chân lý”.[29]

Cũng như trong buổi bình minh của Kitô giáo, Aquila và Priscilla đã xuất hiện như một đôi vợ chồng thừa sai,[30] ngày nay Hội Thánh làm chứng được sự mới mẻ và sinh hoa kết trái liên tục của mình, nhờ sự góp mặt của những đôi bạn và gia đình Kitô hữu, ít ra là trong một thời gian nào đó, đã đi tới các miền truyền giáo để loan báo Tin Mừng bằng cách phục vụ con người với tình yêu của Đức Giêsu Kitô.

Các gia đình Kitô hữu còn góp một phần đặc thù cho công cuộc truyền giáo của Hội Thánh, bằng cách vun trồng các ơn gọi thừa sai nơi các con trai, con gái của họ,[31] và tổng quát hơn, bằng công việc “dạy cho con cái ngay từ khi còn thơ ấu biết nhận ra tình yêu của Thiên Chúa đối với mọi người”.[32]

2. Gia đình Kitô hữu, cộng đồng đối thoại với Thiên Chúa

Đền thờ tại gia của Hội Thánh

55. Việc loan báo Tin Mừng và việc đón nhận Tin Mừng trong đức tin đạt được tầm mức viên mãn trong việc cử hành Bí tích. Là cộng đồng tin và rao giảng Tin Mừng, Hội Thánh cũng còn là một dân tư tế, nghĩa là được mặc lấy phẩm giá của Đức Kitô là Thượng Tế của Tân Ước vĩnh cửu và được dự phần vào quyền năng của Ngài.[33]

Cả gia đình Kitô hữu cũng được hòa nhập vào Hội Thánh, dân tư tế. Do Bí tích Hôn Phối, trong đó nó được bén rễ và từ đó mà nó được lập nên, gia đình Kitô hữu được liên lỉ sinh động nhờ Chúa Giêsu, được Ngài mời gọi và lôi cuốn vào cuộc đối thoại với Thiên Chúa bằng các phương tiện của đời sống Bí tích, của việc dâng hiến đời mình và của kinh nguyện.

Đó là vai trò tư tế mà gia đình Kitô hữu có thể và phải chu toàn trong sự kết hiệp mật thiết với toàn thể Hội Thánh, qua những thực tại hằng ngày của đời sống hôn nhân và gia đình; bằng cách ấy, gia đình Kitô hữu được mời gọi tự thánh hóa và thánh hóa cộng đồng Hội Thánh và thế giới.

Hôn nhân, Bí tích thánh hóa lẫn nhau và là hành vi phụng tự

56. Bí tích Hôn Nhân lấy lại và chuyên biệt hóa ơn thánh hóa của Bí tích Rửa tội, nên nó đúng là một nguồn mạch đặc biệt và một phương tiện độc đáo cho đôi bạn và gia đình Kitô hữu được thánh hóa. Nhờ vào mầu nhiệm tử nạn và phục sinh của Đức Kitô mà một lần nữa, tình yêu vợ chồng được thanh tẩy và thánh hóa: “Nhờ một sự phú ban đặc biệt cả ân sủng và tình bác ái, tình yêu này đã được Chúa đoái thương chữa trị, hoàn thiện và nâng cao”.[34]

Ơn Đức Giêsu Kitô ban trong lúc cử hành Bí tích Hôn Nhân không bị khô cạn, nhưng vẫn theo sát đôi bạn trong suốt cả đời sống họ. Công Đồng Vaticano II nhắc lại tỏ tường điều ấy khi nói rằng Đức Giêsu Kitô “còn ở lại với họ để hai vợ chồng cũng mãi mãi trung thành yêu thương nhau bằng sự tự hiến cho nhau như Ngài đã yêu thương Hội Thánh và đã nộp mình vì Hội Thánh... Bởi đó, đôi bạn Kitô hữu được củng cố và như được thánh hiến bằng một Bí tích riêng, để chu toàn xứng đáng các bổn phận trong bậc sống của họ; khi chu toàn sứ mạng hôn nhân và gia đình của họ với sức mạnh của Bí tích này, họ được đổ tràn tinh thần của Đức Kitô, nhờ đó tất cả đời sống của họ thấm nhuần đức tin, đức cậy, đức mến và càng ngày họ càng tiến tới sự trọn lành riêng biệt của họ và sự thánh hóa lẫn nhau; và bởi đó, họ cùng nhau góp phần tôn vinh Thiên Chúa”.[35]

Ơn gọi nên thánh chung của mọi người cũng nhắm đôi bạn và cha mẹ Kitô hữu: đối với họ, ơn gọi này được nêu rõ bởi sự cử hành Bí tích Hôn Phối và được phô diễn cách cụ thể trong thực tế riêng của cuộc sống hôn nhân và gia đình.[36] Chính trong cuộc sống ấy mà ân sủng được phát sinh và ta nhận thấy sự đòi hỏi phải có một linh đạo hôn nhân và gia đình thật đích thực và sâu xa; linh đạo này được gợi hứng từ các chủ đề về sáng tạo, giao ước, thập giá, phục sinh và dấu chỉ Bí tích là những chủ đề mà Thượng Hội Đồng Giám Mục đã trở đi trở lại nhiều lần.

Cũng như tất cả mọi Bí tích đều “có mục đích thánh hóa con người, xây dựng Thân Thể Đức Kitô, và sau cùng là thờ phượng Thiên Chúa”,[37] Bí tích Hôn nhân tự nó cũng là một hành vi phụng vụ để tôn vinh Thiên Chúa trong Đức Kitô Giêsu và trong Hội Thánh. Khi cử hành Bí tích ấy, đôi bạn Kitô hữu, bày tỏ lòng biết ơn của họ đối với Thiên Chúa vì ơn huệ cao cả Ngài đã ban cho họ để trong cuộc sống hôn nhân và gia đình của họ, họ có thể sống lại chính tình yêu thương của Thiên Chúa đối với loài người và của Chúa Giêsu đối với Hội Thánh là Hiền Thê Ngài.

Cũng như do Bí tích Hôn Phối mà đôi bạn nhận được sự thánh thiện và nghĩa vụ mỗi ngày phải sống sự thánh thiện đã nhận được đó, thì cũng do Bí tích ấy họ được ơn và có nghĩa vụ luân lý phải biến đổi toàn thể đời sống họ thành một hy lễ thiêng liêng triền miên.[38] Những lời sau đây của Công Đồng cũng được áp dụng cho các đôi bạn và cha mẹ Kitô hữu, cách riêng là trong lãnh vực các thực tại trần gian và thế tục là đặc điểm cuộc sống của họ: “Như thế, giáo dân cung hiến cho Thiên Chúa chính thế giới này nhờ biết phụng thờ Ngài khắp nơi bằng đời sống thánh thiện của họ”.[39]

Hôn Nhân và Thánh Thể

57. Bổn phận nên thánh dành cho gia đình Kitô hữu bắt nguồn sâu xa từ Bí tích Rửa Tội và được diễn tả cách trọn vẹn nhất trong Bí tích Thánh Thể là Bí tích mà hôn nhân Kitô giáo gắn liền một cách mật thiết. Công Đồng Vaticano II đã muốn nhắc lại tương quan đặc biệt giữa Thánh Thể và hôn nhân khi đòi hỏi rằng “bình thường Bí tích Hôn Nhân phải được cử hành trong thánh lễ”:[40] nếu người ta muốn hiểu và sống sâu đậm các ân sủng và trách nhiệm của hôn nhân và gia đình Kitô hữu, thì tuyệt đối cần phải khám phá và đào sâu tương quan ấy.

Bí tích Thánh Thể chính là nguồn mạch của hôn nhân Kitô giáo. Quả thế, hy lễ Thánh Thể diễn lại giao ước tình yêu giữa Đức Kitô và Hội Thánh, vì giao ước ấy đã được ký kết bằng máu của Người trên thập giá.[41] Chính trong hy lễ của Giao ước mới và vĩnh cửu ấy mà các đôi bạn Kitô hữu tìm được nguồn mạch tuôn trào làm cho giao ước hôn nhân của họ được khuôn đúc từ bên trong và được sinh động bền bỉ. Vì là sự diễn lại hy lễ tình yêu của Đức Kitô đối với Hội Thánh, phép Thánh Thể là nguồn mạch đức ái. Nơi ân huệ Thánh Thể là Bí tích của Đức Ái, gia đình Kitô hữu gặp được nền tảng và linh hồn cho sự hiệp thông và cho sứ mạng của nó: Bánh Thánh Thể làm cho những phần tử khác nhau của cộng đồng gia đình trở nên một thân thể duy nhất, một hình ảnh diễn tả và một sự tham dự vào Thân mình “bị phó nộp” và vào Máu “đã đổ ra” của Đức Kitô sẽ trở nên một nguồn mạch bất tận cho gia đình Kitô hữu đến múc lấy năng lực cho hoạt động thừa sai và tông đồ.

Bí tích Hoán Cải và Giao Hòa

58. Việc đón nhận lời mời gọi hoán cải của Tin Mừng là việc của mọi Kitô hữu, vì nhiều khi họ đã bất trung với sự “mới mẻ” của phép Rửa Tội là Bí tích đã biến đổi họ thành “thánh”. Việc đón nhận ấy là một yếu tố then chốt và thường xuyên trong bổn phận nên thánh dành cho gia đình Kitô hữu. Chính gia đình Kitô hữu không phải bao giờ cũng sống phù hợp với luật ân sủng và sự thánh thiện do Bí tích Rửa Tội đem lại và Bí tích Hôn Phối đã tái công bố.

Sự hối hận và tha thứ thường xuyên cho nhau trong gia đình Kitô hữu, đưa đến khoảnh khắc đặc biệt nơi Bí tích thống hối Kitô giáo. Khi nói về các đôi bạn, Đức Phaolô VI đã viết trong Thông điệp Sự Sống Con Người: “Nếu tội lỗi vẫn còn đè nặng trên họ, ước gì họ đừng nản lòng, nhưng với một sự bền đỗ khiêm tốn ước gì họ hãy chạy đến với lòng nhân từ của Thiên Chúa vẫn luôn luôn tuôn đổ dồi dào trong Bí tích thống hối”.[42]

Việc cử hành Bí tích này có được một ý nghĩa đặc biệt trong đời sống gia đình: qua đức tin, đôi bạn và mọi thành phần trong gia đình khám phá được rằng, tội lỗi chống lại giao ước với Thiên Chúa cũng như giao ước giữa đôi bạn và sự hiệp thông gia đình; giờ đây họ được đưa đến gặp gỡ Thiên Chúa “giàu lòng nhân từ”,[43] là Đấng tái lập và hoàn thiện giao ước hôn nhân và sự hiệp thông trong gia đình khi Ngài ban cho ta tình yêu của Ngài, một tình yêu mạnh hơn tội lỗi.[44]

Kinh nguyện gia đình

59. Hội Thánh cầu nguyện và giáo dục gia đình Kitô giáo trong lối sống phù hợp quảng đại với ơn và vai trò tư tế đã nhận được nơi Đức Kitô Thượng Tế. Trong thực tế, đối với đôi bạn và gia đình, chức tư tế mà Bí tích Rửa Tội đem lại cho các tín hữu và được họ sống trong hôn-nhân-bí-tích, trở thành một ơn gọi và một sứ mạng tư tế mà nhờ đó cuộc sống hằng ngày của họ được biến thành “hy lễ thiêng liêng đẹp lòng Thiên Chúa qua sự trung gian của Đức Kitô”:[45] đó là điều phát xuất không những do việc cử hành Thánh Thể và các Bí tích khác cũng như do việc hiến dâng chính mình cho vinh quang Thiên Chúa, mà còn do đời sống cầu nguyện, do việc đối thoại nguyện cầu với Chúa Cha nhờ Đức Kitô và trong Thánh Thần.

Kinh nguyện gia đình có những đặc tính riêng. Đó là kinh nguyện chung: vợ chồng cùng cầu nguyện với nhau, cha mẹ và con cái cùng cầu nguyện với nhau. Sự hiệp thông trong kinh nguyện vừa là hoa quả vừa là đòi hỏi của sự hiệp thông mà các Bí tích Rửa Tội và Hôn Phối đã đem lại. Các gia đình Kitô hữu có thể áp dụng được cho mình một cách đặc biệt những lời hứa hiện diện của Đức Giêsu: “Quả thật, Ta bảo các con: nếu dưới đất, hai người trong các con đồng thanh xin về bất cứ việc gì, thì Cha Ta, Đấng ngự trên trời sẽ ban cho. Vì đâu có hai, ba người họp lại nhân danh Ta, thì có Ta ở đó, giữa họ”.[46]

Kinh nguyện gia đình có nội dung độc đáo là chính cuộc sống gia đình. Qua những cảnh huống khác nhau, cuộc sống này được diễn giải như một ơn gọi từ Thiên Chúa mà đến và được thực hiện như một câu trả lời hiếu thảo cho tiếng gọi ấy: vui mừng và cực nhọc, hy vọng và u buồn, ngày sinh và ngày kỷ niệm chu niên, kỷ niệm ngày cưới của cha mẹ, những chuyến xa nhà và trở về, những chọn lựa quan trọng và quyết liệt, cái chết của những người thân yêu,... đều là những dấu hiệu về sự hiện diện ưu ái của Thiên Chúa trong cuộc sống gia đình; những biến cố ấy cũng phải trở thành những lúc thuận tiện cho lời tạ ơn, khẩn nguyện, cho sự tin tưởng phó thác của gia đình trong bàn tay Cha chung trên trời. Đàng khác, phẩm giá và trách nhiệm của gia đình Kitô hữu, xét như Hội Thánh tại gia, chỉ có thể được sống với sự trợ giúp liên lỉ của Thiên Chúa, và sự trợ giúp này sẽ không bao giờ thiếu nếu người ta biết cầu nguyện khẩn xin với lòng tin cậy và khiêm tốn.

Những nhà giáo dục đức tin

60. Trên căn bản phẩm giá và sứ mạng của họ, các cha mẹ Kitô hữu có bổn phận đặc biệt phải giáo dục cho con cái họ biết cầu nguyện, phải đưa chúng tới chỗ dần dần khám phá ra mầu nhiệm Thiên Chúa và đối thoại cá nhân với Ngài: “Nhất là gia đình Kitô giáo đã nhận được những ân sủng, và đòi hỏi phong phú của Bí tích Hôn Phối, nên ở đó ngay từ nhỏ, trẻ em phải được dạy dỗ để nhận biết và thờ kính Thiên Chúa cùng yêu mến tha nhân, theo như đức tin chúng đã lãnh nhận khi chịu phép Rửa Tội”.[47]

Gương sống cụ thể, chứng tá sống động của cha mẹ, là yếu tố căn bản và không thể thay thế được trong việc giáo dục cầu nguyện: chỉ khi nào cha mẹ cùng cầu nguyện với con cái, chu toàn chức vụ tư tế vương giả của họ, họ mới vào sâu được trong lòng con cái và để lại đó những dấu vết mà các biến cố cuộc sống về sau sẽ không thể xoá nhòa được. Chúng ta hãy nghe lại lời kêu gọi mà Đức Phaolô VI đã ngỏ lời với cha mẹ: “Hỡi các bà mẹ, chị em có dạy cho các con nhỏ của mình những lời kinh của người Kitô hữu không? Chị em có cộng tác với các linh mục để chuẩn bị cho chúng lãnh nhận các Bí tích của thời niên thiếu: xưng tội, rước lễ, thêm sức không? Nếu chúng đau ốm, chị em có tập cho chúng quen nghĩ tới những sự đau khổ của Đức Kitô, quen kêu cầu sự giúp đỡ của Đức Mẹ Đồng Trinh và các thánh không? Chị em có lần hạt chung với chúng ở gia đình không? Còn anh em hỡi những người cha, anh em có biết cầu nguyện chung với con cái, với cộng đồng gia đình, ít là thỉnh thỏang không? Gương sống của anh em qua sự ngay thẳng trong tư tưởng và hành động, được hỗ trợ bằng ít nhiều kinh nguyện chung, quả là một bài học sống, một hành vi thờ phượng đáng tuyên dương. Như thế anh em đang đem bình an vào trong tổ ấm gia đình anh em: “Bình an cho nhà này”. Đừng quên rằng làm như thế là anh em đang xây dựng Hội Thánh”.[48]

Kinh nguyện phụng vụ và kinh nguyện riêng

61. Như Công Đồng Vaticano II đã tái xác nhận thật rõ giữa kinh nguyện của Hội Thánh và kinh nguyện của mỗi tín hữu có một tương quan sâu xa và sống thực.[49] Quả vậy, trong Hội Thánh tại gia, mục đích quan trọng của kinh nguyện là bước dẫn nhập tự nhiên cho trẻ em bước vào kinh nguyện phụng vụ của toàn thể Hội Thánh, vừa chuẩn bị chúng đi vào kinh nguyện phụng vụ vừa mở rộng vòng kinh nguyện này vào trong lãnh vực đời sống cá nhân, gia đình và xã hội. Do đó cần phải làm sao để tất cả mọi thành phần trong gia đình Kitô hữu đều dần dần tham dự vào Bí tích Thánh Thể, nhất là ngày Chúa Nhật và các ngày lễ trọng, cũng như tham dự vào các Bí tích khác, cách riêng là Bí tích khai tâm Kitô giáo cho trẻ em. Các chỉ dẫn của Công Đồng đã mở ra cho gia đình một cơ hội mới, là kể gia đình vào số những tập thể được mời gọi cùng đọc chung Kinh Thần Vụ.[50] Gia đình Kitô hữu cũng sẽ lo cử hành các mùa và các lễ phụng vụ ngay tại nhà mình, bằng cách thế thích hợp với các thành phần hiện diện. Để cho việc phụng tự cử hành ở nhà thờ được chuẩn bị và kéo dài ngay tại nhà mình, gia đình Kitô hữu cần đến việc cầu nguyện riêng, với rất nhiều hình thức khác nhau, một sự khác nhau vừa nói lên được sự phong phú phi thường của kinh nguyện Kitô hữu do Chúa Thánh Thần linh động, vừa đáp ứng những đòi hỏi khác biệt và những tình huống cụ thể của những người đang quay về với Chúa. Ngoài kinh nguyện sáng tối, các gia đình cũng được tha thiết khuyên bảo và cũng là điều phù hợp với những chỉ dẫn của các nghị phụ Thượng Hội Đồng Giám Mục, nên đọc và suy niệm Lời Chúa, chuẩn bị cho các Bí tích, tôn sùng và tận hiến cho Trái Tim Chúa Giêsu, sùng kính Đức Trinh Nữ Maria với những hình thức khác nhau, cầu nguyện khi ăn cơm và thực hành các việc đạo đức bình dân.

Trong sự tôn trọng tự do của con cái Thiên Chúa, Hội Thánh đã đề nghị và vẫn còn tiếp tục đề nghị cho các tín hữu một số thực hành đạo đức, với một lòng khẩn khoản đặc biệt. Trong số các thực hành này phải kể đến việc lần chuỗi Môi Khôi: “Tôi muốn nối tiếp ý hướng của các vị tiền nhiệm của tôi để nói lên một lời khuyên bảo tha thiết là hãy lần chuỗi trong gia đình…Chắc chắn tràng chuỗi kính Đức Trinh Nữ Maria phải được coi như một trong những “kinh nguyện chung” tuyệt hảo và hữu hiệu nhất mà Hội Thánh mời gọi mọi người trong gia đình Kitô hữu đọc với nhau. Tôi vui sướng tưởng nghĩ và tha thiết hy vọng rằng, khi gia đình sum họp để cầu nguyện, việc lần chuỗi Môi Khôi sẽ là một hình thức được quí chuộng và thực hành thường xuyên”.[51] Như thế, khi được diễn tả bằng các tương quan chân thành với Đức Trinh Nữ và bằng việc noi theo cung cách sống thiêng liêng của Ngài, lòng tôn sùng Đức Mẹ đích thực chính là một phương tiện đặc biệt để nuôi dưỡng sự hiệp thông tình yêu trong gia đình và để phát triển linh đạo hôn nhân và gia đình. Mẹ của Đức Kitô và của Hội Thánh, một cách đặc biệt cũng là Mẹ của các gia đình Kitô hữu là những Hội Thánh tại gia.

Kinh nguyện và đời sống

62. Không bao giờ được quên rằng kinh nguyện là phần thiết yếu của đời sống Kitô hữu; khi được vun xới một cách toàn diện và như một thực tại trung tâm, có thể nói rằng kinh nguyện nằm trong “nhân tính” của chúng ta: là “sự diễn tả đầu tiên về sự thật bên trong của con người, là điều kiện đầu tiên cho sự tự do đích thực của tâm trí”.[52]

Vì thế kinh nguyện không hề biểu hiện một sự chạy trốn các trách nhiệm thường ngày, nhưng chính là sức đẩy mãnh liệt đưa gia đình Kitô hữu đến chỗ đảm nhận trách nhiệm trở nên tế bào đầu tiên và căn bản của xã hội nhân loại, và chu toàn đầy đủ các trách nhiệm ấy. Theo nghĩa đó, việc tham dự hữu hiệu vào đời sống và sứ mạng của Hội Thánh trong thế giới, sẽ tỷ lệ theo việc cầu nguyện trung thành và sâu đậm mà nhờ đó gia đình Kitô hữu kết hợp với cây nho sai trái là Đức Kitô, Vị Chúa Tể.[53]

Do việc kết hợp sống động với Đức Kitô, được nuôi dưỡng bằng phụng vụ, bằng việc hiến dâng chính mình và bằng kinh nguyện, mà phát sinh sự phong nhiêu của gia đình Kitô hữu trong thừa tác vụ đặc biệt nhằm sự thăng tiến nhân bản, và qua đó, hẳn đã góp phần vào việc biến đổi thế giới.[54]

3. Gia đình Kitô hữu, cộng đoàn phục vụ con người

Lệnh truyền mới của tình yêu

63. Hội Thánh, là dân tộc ngôn sứ, tư tế và vương đế, có sứ mạng hướng mọi người tới chỗ đón nhận Lời Chúa trong đức tin, rồi cử hành và công bố đức tin ấy trong các Bí tích và kinh nguyện, và sau cùng diễn tả đức tin ấy qua những thực tại cụ thể của đời sống phù hợp với ân huệ và lệnh truyền mới về tình yêu.

Đời sống Kitô hữu tìm được luật lệ cho mình, không phải nơi một bộ luật thành văn, nhưng là trong hành động đích thân của Chúa Thánh Thần là Đấng đang tác sinh và hướng dẫn người Kitô hữu, nghĩa là trong “Luật của Thần Khí, Đấng ban sự sống trong Đức Kitô Giêsu”:[55] “Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Ngài vào lòng chúng ta, qua Thánh Thần mà Ngài ban cho chúng ta”.[56]

Điều ấy cũng có giá trị cho cả đôi bạn và gia đình Kitô hữu: kim chỉ nam và qui luật của họ là Thần Khí Đức Giêsu, đã được đổ xuống trong lòng họ nhờ việc cử hành Bí tích Hôn Phối. Tiếp nối với Phép Rửa trong nước và Thần Khí, Bí tích hôn nhân nêu lên một lần nữa luật tình yêu của Tin Mừng và nhờ ơn Thần Khí, nó khắc sâu luật ấy vào lòng đôi bạn Kitô hữu: tình yêu của họ được thanh tẩy và cứu độ, là một hoa quả của Thần Khí, Đấng đang tác động trong lòng các tín hữu và đồng thời đang tự bộc lộ như lệnh truyền căn bản cho đời sống luân lý, một đời sống đang được đặt ra trước sự tự do hữu trách của họ.

Như vậy gia đình Kitô hữu được luật mới của Thánh Thần sinh động, hướng dẫn và được mời gọi sống “thừa tác vụ” vì tình yêu đối với Thiên Chúa và tha nhân trong sự hiệp thông mật thiết với Hội Thánh là dân tộc vương đế. Cũng như Đức Kitô thực thi vương quyền của Người bằng cách đem thân phục vụ con người,[57] Kitô hữu cũng tìm được ý nghĩa đích thực của việc dự phần vào vương quyền của Chúa mình bằng cách chia sẻ tinh thần và thái độ phục vụ con người của chính Chúa: “Đức Kitô cũng thông ban cho các môn đệ quyền bính ấy để họ được hưởng sự tự do vương giả và chiến thắng ách thống trị của tội lỗi nơi họ, bằng một đời sống từ bỏ và thánh thiện (x. Rm 6,12), hơn nữa để khi phụng sự Đức Kitô nơi tha nhân, họ có thể khiêm nhường và kiên nhẫn dẫn đưa anh em mình đến với Đức Vua, Đấng mà phụng sự Người lại là thống trị. Thực tế, Chúa cũng muốn nhờ cả giáo dân để mở rộng nước Ngài, nước của chân lý và sự sống, của ân sủng và thánh thiện, tình yêu và hòa bình; trong nước này, chính tạo vật cũng được giải thóat khỏi thân phận làm nô lệ sự hư đốn, để được hưởng tự do rạng ngời của con cái Thiên Chúa (x. Rm 8,21)”.[58]

Nhận ra hình ảnh Thiên Chúa nơi mỗi anh chị em

64. Được lệnh truyền mới của tình yêu sinh động và nâng đỡ, gia đình Kitô hữu tiếp đón, kính trọng, phục vụ mọi người, luôn luôn nhìn mọi người trong phẩm giá của họ như những ngôi vị và như con cái Thiên Chúa.

Điều đó phải làm, trước hết là giữa đôi bạn và gia đình để sinh ích cho chính họ, nhờ việc dấn thân hằng ngày nhằm thăng tiến một cộng đồng đích thực gồm các ngôi vị, một cộng đồng được thiết lập và nuôi dưỡng bằng sự hiệp thông các tâm hồn. Tiếp đó, việc xử sự như thế phải được phát triển trong phạm vi rộng lớn của cộng đồng Hội Thánh nơi gia đình Kitô hữu được hội nhập: qua lòng bác ái của gia đình, Hội Thánh có thể và phải mặc lấy một chiều kích gia đình hơn, bằng cách cập nhật một cách thế tương quan nhân bản và huynh đệ hơn.

Lòng bác ái vượt quá vòng huynh đệ cùng đức tin bởi vì “mọi người đều là anh em tôi”, lòng bác ái biết nhận ra nơi mỗi một con người, khuôn mặt của Đức Kitô, và là một người anh em mình phải yêu mến và phục vụ, nhất là khi họ nghèo túng, yếu đuối, đau khổ hay bị đối xử bất công.

Để cho việc phục vụ con người được gia đình sống đúng theo Tin Mừng, cần phải mau mắn thực hiện điều Công Đồng Vaticano II đã nói: “Để thực thi bác ái mà không sợ một chỉ trích nào và để thấy rõ được là bác ái đích thực, cần phải nhìn thấy nơi tha nhân hình ảnh của Thiên Chúa, vì họ đã được dựng nên theo hình ảnh Ngài, cũng như nhìn thấy nơi họ chính Đức Kitô Chúa chúng ta, vì khi ta cho người nghèo điều gì cũng chính là cho Người điều ấy”.[59]

Ngay khi xây dựng Hội Thánh trong lòng bác ái, gia đình Kitô hữu đem thân phục vụ con người và thế giới, bằng cách thực sự thực hiện việc “thăng tiến nhân bản” mà những khía cạnh khác biệt đã được tổng hợp lại trong sứ điệp của Thượng Hội Đồng Giám Mục gọi các gia đình: “Một nhiệm vụ khác của gia đình là đào tạo những con người biết yêu thương và là sống tình yêu trong mọi tương quan với người khác, bằng cách gia đình sẽ không tự khép kín nhưng mở rộng ra cho cộng đồng, hướng tới cộng đồng nhờ ý thức về công lý và nhờ sự quan tâm lo cho người khác, cũng nhờ bổn phận trong trách nhiệm riêng của gia đình đối với toàn thể xã hội”.[60]

***

PHẦN THỨ TƯ

MỤC VỤ GIA ĐÌNH:

CÁC GIAI ĐOẠN, CƠ CẤU, NGƯỜI HỮU TRÁCH VÀ HOÀN CẢNH

 

I. CÁC GIAI ĐOẠN CỦA MỤC VỤ GIA ĐÌNH

Hội Thánh đồng hành với gia đình Kitô hữu

65. Như tất cả mọi thực tại sinh động, gia đình cũng được mời gọi phải phát triển và tăng trưởng. Sau khi trải qua sự chuẩn bị của thời kỳ đính hôn và việc cử hành Bí tích Hôn Phối, đôi bạn bắt đầu bước đường hằng ngày tiến tới việc thực hiện tuần tự các giá trị và bổn phận của hôn nhân.

Dưới ánh sáng đức tin và nhờ đức cậy, gia đình Kitô hữu, hiệp thông với Hội Thánh, cũng dự phần vào kinh nghiệm của cuộc lữ hành trần thế hướng về việc mặc khải trọn vẹn và hiện thực Nước Thiên Chúa.

Vì thế, cần nhấn mạnh một lần nữa việc Hội Thánh phải cấp bách can thiệp mục vụ để nâng đỡ gia đình. Cần phải cố gắng hết sức để ngành mục vụ gia đình được củng cố và phát triển, trở thành một ngành thật ưu tiên, vì chắc chắn trong tương lai, việc loan báo Tin Mừng phần lớn tùy thuộc nơi Hội Thánh tại gia đình.[61]

Bận tâm mục vụ của Hội Thánh không phải chỉ giới hạn vào các gia đình Kitô hữu gần nhất, nhưng bằng cách mở rộng chân trời theo tầm trái tim của Đức Kitô, Hội Thánh sẽ tỏ ra còn tích cực hơn đối với toàn thể các gia đình nói chung và cách riêng là các gia đình đang sống trong những tình cảnh khó khăn và ngoại lệ. Đối với tất cả mọi gia đình ấy, Hội Thánh sẽ là một lời nói của sự thật, của nhân hậu, của cảm thông, của hy vọng, của sự chia sẻ sâu xa với những khó khăn lắm khi bi đát của họ: Hội Thánh muốn cống hiến cho tất cả mọi gia đình một sự giúp đỡ vô vị lợi để họ có thể đến gần với mẫu gia đình mà Đấng Tạo Hóa đã muốn ngay từ “khởi đầu” và Đức Kitô đã canh tân bằng ân sủng cứu chuộc của Người.

Việc chuẩn bị

66. Vào thời chúng ta, việc chuẩn bị cho các bạn trẻ bước vào hôn nhân và đời sống gia đình càng cần thiết hơn bao giờ hết. Ở một số nước, các gia đình, theo những tập tục cổ truyền vẫn còn giữ được vai trò truyền đạt cho các bạn trẻ những giá trị liên hệ tới đời sống hôn nhân và gia đình, bằng một hệ thống giáo đục hay khai tâm tiệm tiến. Nhưng những thay đổi dồn dập trong lòng hầu hết các xã hội tân tiến đòi hỏi không những chỉ gia đình mà cả xã hội và Hội Thánh đều phải dấn thân vào nỗ lực chuẩn bị tương xứng, để các bạn trẻ có thể cáng đáng các trách nhiệm trong tương lại. Nhiều hiện tượng tiêu cực trong đời sống gia đình mà ngày nay người ta than phiền, đã xuất phát từ sự kiện, đó là trong những hoàn cảnh mới, các bạn trẻ không còn nhận ra được phẩm trật đúng đắn của các giá trị và vì không còn những tiêu chuẩn chắc chắn để xử thế, họ không còn biết làm sao để đương đầu và giải quyết các khó khăn mới. Kinh nghiệm cho thấy được rằng, các bạn trẻ được chuẩn bị chu đáo cho đời sống gia đình, cách chung sẽ thành công hơn các bạn khác.

Điều đó còn đúng hơn nữa cho hôn nhân Kitô giáo, vốn có ảnh hưởng rất rộng đối với sự thánh thiện của biết bao người nam người nữ. Vì thế Hội Thánh phải cổ võ những chương trình chuẩn bị hôn nhân phong phú và hữu hiệu, để hết sức loại trừ những khó khăn mà trong đó biết bao gia đình đang phải chiến đấu, và hơn nữa, để tích cực dẫn đưa các cuộc hôn nhân đến chỗ thành công và trưởng thành trọn vẹn.

Việc chuẩn bị hôn nhân phải được xem xét và thực hiện theo một tiến trình tuần tự và liên tục. Nó gồm ba giai đoạn chính: chuẩn bị xa, chuẩn bị gần và chuẩn bị liền trước Bí tích.

Việc chuẩn bị xa bắt đầu từ thời thơ ấu, khoa sư phạm khôn ngoan của gia đình phải nhằm đưa trẻ em tới chỗ khám phá ra rằng mình được phú ban một tâm lý vừa phong phú vừa phức tạp, được phú ban một nhân cách đặc thù, với những sức mạnh cũng như những yếu đuối riêng của mình. Đây là giai đoạn mà trong đó người ta dần dân ghi khắc cho các em lòng quí chuộng đối với mọi giá trị nhân bản đích thực, trong các tương quan liên vị cũng như các tương quan xã hội, với những gì hàm chứa trong đó để đào tạo tính tình, để biết tự chủ và biết sử dụng đúng đắn các xu hướng riêng của mình, để biết cách nhận xét và gặp gỡ những người khác phái, và những chuyện khác như thế. Ngoài ra, đặc biệt đối với các Kitô hữu, còn phải có một sự đào tạo vững chắc về đời sống thiêng liêng và giáo lý, để hiểu được rằng hôn nhân là một ơn gọi và là một sứ mạng đích thực, nhưng vẫn không loại trừ khả năng tận hiến cho Thiên Chúa trong ơn gọi linh mục hoặc tu sĩ.

Tiếp theo, việc chuẩn bị gần sẽ dựa trên nền tảng ấy và là một công cuộc lâu dài: bắt đầu từ lứa tuổi thích hợp và với một việc dạy giáo lý tương xứng, tương tự phần nào như hành trình dự tòng, công việc này sẽ gồm việc chuẩn bị chuyên biệt về các Bí tích, như để giúp các bạn trẻ tái khám phá các Bí tích. Việc canh tân giáo lý theo chiều hướng đó cho tất cả những ai đang chuẩn bị hôn nhân Kitô giáo là một điều hết sức cần thiết, để Bí tích sẽ được cử hành và được sống với những dự kiện luân lý và thiêng liêng thích hợp. Đến lúc thích hợp và tùy theo những đòi hỏi cụ thể khác nhau, việc đào tạo tôn giáo cho những người đính hôn sẽ phải được bổ túc bằng một sự chuẩn bị cho đời sống lứa đôi: khi trình bày hôn nhân như một tương quan liên vị phải được phát triển liên tục giữa người nam và người nữ, người ta phải khuyến khích họ đào sâu những vấn đề về tính dục hôn nhân và về vai trò cha mẹ có ý thức trách nhiệm, cùng với những hiểu biết cốt yếu gắn liền với các vấn đề ấy trong lãnh vực sinh lý và y học, và đưa họ tới chỗ làm quen với những phương pháp tốt để giáo dục con cái, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để họ có được những yếu tố cơ bản cho một nếp sống gia đình ổn định (việc làm chắc chắn, đủ điều kiện tài chánh, biết điều hành sáng suốt, có khái niệm về kinh tế gia đình,v.v…).

Sau cùng, cũng sẽ không được coi thường việc chuẩn bị cho công cuộc tông đồ gia đình, cho tình huynh đệ và sự cộng tác với các gia đình khác, cho việc tích cực hội nhập vào các nhóm, các hiệp hội, các phong trào và các sáng kiến có mục đích đem lại thiện ích nhân bản và Kitô giáo cho gia đình.

Việc chuẩn bị liền trước cuộc cử hành Bí tích phải diễn ra trong nhiều tháng và nhất là trong những tuần cuối trước lễ cưới để nhờ đó có thể đem lại được một ý nghĩa mới, một nội dung mới và một hình thức mới cho việc quen gọi là điều tra hôn phối mà giáo luật đòi buộc. Một việc chuẩn bị như thế vốn cần thiết cho tất cả mọi trường hợp, lại càng khẩn cấp hơn cho những đôi hôn phối còn gặp nhiều thiếu sót và khó khăn về mặt giáo lý và thực hành Kitô giáo.

Trong số các yếu tố phải truyền đạt trong tiến trình đức tin này, tựa như ở thời kỳ dự tòng, cũng phải có việc đào sâu về mầu nhiệm Chúa Kitô và Hội Thánh, về ý nghĩa của ân sủng và của trách nhiệm gắn liền với hôn nhân Kitô giáo, đó là chưa kể tới việc chuẩn bị để tham dự tích cực vào nghi lễ phụng vụ hôn phối.

Gia đình Kitô hữu và toàn thể cộng đồng Hội Thánh phải cảm thấy mình có trách nhiệm trong các bước khác nhau của việc chuẩn bị hôn nhân, mà chúng ta chỉ mới phác qua những nét lớn. Ước mong rằng các Hội Đồng Giám Mục lưu tâm tới các sáng kiến thích hợp để giúp các vợ chồng tương lai biết ý thức hơn rằng, việc chọn lựa của họ hệ trọng biết bao, cũng như để giúp cho các vị chủ chăn biết bảo đảm cho những người ấy có được những dự kiện cần thiết; và với sự lưu tâm đó, các Hội Đồng Giám Mục sẽ xả thân làm việc, để sớm công bố được “Tập Chỉ Nam Mục Vụ Gia Đình”. Trong cuốn chỉ nam này, trước hết, sẽ phải xác định những yếu tố cần thiết không thể thiếu được về nội dung, về thời lượng, và về phương pháp của các “khóa chuẩn bị”, tạo quân bình cho những khía cạnh khác nhau có liên hệ tới hôn nhân – như giáo lý, sư phạm, luật pháp, y học – và xếp đặt thế nào để giúp cho những người sắp lập gia đình, không những chỉ được đào sâu thêm về hiểu biết, mà còn cảm thấy được thúc đẩy để hội nhập một cách tích cực vào trong cộng đồng Hội Thánh.

Mặc dù không được để cho tính cách cần thiết và bắt buộc của việc chuẩn bị liền trước lễ cưới bị coi như – điều này sẽ xảy ra nếu người ta chước miễn việc chuẩn bị ấy cách quá dễ dàng – nhưng việc chuẩn bị ấy phải luôn được nêu ra và thực hiện cách nào đó, để chẳng may mà bị bỏ sót cũng không tạo nên cản trở cho việc cử hành lễ cưới.

Việc cử hành

67. Hôn nhân Kitô giáo đòi hỏi phải theo luật cử hành phụng vu,ï để diễn tả tính cách xã hội và cộng đồng, nơi bản chất Hội Thánh và Bí tích của khế ước hôn nhân giữa hai người đã rửa tội.

Xét như một hành vi Bí tích để thánh hóa, việc cử hành hôn phối, được đưa vào trong phụng vụ – tột đỉnh mọi hành động của Hội Thánh, và là nguồn mạch sức thánh hóa của Hội Thánh[62] – việc cử hành ấy tự nó phải thành sự, xứng đáng và sinh hiệu quả. Về ứng dụng mục vụ, một phạm vi rộng lớn được mở ra, để đáp ứng trọn vẹn những đòi hỏi phát xuất từ bản chất của khế ước hôn nhân vốn được nâng lên hàng Bí tích, và để trung thành tuân giữ kỷ luật của Hội Thánh về những gì liên hệ tới tự do ưng thuận, ngăn trở hôn phối, hình thức giáo luật và ngay cả nghi thức cử hành. Nghi thức này phải đơn giản và xứng đáng, hòan thành theo đúng các qui tắc mà thẩm quyền Hội Thánh đã đề xướng; đàng khác, thẩm quyền này – tùy những trường hợp cụ thể về thời gian, về nơi chốn, về sự phù hợp với những qui tắc đã được Tông toà thiết lập[63] – mới được phép tùy nghi đưa vào việc cử hành, những yếu tố riêng của từng văn hóa, để diễn tả rõ hơn ý nghĩa nhân bản và tôn giáo sâu xa của khế ước hôn nhân, miễn là những yếu tố ấy không có gì lạc xa đức tin và luân lý Kitô giáo.

Xét như dấu chỉ, việc cử hành phụng vụ phải diễn ra thế nào để ngay cả trong thực tế bên ngoài của nó, có thể kết thành một sự công bố Lời Chúa và một sự tuyên xưng đức tin của cộng đồng các tín hữu. Ở đây, cố gắng mục vụ sẽ nhắm tới việc sử dụng “Phụng vụ Lời Chúa” cách thông minh và mẫn tiệp, cũng như lưu ý tới việc giáo dục đức tin cho những người đang tham dự việc cử hành, nhất là cho đôi vợ chồng tương lai.

Xét như hành vi Bí tích của Hội Thánh, việc cử hành phụng vụ hôn phối phải lôi cuốn được cả cộng đồng Kitô hữu, với sự tham dự trọn vẹn, tích cực và có trách nhiệm của mọi người đang hiện diện, tùy theo chỗ đứng và vai trò của mình: đôi bạn, linh mục, các nhân chứng, cha mẹ, bạn hữu, các tín hữu khác, nói tắt là mọi thành phần của một cộng đoàn đang biểu lộ và sống mầu nhiệm Đức Kitô và của Hội Thánh Ngài.

Về việc cử hành hôn nhân Kitô giáo trong khung cảnh các văn hóa hay các truyền thống tổ tiên, cần theo đúng những nguyên tắc đã nêu trên.

Cử hành Bí tích Hôn Phối và Phúc Âm hóa những người đã rửa tội nhưng chưa có lòng tin

68. Chính vì trong việc cử hành hôn phối, cần phải đặc biệt chú ý đến các dự kiện luân lý và thiêng liêng của đôi bạn, cách riêng về đức tin của họ, nên ở đây cần phải đề cập đến một khó khăn, không phải là họa hiếm, mà các chủ chăn trong Hội Thánh có thể gặp phải trong bối cảnh xã hội tục hóa của chúng ta.

Thực vậy, lòng tin của những người thỉnh cầu Hội Thánh chúc lành cho hôn nhân của họ,ï có thể ở nhiều mức độ khác nhau, cho nên các chủ chăn có bổn phận trước hết phải giúp họ khám phá lại đức tin, nuôi dưỡng đức tin và đưa đức tin đến chỗ trưởng thành. Các vị còn phải hiểu những lý do tại sao Hội Thánh chấp nhận cử hành cả cho những người chưa được chuẩn bị kỹ lưỡng.

Trong tất cả các Bí tích, Bí tích Hôn Phối có đặc điểm này: nó là Bí tích của một thực tại đã có sẵn trong trật tự của việc tạo dựng, nó là khế ước hôn nhân đã được Đấng Tạo Hóa thiết lập “từ lúc khởi đầu”. Do đó quyết định của người nam và người nữ muốn kết hôn theo dự án Thiên Chúa, quyết định dùng lời cam kết hôn nhân không thể rút lại để dấn thân trọn đời cho một tình yêu bất khả phân ly và cho một sự trung thành vô điều kiện, quyết định ấy thực sự – dù chưa được hiểu biết hòan toàn – bao gồm một thái độ vâng phục sâu xa ý muốn Thiên Chúa, một thái độ không thể có nếu không có ân sủng. Như thế, họ đã bước vào hành trình đích thực của ơn cứu độ mà việc cử hành Bí tích cũng như những chuẩn bị trước đó, có thể bổ túc cho hành trình ấy và đưa tới đích, miễn là ý hướng của họ thật sự ngay chính.

Đàng khác, quả thật, một vài nơi, những người đính hôn thỉnh cầu cử hành lễ cưới ở nhà thờ vì những nguyên do xã hội hơn là tôn giáo thực sự. Điều đó không đáng ngạc nhiên. Quả thế, hôn nhân không phải là một biến cố chỉ liên hệ tới những người kết hôn. Tự bản chất, nó còn là một sự kiện xã hội nối kết đôi bạn trước mặt xã hội. Từ lâu, việc cử hành hôn phối là một ngày lễ liên kết các gia đình và bạn hữu. Vì thế, thật dễ hiểu có các nguyên do xã hội cũng như các nguyên do cá nhân, đưa đến chuyện thỉnh cầu cử hành hôn phối tại thánh đường.

Tuy thế, đừng quên rằng những người đính hôn ấy, nhờ Bí tích Rửa Tội, đã thực sự được hội nhập vào Giao ước hôn lễ của Đức Kitô với Hội Thánh, và họ đã đón nhận dự án Thiên Chúa về hôn nhân với một ý hướng ngay thẳng, do đó, một cách mặc nhiên họ đã đồng ý với điều mà Hội Thánh muốn khi cử hành hôn phối. Vì thế, nguyên trong việc thỉnh cầu cử hành hôn lễ gồm có những nguyên cớ xã hội mà các chủ chăn khước từ, thì điều ấy không biện minh được. Sau nữa, như Công Đồng Vaticano II đã dạy, các Bí tích nuôi dưỡng và củng cố đức tin qua các lời đọc và các yếu tố của nghi thức:[64] đức tin mà những người đính hôn đã dấn thân theo, nhờ ý hướng ngay thẳng mà ân sủng Đức Kitô hẳn không thiếu để nâng đỡ.

Bỏ qua những nhận xét ấy vì muốn tạo ra những tiêu chuẩn khác dựa trên mức độ đức tin của những người đính hôn để cho phép hay không cho phép cử hành hôn phối ở nhà thờ, điều đó có thể đưa đến những nguy cơ trầm trọng: trước hết là nguy cơ có những phê phán thiếu cân nhắc hoặc kỳ thị; rồi nguy cơ tạo ra những sự nghi ngờ về tính cách thành sự của nhiều cuộc hôn nhân đã cử hành, và như thế, không phải là không gây thiệt hại nặng nề cho các cộng đồng Kitô hữu, rồi còn gây nên những âu lo không chính đáng cho lương tâm các đôi bạn. Người ta cũng sẽ rơi vào mối nguy phủ nhận hoặc hòai nghi tính cách Bí tích của rất nhiều cuộc hôn nhân nơi những anh em không hiệp thông trọn vẹn với Hội Thánh.

Ngược lại, nếu sau khi đã cố gắng hết cách mà các người đính hôn vẫn công khai và rõ ràng phủ nhận những điều Hội Thánh muốn thực hiện khi cử hành hôn nhân cho những người đã rửa tội, thì vị chủ chăn các linh hồn không được chấp nhận cử hành hôn lễ cho họ. Dù bất đắc dĩ, vị này phải nêu rõ sự việc và làm cho những người trong cuộc hiểu rằng công việc xảy ra như vậy không phải vì Hội Thánh nhưng vì chính họ đã ngăn cản việc cử hành mà họ đã xin.

Một lần nữa, nhu cầu loan báo Tin Mừng và dạy giáo lý trước cũng như sau lễ cưới, là điều thật cấp bách, và phải được toàn thể cộng đồng Kitô hữu ra tay thực hiện, để có thể giúp cho mọi người nam nữ kết bạn cử hành Bí tích Hôn Phối không những thành sự nhưng còn sinh hoa kết trái.

Mục vụ sau lễ cưới

69. Trong cụ thể, ưu tư mục vụ dành cho những gia đình hợp lệ, làm cho mọi thành phần cộng đồng Hội Thánh địa phương dấn thân giúp đỡ đôi bạn khám phá và sống ơn gọi cũng như sứ mạng mới của mình. Để gia đình ngày càng trở nên một cộng đồng yêu thương đích thực, phải làm cho mọi phần tử đều được giúp đỡ và được đào tạo, để chu toàn trách nhiệm của mình trước những vấn đề mới, để phục vụ lẫn nhau cũng như để dự phần vào đời sống gia đình.

Điều ấy càng đúng với các gia đình trẻ trong bối cảnh những giá trị và trách nhiệm mới, đặc biệt trong những năm đầu của hôn nhân, với nhiều khó khăn bất ngờ chẳng hạn phải thích nghi với cuộc sống chung hay khi sinh sản con cái. Các vợ chồng trẻ nên biết đón nhận cách chân tình và tận dụng một cách thông minh sự giúp đỡ kín đáo, tế nhị và quảng đại của những cặp vợ chồng khác đã trải qua một thời gian kinh nghiệm hôn nhân và gia đình. Như thế, nhờ sự hiện diện và tương trợ trong lòng cộng đồng Hội Thánh – đại gia đình làm thành bởi các gia đình Kitô hữu – mà có được sự trao đổi hổ tương giữa tất cả các gia đình, trong đó mỗi gia đình đóng góp kinh nghiệm nhân bản cũng như tặng phẩm đức tin và ân sủng để phục vụ các gia đình khác. Được sinh động bởi một tinh thần tông đồ đích thực, mối tương trợ giữa các gia đình chính là một trong những phương thế giản dị nhất, hữu hiệu nhất và vừa tầm với mọi người để làm thấm nhập, lan truyền các giá trị Kitô giáo, là điểm khởi hành và cũng là đích điểm của mọi công tác mục vụ. Bằng cách ấy, các gia đình trẻ không tự giới hạn vào việc lãnh nhận, nhưng đến lượt họ, nhờ được giúp đỡ, họ lại trở nên nguồn mạch làm phong phú các gia đình thành lập trước họ, qua chứng từ đời sống và sự đóng góp tích cực.

Trong việc mục vụ với các gia đình trẻ, Hội Thánh phải quan tâm giáo dục cho họ biết sống tình yêu vợ chồng cách hữu trách, trong tương quan với các đòi hỏi về hiệp thông và phục vụ sự sống, cũng như dạy cho họ biết hòa hợp tình thân mật của tổ ấm gia đình với trách nhiệm quảng đại chung của mọi người trong việc xây dựng Hội Thánh và xã hội nhân loại. Khi có con cái, đôi bạn trở thành một gia đình theo nghĩa tròn đầy và chuyên biệt, lúc đó Hội Thánh vẫn còn phải gần gũi hai cha mẹ để giúp đỡ họ đón nhận con cái và yêu mến chúng như ân huệ sự sống được lãnh nhận từ Thiên Chúa, vui vẻ chấp nhận vất vả để phục vụ cho chúng lớn lên về mặt nhân bản và Kitô giáo.

II. NHỮNG CƠ CẤU CỦA MỤC VỤ GIA ĐÌNH

Hoạt động mục vụ luôn là cách diễn tả năng động về thực tại Hội Thánh trong sứ mạng cứu độ. Mục vụ gia đình – một hình thức mục vụ đặc thù và chuyên biệt – tìm thấy nơi chính Hội Thánh, nguyên tắc hoạt động và khuôn mẫu trách nhiệm, qua các cơ cấu và các nhân viên của Hội Thánh.

Cộng đồng Hội Thánh và cách riêng giáo xứ

70. Là cộng đồng được cứu độ và đem lại ơn cứu độ, ở đây Hội Thánh phải được nhìn trong chiều kích kép: toàn cầu và địa phương. Chiều kích địa phương diễn tả và thể hiện trong cộng đồng giáo phận, được phân chia theo hoàn cảnh mục vụ, thành những cộng đồng nhỏ hơn, đặc biệt là giáo xứ với một tầm quan trọng riêng.

Mối hiệp thông với Hội Thánh toàn cầu, chẳng những không gây phương hại cho giá trị và sự độc đáo của các Hội Thánh địa phương, mà còn bảo đảm và phát triển nữa. Quả vậy, các Hội Thánh địa phương vẫn là những tác nhân trực tiếp nhất và hữu hiệu nhất để thể hiện mục vụ gia đình. Theo nghĩa đó, mỗi Hội Thánh địa phương và nói rõ hơn, mỗi cộng đồng giáo xứ, phải ý thức mạnh mẽ về ân sủng và trách nhiệm đã nhận được từ Chúa để cổ võ mục vụ gia đình. Mọi chương trình mục vụ được tổ chức, ở mọi cấp độ, không bao giờ được lướt bỏ mục vụ gia đình.

Từ quan điểm trách nhiệm như thế, ta sẽ hiểu được tầm quan trọng của việc chuẩn bị tương xứng cho tất cả những ai sẽ dấn thân một cách chuyên biệt vào loại công việc tông đồ này. Các linh mục, tu sĩ và nữ tu, ngay từ thời gian được huấn luyện, phải được định hướng và đào tạo tiệm tiến thích ứng với những trách vụ của họ sau này. Giữa rất nhiều sáng kiến, tôi sung sướng nhắc đến việc thành lập mới đây tại Roma, bên cạnh trường Đại học Giáo Hoàng Latran, một Viện cao đẳng dành để nghiên cứu các vấn đề gia đình. Trong một vài giáo phận, những viện nghiên cứu loại này cũng đã được thành lập; các Giám mục phải làm sao để đông đảo linh mục tham dự những khóa chuyên môn tại các viện ấy trước khi đảm trách các giáo xứ. Ngoài ra, theo chu kỳ, còn phải tổ chức những khóa đào tạo tại các viện cao đẳng thần học và mục vụ. Những sáng kiến như thế phải được khuyến khích, nâng đỡ, gia tăng và hẳn nhiên rộng mở cho giáo dân với phần đóng góp nghiệp vụ của họ trong việc giúp đỡ các gia đình (về y khoa, luật pháp, tâm lý, xã hội, giáo dục).

Gia đình

71. Nhưng trong lãnh vực này, phải nhìn nhận vị trí đặc biệt dành cho sứ mạng các đôi vợ chồng và các gia đình, nhờ ân sủng từ Bí tích họ đã lãnh nhận. Sứ mạng này nhằm xây dựng Hội Thánh và Nước Chúa trong lịch sử. Muốn được thế, phải ngoan ngoãn tuân phục Chúa Kitô. Quả vậy, qua hôn nhân được nâng lên hàng Bí tích của những người đã được rửa tội, Người trao cho các đôi bạn Kitô hữu một sứ mạng tông đồ riêng biệt, để sai phái họ như những người thợ trong vườn nho của Người, và một cách đặc biệt, trong cánh đồng gia đình.

Trong hoạt động ấy, các đôi bạn Kitô hữu hành động trong tinh thần hiệp thông và cộng tác với các phần tử khác của Hội Thánh, những người này cũng đang hoạt động vì ích lợi của các gia đình, bằng cách làm cho các ơn và các tác vụ của họ được phát sinh hoa quả. Họ chu toàn việc tông đồ này trước hết trong gia đình riêng của họ, bằng cách làm chứng qua một đời sống đúng theo luật Chúa dưới mọi khía cạnh, bằng việc đào tạo về mặt giáo lý Kitô giáo cho con cái, giúp chúng trưởng thành trong đức tin, giáo dục đức khiết tịnh, chuẩn bị cho chúng vào đời, săn sóc để chúng tránh những nguy hiểm về ý thức hệ và luân lý mà chúng đang bị đe dọa, giúp chúng hội nhập cách tiệm tiến và hữu trách vào cộng đồng Hội Thánh và cộng đồng dân sự, giúp đỡ và góp ý cho chúng trong khi chọn lựa ơn gọi, giúp đỡ lẫn nhau giữa các phần tử trong gia đình để cùng được lớn lên về mặt nhân bản và Kitô giáo và nhiều điều khác nữa. Ngoài ra, việc tông đồ gia đình còn được triển nở dưới hình thức những công tác bác ái về tinh thần cũng như vật chất đối với các gia đình khác, cũng như đối với những người đau ốm, già cả, tàn tật, mồ côi, goá bụa, những người chồng, những người vợ bị bỏ rơi, những người mẹ độc thân và những người mẹ trong tình huống khó khăn, đang bị cám dỗ loại bỏ đứa con còn trong bào thai,.v.v…

Các Hiệp Hội gia đình nhằm phục vụ các gia đình

72. Cũng trong khuôn khổ Hội Thánh, là chủ thể chịu trách nhiệm về mục vụ gia đình, còn phải nhắm đến những nhóm tín hữu khác nhau, trong đóù mầu nhiệm Hội Thánh Đức Kitô được biểu lộ và sống ở một mức độ nào đó. Một điều quan trọng nữa là phải biết đến và coi trọng các cộng đồng Hội Thánh, các nhóm và rất nhiều phong trào đang dấn thân vào mục vụ gia đình theo những cách thế khác biệt và với những danh hiệu và mức độ khác nhau, để ý rằng mỗi tổ chức đều có những đặc điểm, mục tiêu, cách kết nạp và phương pháp riêng.

Vì lý do đó, Thượng Hội Đồng Giám Mục đã chính thức nhìn nhận sự đóng góp ích lợi của những hiệp hội có tính cách tu đức, đào tạo hay làm việc tông đồ như thế. Vai trò của những hiệp hội này là làm dấy lên nơi các tín hữu một ý thức bén nhạy về sự liên đới, là tạo điều kiện thuận lợi cho một nếp sống được gợi hứng do Tin Mừng và do đức tin của Hội Thánh, là đào tạo cho lương tâm của mọi người biết theo giá trị Kitô giáo chứ không theo các tiêu chuẩn của ý kiến đám đông, là khuyến khích các công cuộc bác ái đang hướng về việc giúp đỡ lẫn nhau hay hướng về người khác với một tinh thần cởi mở có sức làm cho các gia đình Kitô hữu trở thành thật sự là nguồn sáng đích thực và là men lành mạnh cho các gia đình khác.

Rất đáng ước mong rằng, với một ý thức mạnh mẽ về công ích, các gia đình Kitô hữu cũng tích cực dấn thân ở mọi mức độ, vào những hiệp hội khác không thuộc Hội Thánh. Một số trong các hiệp hội này nhằm bảo vệ, thông truyền và cứu vãn các giá trị luân lý, văn hóa đích thực của dân tộc mà họ là thành phần, nhằm phát triển ngôi vị con người, bảo vệ các bà mẹ và trẻ em về mặt y khoa, pháp luật và xã hội, thăng tiến chính đáng các phụ nữ, gia tăng tình liên đới tương trợ, hiểu biết những vấn đề gắn liền với việc điều hòa sinh sản có trách nhiệm theo những phương pháp tự nhiên phù hợp với phẩm giá con người và giáo lý của Hội Thánh. Một số hiệp hội khác lại nhằm kiến tạo một thế giới công bình và nhân bản hơn, cổ võ những luật pháp công bình tạo thuận lợi cho một trật tự xã hội thích hợp có sự kính trọng trọn vẹn phẩm giá cũng như mọi quyền tự do chính đáng của cá nhân và của gia đình, trên bình diện quốc gia cũng như quốc tế, hoặc nhằm cọâng tác với học đường và các tổ chức bổ túc cho việc giáo dục trẻ em, và nhiều hiệp hội khác.

III. NHỮNG VỊ ĐẢM TRÁCH MỤC VỤ GIA ĐÌNH

Ngoài chính gia đình – vừa là đối tượng vừa là chủ thể trước hết của mục vụ gia đình – còn phải nhắc đến những người hữu trách chính yếu khác trong ngành mục vụ đặc biệt này.

Các Giám Mục và các Linh Mục

73. Người chịu trách nhiệm đầu tiên về mục vụ gia đình trong giáo phận chính là Giám mục. Như một người cha và chủ chăn ngài phải đặc biệt lo lắng cho ngành này, chắc chắn là ngành ưu tiên của mục vụ. Ngài phải hiến cho ngành này tất cả sự chú trọng, bận tâm, thời giờ, nhân sự và tại lực: nhưng hơn hết, đích thân ngài phải đem lại một điểm tựa cho các gia đình và cho tất cả những người đang giúp ngài, trong công việc mục vụ gia đình, thuộc những cơ cấu khác nhau của giáo phận. Cách riêng ngài phải tha thiết quan tâm để giáo phận ngày càng thực sự là một “gia đình giáo phận”, làm mẫu mực và nguồn hy vọng cho nhiều gia đình đang là thành phần của giáo phận. Việc thành lập uỷ ban giáo hòang về gia đình đã được cứu xét trong bối cảnh ấy: nó được thành lập để làm dấu hiệu về tầm quan trọng tôi muốn dành cho ngành mục vụ gia đình trên thế giới, đồng thời cũng là một dụng cụ hữu hiệu để giúp thăng tiến mục vụ ấy ở tất cả mọi cấp độ.

Các Giám mục được giúp đỡ cách đặc biệt do các linh mục mà trách nhiệm của họ – như Thượng Hội Đồng Giám Mục đã chính thức nhấn mạnh – tạo thành một phần cốt yếu trong tác vụ của Hội Thánh đối với hôn nhân và gia đình. Cũng phải nói thế về các phó tế khi họ được trao nhiệm vụ về ngành mục vụ này.

Trách nhiệm của các vị ấy không những mở rộng trên các vấn đề luân lý và phụng vụ, nhưng còn cả trên các vấn đề cá nhân và xã hội. Các vị phải nâng đỡ gia đình trong các khó khăn và đau khổ của nó, bằng cách đứng bên cạnh các phần tử của gia đình, giúp họ biết nhìn cuộc sống dưới ánh sáng Tin Mừng. Không phải dư thừa để ghi nhận rằng, khi thi hành sứ mạng ấy với nhận định thích hợp và tinh thần tông đồ thực sự, thừa tác viên Hội Thánh múc được ở đó, một sự khích lệ và những năng lực mới cho chính ơn gọi của mình cũng như chính việc thi hành tác vụ của mình.

Được chuẩn bị thích đáng và nghiêm chỉnh cho việc tông đồ này, linh mục và phó tế bao giờ cũng phải xử sự, đối với các gia đình, như là người cha, người anh, chủ chăn và thầy dạy bằng cách giúp họ với sự trợ giúp của ân sủng và soi sáng cho họ với ánh sáng của sự thật. Giáo huấn và lời khuyên của các vị phải luôn luôn am hợp trọn vẹn với quyền giáo huấn chính thức của Hội Thánh, làm sao để giúp cho dân Thiên Chúa tự tạo được một cảm thức chính xác về đức tin và áp dụng vào cuộc sống cụ thể. Sự trung thành với quyền giáo huấn như thế cũng sẽ giúp cho các linh mục có thể chăm lo gìn giữ được sự thống nhất trong những cách phán đoán của họ, để tín hữu khỏi bối rối lương tâm.

Trong Hội Thánh, chủ chăn và giáo dân đều dự phần vào sứ mạng ngôn sứ của Đức Kitô; giáo dân qua lời nói và đời sống Kitô hữu để làm chứng đức tin; chủ chăn nhận định trong chứng từ ấy điều gì biểu lộ đức tin đích thực và điều gì ít phù hợp với ánh sáng đức tin; gia đình, xét như cộng đồng Kitô hữu, tham dự và làm chứng đức tin theo cách của nó. Như vậy, có sự đối thoại giữa các chủ chăn và các gia đình. Các thần học gia và chuyên gia về những vấn đề gia đình có thể tạo thuận lợi lớn hơn cho cuộc đối thoại ấy, bằng cách trình bày thật chính xác nội dung của quyền giáo huấn Hội Thánh và nội dung của kinh nghiệm đời sống gia đình. Theo hướng ấy, giáo huấn sẽ được hiểu rõ hơn và con đường giúp cho việc phát triển tiệm tiến của quyền giáo huấn cũng trở nên dễ dàng hơn. Tuy thế thật hữu ích khi nhắc lại rằng, trong học thuyết đức tin – cả trong những vấn đề về gia đình – qui tắc buộc phải theo là qui tắc của quyền giáo huấn phẩm trật. Mối thông hảo giữa các thần học gia, các chuyên viên gia đình, với quyền giáo huấn sẽ giúp ích không ít cho việc thấu triệt đức tin và cũng như việc đề cao sự đa dạng hợp lý trong giới hạn đức tin ấy.

Nam Nữ Tu Sĩ

74. Nam nữ tu sĩ, và những người tận hiến nói chung, có thể góp phần vào công tác tông đồ gia đình. Họ diễn tả trước tiên, căn bản và độc đáo trong việc tận hiến cho Thiên Chúa: nhờ sự tận hiến ấy, “họ gợi ra trước mắt mọi Kitô hữu.sự kết hợp lạ lùng mà Thiên Chúa đã thực hiện, và sẽ tỏ hiện trọn vẹn mai hậu: đó là Hội Thánh nhận Đức Kitô làm lang quân độc nhất”;[65] sự tận hiến ấy làm cho họ trở nên những chứng nhân của đức ái phổ quát, qua đức khiết tịnh vì Nước Trời, họ càng trở nên saün sàng hơn để hiến mình cho việc phục vụ Thiên Chúa và công cuộc tông đồ.

Như thế nam nữ tu sĩ, thành viên các Tu Hội Đời và các Hội trọn lành khác, với danh nghĩa cá nhân hay tập đoàn, cũng đều có khả năng đem lại một sự phục vụ nào đó cho các gia đình, đặc biệt đối quan tâm tới các trẻ em, nhất là những trẻ em bị bỏ rơi, không được chấp nhận, mồ côi, nghèo khổ hay tàn tật; và họ có thể làm điều đó bằng cách thăm viếng các gia đình và săn sóc bệnh nhân; tạo những tương quan đầy kính trọng và bác ái với những gia đình thiếu vắng, đang gặp khó khăn hoặc phân tán; trình bày giáo huấn và đưa ra những lời khuyên để chuẩn bị cho các bạn trẻ bước vào hôn nhân, và giúp cho các đôi bạn trong vấn đề truyền sinh thật sự có trách nhiệm; giúp đỡ các gia đình mở cửa đón nhận người khác một cách giản dị và chân tình, để các gia đình có thể gặp được ở đó cảm thức về Thiên Chúa, sự ham thích cầu nguyện và hồi tâm, tấm gương cụ thể về một đời sống trong tình bác ái và niềm vui huynh đệ giữa các thành phần trong đại gia đình Thiên Chúa.

Đối với quý vị hữu trách các Tu hội tận hiến, tôi còn muốn thêm một lời khuyên nữa: dù thật tình tôn trọng đoàn sủng riêng biệt và nguyên thuỷ, mỗi hội hãy tha thiết xem việc tông đồ đối với các gia đình như một trong những trách nhiệm ưu tiên, cấp bách trong hoàn cảnh hiện nay.

Những giáo dân chuyên môn

75. Các giáo dân chuyên môn (y sĩ, luật gia, tâm lý gia, các trợ tá xã hội, các cố vấn,.v.v…) có thể hỗ trợ các gia đình với tính cách cá nhân, hoặc trong công tác của những hiệp hội hay các tổ chức khác nhau, để góp phần soi sáng, cố vấn, định hướng và nâng đỡ. Cũng có thể áp dụng cho họ những lời huấn dụ tôi đã có dịp nói với Liên đoàn các cố vấn gia đình theo tinh thần Kitô giáo: “Việc dấn thân của quý vị thật đáng được gọi là sứ mạng, vì những mục tiêu mà quý vị theo đuổi thật cao cả và các kết quả phát xuất từ đó có tính cách quyết định cho lợi ích của xã hội cũng như của chính cộng đồng Kitô hữu… Hiệu quả của tất cả những gì mà quý vị làm được để nâng đỡ các gia đình, sẽ vượt khỏi lãnh vực riêng của gia đình, để đạt đến cả những người khác và ảnh hưởng trên xã hội. Tương lai của thế giới và của Hội Thánh đi qua các gia đình”.[66]

Những người sử dụng và nhân viên truyền thông xã hội

76. Tôi cũng còn phải dành một lời nói riêng cho phạm vi thật quan trọng này trong cuộc sống hiện đại. Thật rõ rằng, những phương tiện truyền thông xã hội “thường tác động sâu xa trên tình cảm và trí tuệ, luân lý lẫn tôn giáo của những người sử dụng”, nhất các người trẻ.[67] Chúng có thể tạo một ảnh hường hữu ích cho đời sống và những thói quen của gia đình cũng như cho việc giáo dục trẻ em, nhưng đồng thời chúng cũng giấu ẩn “những cạm bẫy và nguy hiểm mà người ta không thể coi thường”,[68] và chúng cũng có thể trở nên phương tiện – đôi khi thật đáng tiếc được vận dụng một cách khéo léo và có hệ thống như vẫn xảy ra trong nhiều nước trên thế giới – để chuyên chở những ý thức hệ phá hoại hay những nhãn quan lệch lạc về cuộc sống, gia đình, tôn giáo, luân lý, khinh thường phẩm giá và định mệnh con người.

Nguy hiểm còn rõ hơn nữa khi “lối sống hiện nay, cách riêng tại các nước kỹ nghệ, thường lôi kéo các gia đình đến chỗ thóai thác trách nhiệm giáo dục con cái, viện cớ có những tiện ích giải trí (có sẵn ở gia đình qua truyền hình và một số sách báo) để trôi qua hết thì giờ và sinh hoạt nhi đồng, thiếu niên”.[69] Do đó chúng ta có “bổn phận” phải ra sức bảo vệ giới trẻ thoát những cuộc “tấn công” của các phương tiện truyền thông đại chúng, bằng cách sử dụng các phương tiện giải trí lành mạnh, hữu ích và mô phạm về thể lý, luân lý và thiêng liêng, “để gia tăng giá trị cho thời giờ rảnh rỗi của giới trẻ cũng như định hướng năng lực cho họ”.[70]

Ngoài ra, vì các phương tiện truyền thông xã hội – cũng như học đường và môi sinh – thường gây ảnh hưởng đáng kể trong việc đào tạo con cái, cho nên với tư cách là những người sử dụng các phương tiện ấy, các cha mẹ cần giữ vai trò chủ động trong việc sử dụng cách điều độ, có phê phán, phản tỉnh và khôn ngoan, hầu định mức ảnh hưởng của chúng trên con cái, cũng như giữ vai trò chủ động trong việc can thiệp nhằm giáo dục cho lương tâm của con cái có được những phán đoán trong sáng và khách quan, để chúng có thể chấp nhận hay từ chối một chương trình nào đó trong những chương trình được trình diễn”.[71]

Với cố gắng tương tự cha mẹ sẽ tìm cách gây ảnh hưởng trên chính việc chọn lựa và chuẩn bị các chương trình, bằng cách có những sáng kiến thích hợp để liên lạc với những người có trách nhiệm thuộc các cấp khác nhau trong việc sản xuất và phát hành, để bảo đảm không vì quyền lợi bất chấp những giá trị nhân bản nền tảng, là một phần công ích xã hội đích thực, và hơn nữa để người ta đừng cố tình gây thiệt hại cho các giá trị ấy, ngược lại, sẽ phổ biến những chương trình thích hợp trình bày các vấn đề gia đình, trong ánh sáng trung thực của chúng, và cách giải đáp thỏa đáng cho các vấn đề ấy. Về vấn đề này, vị tiền nhiệm của tôi là Đức Phaolô VI đã viết: “Các nhà sản xuất phải nhận biết và tôn trọng những đòi hỏi của gia đình. Điều đó giả thiết đôi khi họ phải rất can đảm và lúc nào cũng phải ý thức trách nhiệm rất cao. Thật vậy, họ phải tự ngăn cấm mình về… tất cả những gì có thể làm tổn thương đến gia đình trong sự hiện hữu, bền vững, quân bình và hạnh phúc; vì mọi điều phương hại đến các giá trị căn bản của gia đình – dù là tự do luyến ái hay những sự bạo hành, biện hộ cho sự ly dị hay những thái độ chống xã hội của người trẻ – đều là một sự phương hại cho thiện ích đích thực của con người.[72]

Và trong một dịp tương tự, chính tôi cũng đã nhấn mạnh rằng, các gia đình “phải có thể tin cậy thật tình vào thiện chí, sự ngay thẳng và ý thức trách nhiệm của những người chuyên nghề truyền thông đại chúng: từ các nhà xuất bản, văn sĩ, nhà sản xuất, đạo diễn, tác giả kịch bản, đến các thông tín viên, bình luận gia, diễn viên”.[73] Vì thế Hội Thánh cũng có bổn phận phải không ngừng dành mọi quan tâm cho các hạng nhân viên ấy, đồng thời khuyến khích và nâng đỡ những người công giáo cảm thấy mình được kêu gọi và có khả năng để dấn thân vào các ngành tế nhị này.

IV. MỤC VỤ GIA ĐÌNH TRONG NHỮNG HOÀN CẢNH KHÓ KHĂN

Những hoàn cảnh đặc thù

77. Còn phải quảng đại, thông minh, khôn khéo, theo gương vị Mục Tử nhân lành, khi dấn thân làm mục vụ cho các gia đình đang đối đầu với những khó khăn thật sự, thường ngoài ý muốn và do những đòi hỏi đủ loại.

Về điểm này, đặc biệt cần chú ý đến một số gia đình đặc thù không chỉ cần trợ giúp nhưng còn cần một hành động hiệu quả trên dư luận quần chúng và nhất là trên cơ cấu văn hóa, kinh tế, luật pháp nhằm loại bỏ tối đa những nguyên cớ sâu xa gây khó khăn cho họ.

Chẳng hạn như gia đình di dân tìm việc làm, gia đình những người bị bó buộc phải vắng mặt lâu ngày, như quân nhân, thuỷ thủ, du mục đủ loại, gia đình tù nhân, những người tị nạn hay bị lưu đầy; những gia đình giữa đô thị mà thực tế lại sống bên lề; các gia đình không nhà cửa; các gia đình không đầy đủ, chỉ có cha hoặc chỉ có mẹ; những gia đình có con bị tàn tật hay nghiện ma tuý; những gia đình có người nghiện rượu; những gia đình bị tách khỏi môi trường văn hóa và xã hội của họ, hay có nguy cơ mất môi trường ấy; những gia đình bị kỳ thị vì chính trị hay vì những lẽ khác; những gia đình bị xâu xé vì ý thức hệ; những gia đình không thể dễ dàng tiếp xúc với giáo xứ; những gia đình bị bạo hành hay bị ngược đãi vì đức tin; những gia đình vị thành niên; những người già cả không hiếm khi phải sống trong cô đơn và thiếu những phương tiện cần thiết để sinh sống.

Gia đình những người di cư, đặc biệt, thợ thuyền và nông dân, phải tìm cho mình được một quê hương ở khắp nơi trong Hội Thánh. Đó là bổn phận nằm trong bản chất Hội Thánh, vì Hội Thánh là dấu chỉ hiệp nhất trong đa dạng tính. Những người di cư phải được các linh mục tận tình giúp đỡ về nghi lễ, văn hóa và ngôn ngữ. Hội Thánh có bổn phận kêu gọi lương tâm tất cả những ai đang cầm quyền trong đời sống xã hội, kinh tế, và chính trị, để thợ thuyền tìm được việc làm trong miền đất quê hương của họ, nhận được đồng lương xứng đáng, gia đình được sớm đoàn tụ, căn tính văn hóa của họ được thừa nhận, được đối xử bình đẳng với các gia đình khác và để con cái họ có thể được hưởng sự huấn nghiệp và được hành nghề, cũng như có thể có được mảnh đất cần thiết để làm việc và sinh sống.

Một vấn đề nan giải là vấn đề các gia đình bị xâu xé trên bình diện ý thức hệ. Những trường hợp này đòi phải có lưu tâm mục vụ đặc thù. Trước hết, một cách kín đáo, cần giữ sự tiếp xúc riêng với những gia đình như thế. Các tín hữu phải được củng cố trong đức tin và nâng đỡ trong đời sống Kitô hữu của họ. Mặc dù phía còn trung thành với đạo Công Giáo không thể nhượng bộ, nhưng cần phải luôn giữ được sự đối thoại sống động với phía bên kia. Cần tăng thêm nhiều những sự biểu lộ yêu thương, kính trọng, trong niềm hy vọng sẽ giữ được sự hiệp nhất bền chặt. Điều ấy cũng tùy thuộc nhiều ở tương quan giữa cha mẹ và con cái. Các ý thức hệ xa lạ với đức tin, cuối cùng, có thể khích động các phần tử tín hữu trong gia đình phải lớn lên trong đức tin và trong chứng tá tình yêu của họ.

Những lúc khó khăn khác gia đình cần đến sự giúp đỡ của cộng đoàn Hội Thánh và của các chủ chăn có thể là: khi con cái đến tuổi dậy thì, dao động, phản kháng và đôi khi gây rối loạn; khi chúng lập gia đình, tách khỏi cha mẹ; khi không được thông cảm hay thiếu tình thương của những người thân yêu nhất; khi bị người phối ngẫu bỏ rơi hay khi người ấy chết, phải rơi vào kinh nghiệm đau thương của cảnh goá bụa; khi có một người trong gia đình chết, làm cho nòng cốt nguyên thuỷ của gia đình bị cắt bớt và bị biến dạng sâu xa.

Cũng thế, Hội Thánh không thể coi thường giai đoạn về già, với tất cả những tích cực và tiêu cực của nó: có thể là một sự đào sâu tình vợ chồng ngày càng thanh khiết và là kết quả của một đời trung thành lâu dài không gián đoạn; một sự sẵn sàng phục vụ người khác, dưới một thể thức mới mẻ, với lòng tốt và sự khôn ngoan chất chứa cũng như với những năng lực còn lại; nhưng cũng có một sự cô đơn đè nặng, thường về tâm lý và tình cảm hơn về thể lý, vì bị con cái hoặc những người khác trong họ hàng bỏ rơi hay không được họ lưu tâm đủ, rồi nỗi khổ tâm vì bệnh tật, vì sức lực suy giảm, vì phải hạ mình tùy thuộc người khác, vì chua chát cảm thấy mình trở thành gánh nặng cho những người thân yêu, vì thấy gần tới những giờ phút cuối cùng của cuộc đời. Như các nghị phụ Thượng Hội Đồng Giám Mục đã gợi ý, đây là những cơ hội người ta có thể dễ dàng giúp cho người già hiểu được và sống được các khía cạnh nổi bật trong linh đạo hôn nhân và gia đình, được gợi hứng trong thập giá và sự phục sinh của Đức Kitô, nguồn ơn thánh hóa và nguồn vui sâu xa cho đời sống thường nhật, trong khi hướng về những thực tại lớn lao cuối cùng của đời sống vĩnh cửu.

Trong tất cả những tình cảnh ấy, đừng bao giờ sao nhãng kinh nguyện là nguồn mạch ánh sáng và sức mạnh, đồng thời cũng là lương thực nuôi dưỡng niềm hy vọng Kitô giáo.

Các cuộc hôn nhân hỗn hợp

78. Còn phải có một sự lưu tâm mục vụ riêng dưới ánh sáng những định hướng và những qui tắc bao gồm trong các tài liệu mới nhất của Tòa Thánh và các Hội đồng Giám mục, để áp dụng cụ thể trong những tình cảnh khác nhau, trước con số những cuộc hôn nhân giữa người Công giáo và người đã rửa tội trong các hệ phái khác ngày càng tăng.

Các đôi bạn sống kinh nghiệm hôn nhân hỗn hợp với những đòi hỏi riêng, có thể xếp thành ba loại chính.

Trước hết, phải luôn ghi nhớ những bổn phận của phía công giáo phát xuất từ đức tin, về tất cả những gì liên hệ đến việc tự do thể hiện đức tin và từ đó, nghĩa vụ phải làm hết sức để lo cho con cái được rửa tội và giáo dục trong đức tin công giáo.[74]

Phải để ý đến những khó khăn đặc thù nằm trong các tương quan giữa vợ chồng về tất cả những gì liên hệ đến sự tôn trọng tự do tôn giáo: tự do này có thể bị xâm phạm hoặc do những áp lực vô lý buộc người phối ngẫu phải thay đổi các xác tín tôn giáo, hoặc do những cản trở khiến không được tự do biểu lộ những xác tín ấy trong việc thực hành tôn giáo.

Về những gì liên hệ tới hình thức phụng vụ và giáo luật của hôn nhân, các vị bản quyền có thể sử dụng rộng rãi các năng quyền của họ tùy nhu cầu.

Đề cập đến những đòi hỏi đặc biệt này, cần lưu ý những điểm sau đây:

– Khi làm công việc chuẩn bị thích hợp cho loại hôn nhân này, phải cố gắng hết sức để giúp hiểu thật rõ giáo lý công giáo về các đặc tính và các đòi hỏi của hôn nhân, cũng như để bảo đảm rằng trong tương lai sẽ không có việc gây áp lực hay cản trở như vừa nói trên.

– Điều quan trọng nhất là với sự nâng đỡ của cộng đồng công giáo, phía công giáo cần được củng cố trong đức tin và cần được tích cực giúp đỡ để có một sự hiểu biết chín chắn hơn về đức tin và để thực hành đức tin cách tốt đẹp hơn, bằng cách trở nên một nhân chứng đáng tin thực sự trong lòng gia đình, nhờ đời sống và nhờ phẩm chất tình yêu họ dành cho bạn mình và con cái.

Các cuộc hôn nhân giữa những người công giáo và những người được rửa tội trong các hệ phái khác, mặc dù mang một sắc thái đặc biệt, vẫn có nhiều yếu tố cần được tôn trọng và phát huy, hoặc vì giá trị nội tại của chúng hoặc vì chúng có thể góp phần cho phong trào đại kết. Điều đó được thấy rõ cách đặc biệt khi cả hai vợ chồng đều trung thành với những sự dấn thân trong tôn giáo của mình. Trong những cuộc hôn nhân này, Phép Rửa duy nhất của hai người và động năng ân sủng sẽ cung cấp cho đôi bạn nền tảng và động lực để giúp họ diễn tả được sự hiệp nhất trong lãnh vực các giá trị luân lý và tâm linh.

Trong mục đích ấy, và cũng để làm nổi bật tầm quan trọng đại kết của một cuộc hôn nhân hỗn hợp được sống trọn vẹn trong đức tin của cả hai người phối ngẫu đều là Kitô hữu, người ta nên tìm cách để có được sự cộng tác chân tình – mặc dù việc này không phải mọi lúc đều dễ dàng – giữa thừa tác viên công giáo và thừa tác viên không công giáo, từ việc chuẩn bị hôn nhân cho tới lễ cưới.

Về việc cho phép bên không công giáo rước lễ, sẽ theo những qui tắc mà phòng hiệp nhất Kitô hữu đã ấn định.[75]

Ở nhiều miền khác nhau trên thế giới, người ta còn ghi nhận con số những cuộc hôn nhân giữa người công giáo và người chưa rửa tội ngày càng gia tăng. Trong một số trường hợp, người phối ngẫu không rửa tội có tuyên xưng một tôn giáo, những xác tín của người ấy phải được kính trọng, theo những nguyên tắc trong Tuyên ngôn “Nostra Aetate” của Công Đồng Vaticano II về các tương quan với các tôn giáo ngoài Kitô giáo. Nhưng trong nhiều trường hợp khác, cách riêng trong những xã hội bị tục hóa, người không rửa tội lại không tuyên xưng một tôn giáo nào. Đối với những cuộc hôn nhân này, các Hội Đồng Giám Mục và các Giám Mục cần liệu những phương sách mục vụ thích đáng, nhằm bảo đảm việc bảo vệ đức tin của người phối ngẫu công giáo và bảo vệ việc tự do thể hiện đức tin, nhất là về bổn phận người ấy phải làm hết sức để con cái được rửa tội, và giáo dục theo đức tin công giáo. Người phối ngẫu công giáo cũng phải được nâng đỡ mọi cách để biết cố gắng đem lại chứng tá đích thực về đức tin và đời sống công giáo ngay trong gia đình Kitô hữu.

Hoạt động mục vụ trong một vài hoàn cảnh trái qui tắc

79. Với mối bận tâm muốn bảo vệ gia đình trong mọi chiều kích của nó – chứ không phải chỉ nguyên chiều kích tôn giáo – Thượng Hội Đồng Giám Mục cũng đã chú tâm xem xét một vài hoàn cảnh trái qui tắc trên bình diện tôn giáo và thường cả trên bình diện dân sự. Giữa những thay đổi nhanh chóng về văn hóa ngày nay, thật đáng tiếc những chuyện trái qui tắc này đang lan tràn ngay cả giữa những người công giáo, gây một thiệt hại nghiêm trọng cho cơ chế gia đình và xã hội mà gia đình là tế bào căn bản.

a. Hôn nhân thử

80. Tình trạng trái qui tắc đầu tiên thường được gọi là “hôn nhân thử” mà ngày nay nhiều người đang muốn biện minh bằng cách gán cho nó một vài giá trị nào đó. Thật là một điều không thể nào chấp nhận được. Chỉ nguyên lý trí con người cũng đủ cho thấy điều đó, khi cho thấy rằng chẳng có mấy lý do khiến ta có thể nói đến việc “thử nghiệm” nhân vị, vì phẩm giá của nhân vị đòi hỏi nó phải luôn luôn là và chỉ có thể là đích điểm của tình yêu trao hiến không trừ một giới hạn nào, dù là giới hạn thời gian hay bất cứ giới hạn nào khác.

Về phần mình, Hội Thánh không thể chấp nhận loại kết hợp này, còn vì những lý do bổ túc và độc đáo khác phát xuất từ đức tin. Thật vậy, một đàng việc trao hiến thân xác trong tương quan tính dục là biểu tượng thực sự cho việc trao hiến trọn cả ngôi vị; hơn nữa, trong ý định hiện hành của Thiên Chúa, một sự trao hiến như thế không thể thực hiện được sự thật trọn vẹn mà lại không cần đến tình yêu bác ái của Đức Kitô ban cho. Đàng khác hôn nhân giữa hai người đã rửa tội là biểu tượng thực sự cho việc kết hợp giữa Đức Kitô và Hội Thánh, một sự kết hợp không thể nào có tính cách tạm bợ hay “để thử”, nhưng là trung tín đời đời; như thế, giữa hai người đã rửa tội, chỉ có thể có một hôn nhân bất khả phân ly.

Một tình trạng như thế bình thường không thể nào thắng vượt được nếu ngay từ thơ ấu, nhân vị đã không được giáo dục, để lướt thắng nhục dục mới phát sinh và để thiết lập những tương quan tình yêu chân chính với người khác, với sự trợ giúp của ân sủng Đức Kitô và không sợ hãi. Điều này cũng sẽ không đạt được nếu thiếu sự đào tạo đúng nghĩa để biết yêu thương đích thực và sử dụng tính dục cách đúng đắn, một việc đào tạo có khả năng đưa dẫn nhân vị với mọi chiều kích của nó, kể cả thân xác, vào trong sự viên mãn của mầu nhiệm Đức Kitô.

Thật hữu ích nếu người ta điều tra kỹ các nguyên cớ của hiện tượng này, ngay cả trong khía cạnh tâm lý và xã hội để có thể tìm được một phương thức chữa trị thật thích đáng.

b. Những vụ chung sống không hôn nhân

81. Đây là trường hợp những việc kết hợp không có một ràng buộc cơ chế nào được công khai nhìn nhận, cả về dân sự lẫn về tôn giáo. Hiện tượng này, càng ngày càng trở nên thông thường không thể nào không lôi cuốn sự chú tâm của các vị chủ chăn. Phải chú tâm tới những yếu tố khác biệt đưa tới tình trạng ấy, để nhờ tác động trên những yếu tố nguyên nhân để có thể giảm bớt được các hậu quả.

Quả thế, một số người cho rằng bị buộc phải đi đến tình trạng ấy vì những tình cảnh khó khăn về mặt kinh tế, văn hóa hay tôn giáo. Họ nghĩ rằng nếu thực hiện một cuộc hôn nhân đúng luật, họ sẽ bị thiệt thòi, bị mất mát các lợi ích kinh tế, bị kỳ thị,.v.v… Một số người khác lại gặp thấy một thái độ miệt thị, phản kháng hay chối bỏ đối với xã hội, cơ chế gia đình, trật tự chính trị xã hội, hoặc cũng có thể chỉ là một sự tìm kiếm lạc thú. Sau cùng, có những người bị đẩy đến tình trạng ấy vì sự ngu dốt và nghèo nàn cực độ, đôi khi cũng vì những điều kiện sống phát xuất từ những hoàn cảnh thật sự bất công, hoặc vì sự thiếu trưởng thành tâm lý khiến họ trở thành do dự và làm cho họ sợ hãi không dám cam kết ràng buộc với ai lâu bền và dứt khóat. Tại một vài xứ, lại có tục lệ cổ truyền, chỉ nghĩ đến hôn nhân đúng nghĩa sau một thời gian chung sống và sau khi đã sinh đứa con đầu lòng.

Mỗi yếu tố trên đây đều đặt ra cho Hội Thánh những vấn đề mục vụ gay go, vì đều đưa đến những hậu quả trầm trọng, hoặc trên bình diện tôn giáo và luân lý (mất ý thức tôn giáo về hôn nhân, được quan niệm trong ánh sáng của Giao ước giữa Thiên Chúa với dân Ngài; thiếu ơn sủng Bí tích; gây gương xấu trầm trọng), hoặc trên bình diện xã hội (phá hủy quan niệm về gia đình; làm suy yếu ý thức về sự trung thành, ngay cả đối với xã hội; có thể gây chấn động tâm lý cho con cái; cổ võ cho tính ích kỷ).

Các chủ chăn và cộng đồng Hội Thánh đều phải chuyên tâm tìm cách biết rõ những tình cảnh ấy và các nguyên cớ của chúng, từng trường hợp một; các vị phải để tâm, với sự kín đáo và tôn trọng, tìm cách đến với những người đang chung sống như thế, kiên nhẫn khai sáng cho họ, đón nhận họ với tình bác ái, đem lại cho họ một chứng tá về gia đình Kitô hữu, nói cách khác là làm tất cả những gì có thể đưa họ tới chỗ hợp thức hóa tình cảnh của họ. Tuy nhiên, trên hết, cần phải làm một công cuộc ngăn ngừa, bằng cách vun trồng ý thức về sự trung thành trong mọi việc giáo dục về luân lý và tôn giáo cho bạn trẻ, bằng cách huấn luyện cho họ có các điều kiện và cơ cấu thuận lợi cho sự trung thành ấy để nhờ đó họ thật sự được tự do, bằng cách giúp họ trưởng thành về mặt thiêng liêng, bằng cách làm cho họ hiểu được thực tại nhân bản và siêu nhiên phong phú của cuộc hôn nhân Bí tích.

Dân Thiên Chúa cũng phải can thiệp với các công quyền, để các quyền bính này chống lại những xu hướng đang làm phân hóa xã hội và gây thiệt hại cho phẩm giá, sự an ninh và tiện ích của nhiều công dân, cũng như để họ ra sức tránh cho quan niệm đại chúng khỏi đi tới chỗ coi rẻ tầm quan trọng của cơ chế hôn nhân và gia đình. Và tại nhiều miền, vì sự nghèo khổ cùng cực phát xuất từ những cơ cấu kinh tế và xã hội bất công và không thích hợp, mà các bạn trẻ không có được những điều kiện để có thể lập gia đình một cách thích hợp, do đó phải cầu mong sao cho xã hội và các công quyền tạo được sự thuận lợi cho người ta sống đời hôn nhân một cách hợp pháp, như bằng cách can thiệp vào xã hội và chính trị nhằm bảo đảm tiền lương gia đình, nhằm áp dụng những phương sách để ai nấy có được nơi cư trú thích hợp với đời sống gia đình, nhằm tạo ra những cơ hội tương xứng để làm việc và sinh sống.

c. Những người công giáo kết hôn mà chỉ có hôn phối dân sự

82. Trường hợp những người công giáo, vì những nguyên do ý thức hệ hay vì những lý do thực tiễn, muốn lập hôn phối dân sự mà từ chối việc cử hành hôn phối tôn giáo hoặc dời việc cử hành này lại sau, càng ngày càng trở nên nhiều. Không thể coi tình cảnh của họ cũng y như tình cảnh của những người chung sống mà không có một ràng buộc nào, vì ở đây ít ra cũng có một sự dấn thân nào đó vào một tình trạng sống nhất định và có lẽ cũng bền vững, cho dù viễn tượng ly dị là một chuyện không xa lạ lắm với loại quyết định này. Khi muốn việc liên kết của mình được sự nhìn nhận công khai của nhà nước, các đôi bạn này đã cho thấy rằng họ saün sàng đảm nhận những nghĩa vụ cũng như những quyền lợi của sự liên kết ấy. Dù vậy, Hội Thánh vẫn không thể chấp nhận tình trạng ấy.

Hoạt động mục vụ nhằm giúp cho người ta chấp nhận rằng nhất thiết phải có sự đi đôi giữa sự chọn lựa đời sống và đức tin họ tuyên xưng, mục vụ cũng phải cố gắng làm tất cả những gì có thể làm được để đưa người ấy tới chỗ hợp thức hóa tình cảnh của họ theo các nguyên tắc Kitô giáo. Mặc dù vẫn đầy tình bác ái lớn lao đối với họ và muốn đưa họ về tham dự cuộc sống các công đồng, nhưng dầu vậy các chủ chăn trong Hội Thánh vẫn không thể chấp nhận cho họ xưng tội rước lễ.

d. Những người ly thân và những người ly dị không tái hôn

83. Có những nguyên do khác nhau, như sự thiếu thông cảm giữa vợ chồng, thiếu khả năng mở ra với các tương quan liên vị,.v.v… có thể làm cho cuộc hôn nhân thành sự đi tới chỗ đổ vỡ đau thương, mà thường không hàn gắn nổi. Hiển nhiên là việc ly thân chỉ có thể được dùng như phương thuốc cuối cùng sau khi đã dùng đủ mọi cố gắng để tránh mà không hữu ích gì.

Sự cô đơn và nhiều khó khăn khác nữa thường là số phận dành cho người phối ngẫu bị phân ly, nhất là nếu người ấy vô tội. Trong trường hợp đó, cộng đồng Hội Thánh phải nâng đỡ người ấy hơn bao giờ, phải đem lại cho người ấy sự quí mến, liên đới cảm thông và giúp đỡ cụ thể để người ấy có thể trung thành ngay cả trong tình cảnh khó khăn của mình; phải giúp người ấy biết vun trồng sự tha thứ mà tình yêu thương Kitô giáo đòi hỏi và biết luôn luôn saün sàng nối lại cuộc sống vợ chồng trước kia.

Trường hợp một người phối ngẫu bị bó buộc phải chịu ly dị cũng tương tự như thế khi, vì ý thức rõ tính cách bất khả phân ly của dây hôn phối thành sự, người ấy không để mình bị lôi cuốn vào một sự kết hợp mới, nhưng chỉ ra sức chu toàn các bổn phận gia đình và các trách nhiệm Kitô hữu của mình. Lúc đó, chứng tích của họ về sự trung thành và về sự ăn khớp của mình với đời sống Kitô hữu có một giá trị thật đặc thù đối với thế giới và Hội Thánh hơn bao giờ hết, Hội Thánh phải đem lại cho họ một sự giúp đỡ đầy khích lệ ưu ái, và cho họ tham dự các Bí tích, không một cản trở nào.

e. Những người ly dị tái hôn

84. Kinh nghiệm thường ngày cho thấy rằng, bất hạnh thay những người đã ly dị dường như bao giờ cũng nhắm tiến tới một sự kết hợp mới, dĩ nhiên là chẳng có nghi lễ công giáo nào cả. Và vì đây là một đại họa ngày càng lan rộng và tấn công cả các môi trường công giáo như những đại họa khác, nên cần phải cấp bách đối kháng lại vấn đề này với một sự quan tâm hết sức lớn lao. Các nghị phụ Thượng Hội Đồng Giám Mục đã nghiên cứu rành rẽ vấn đề này. Quả vậy, được thiết lập để đưa dẫn mọi người tới ơn cứu độ, cách riêng những người đã chịu Phép Rửa tội, Hội Thánh không thể bỏ mặc những người, đã được kết hợp trong dây Bí tích Hôn Phối, nay lại muốn cưới người khác. Nên Hội Thánh phải cố gắng không biết mỏi mệt để đem các phương tiện cứu rỗi của mình cho họ sử dụng.

Vì lòng yêu sự thật, các chủ chăn phải biết rằng mình có nghĩa vụ phân biệt rõ những tình cảnh khác nhau. Thật thế, những người đã thành tâm cố gắng cứu vãn cuộc hôn nhân thứ nhất nhưng đã bị ruồng bỏ một cách bất công, thì khác hẳn với những người do sai lỗi trầm trọng đã phá huỷ cuộc hôn nhân thành sự theo giáo luật. Sau nữa cũng có trường hợp những người đã lấy một người khác để giáo dục con cái và đôi khi trong lòng cứ chủ quan tin chắc rằng cuộc hôn nhân trước, mà bây giờ đã bị phá huỷ không sao cứu vãn được, xưa nay vẫn không hề thành sự.

Cùng với Thượng Hội Đồng Giám Mục, tôi nồng nhiệt kêu mời các chủ chăn và toàn thể cộng đoàn tín hữu hãy giúp đỡ những người ly dị đã tái hôn. Bằng một lòng bác ái rộng lớn, tất cả sẽ làm thế nào để họ không cảm thấy bị lìa xa Hội Thánh, vì là những người đã được rửa tội, không những họ có thể mà còn phải dự phần vào đời sống Hội Thánh. Người ta sẽ mời họ lắng nghe Lời Thiên Chúa, tham dự Hy tế thánh lễ, kiên trì cầu nguyện, góp phần vào các công cuộc bác ái và vào các sáng kiến của Hội Thánh để phụng sự công lý, giáo dục con cái họ trong đức tin Kitô giáo, vun trồng tinh thần đền tội và làm các việc đền tội để ngày qua ngày thành khẩn nài xin ơn thánh của Thiên Chúa. Ước gì Hội Thánh cầu nguyện cho họ, khích lệ họ và tỏ ra là một người mẹ nhân từ đối với họ, và nhờ đó giữ họ trong đức tin đức cậy.

Tuy nhiên, Hội Thánh vẫn xác nhận lại kỷ luật của mình, kỷ luật xây dựng trên Thánh Kinh, theo đó Hội Thánh không thể chấp nhận cho những người ly dị tái hôn được hiệp thông Thánh Thể. Họ đã tự làm cho mình trở nên mất đi khả năng dự phần vào đó vì tình trạng của họ và vì điều kiện sống của họ mâu thuẫn một cách khách quan với sự hiệp thông yêu thương giữa Đức Kitô và Hội Thánh, như nó vẫn được diễn tả và hiện tại hóa trong phép Thánh Thể. Ngoài ra còn có một lý do mục vụ đặc thù khác: nếu chấp nhận cho những người ấy được rước lễ, điều đó sẽ khiến các tín hữu đi tới chỗ sai lạc, hiểu lầm giáo lý của Hội Thánh về sự bất khả phân ly của hôn nhân.

Việc giao hòa bằng Bí tích thống hối – là Bí tích mở đường cho Bí tích Thánh Thể – chỉ có thể được ban cho những người biết hối hận vì đã phạm đến dấu hiệu của Giao ước và của sự trung thành với Đức Kitô, và thành thật saün lòng chấp nhận một hình thức sống không còn mâu thuẫn với sự bất khả phân ly của hôn nhân nữa. Nói như thế là mặc nhiên cho rằng, khi có những lý do hệ trọng – chẳng hạn để làm gương và giáo dục con cái – người nam và người nữ không thể xa lìa nhau như luật buộc, thì “họ có thể quyết tâm sống hòan toàn tiết dục, nghĩa là tránh hẳn những hành vi dành riêng cho vợ chồng”.[76]

Cũng thế, vì sự kính trọng phải có đối với Bí tích hôn nhân, đối với chính những người phối ngẫu và thân thuộc của họ, cũng như đối với cộng đồng tín hữu, cấm tất cả mọi chủ chăn, dù bất cứ vì nguyên do nào hay bất cứ vịn cớ gì, ngay cả vì lý do mục vụ, đều không được cử hành bất cứ một thứ nghi thức nào cho những người đã ly dị nay kết hôn lại. Quả vậy, làm bất cứ điều gì loại đó cũng sẽ làm cho người ta có cảm tưởng rằng việc cưới hỏi mới này đã thành sự do một cuộc cử hành Bí tích nào đó, và như thế sẽ đưa người ta đến chỗ hiểu sai lạc về sự bất khả phân ly của hôn nhân.

Khi hành động như thế, Hội Thánh tuyên xưng rằng mình trung thành với Đức Kitô và với bản chất đích thực của mình; đồng thời, với một lòng từ mẫu, Hội Thánh cúi mình lo cho con cái, cách riêng là những người con đã bị người phối ngẫu hợp pháp của họ rầy bỏ mà không do lỗi của họ.

Với một lòng tin tưởng mãnh liệt, Hội Thánh tin rằng ngay cả những người đã lìa xa lệnh truyền của Chúa và đang tiếp tục sống trong tình trạng ấy, cũng có thể nhận được ơn hoán cải và cứu rỗi nơi Thiên Chúa, nếu họ kiên trì trong kinh nguyện, thống hối và bác ái.

Những người không gia đình

85. Tôi còn ao ước được nói thêm đôi lời với một hạng người mà vì điều kiện cụ thể mà họ đang sống – thường ngoài ý muốn của họ – tôi nhìn nhận họ gần gũi cách đặc biệt với Trái Tim của Đức Kitô và do đó đáng được Hội Thánh và nhất là các chủ chăn ân cần yêu mến và săn sóc.

Quả vậy, trong thế giới hiện nay có một số đông người thật bất hạnh vì không thể có liên hệ gì với cái mà ta quen gọi là gia đình đúng nghĩa. Có một phần rất lớn nhân loại đang sống trong những điều kiện nghèo khổ cùng cực, sống chung lộn, thiếu nhà cửa, quan hệ với nhau chẳng bền vững và hợp pháp, thiếu hẳn văn hóa, những hoàn cảnh ấy đã không cho phép họ nói tới chuyện gia đình. Có những người khác, vì những lý do khác nhau, đang sống đơn độc trên thế giới. Tuy nhiên “Tin Mừng về gia đình” cũng được gởi đến cả cho họ nữa.

Về những điều liên hệ đến những người đang sống trong sự nghèo khổ cùng cực, tôi đã nói đến nhu cầu cấp bách phải hành động thật can đảm để tìm ra cả trên bình diện chính trị, những cách giải quyết có thể giúp họ vượt lên khỏi tình trạng liệt nhược phi nhân bản ấy. Đó là một bổn phận cho toàn thể xã hội, vì mọi người đều liên đới với nhau, nhưng một cách đặc biệt đó là bổn phận của các công quyền vì họ phải gánh vác và chịu trách nhiệm, và cũng là một bổn phận cho các gia đình có bổn phận phải bày tỏ sự cảm thông rộng lớn và ý chí tương trợ của mình.

Đối với những người không có gia đình tự nhiên, thì càng phải mở rộng hơn nữa các cánh cửa của đại gia đình Hội Thánh. Đại gia đình này mang một khuôn mặt cụ thể, trong gia đình giáo phận và giáo xứ, trong các cộng đồng căn bản và trong các phong trào tông đồ. Trong thế giới ngày nay không ai vô gia đình: Hội Thánh là nhà và gia đình của tất cả mọi người, cách riêng là của những ai “đang lao đao và gánh nặng”.[77]

***

KẾT LUẬN

 

86. Tôi hướng về anh chị em, các đôi bạn, và hướng về anh chị em là những người cha, người mẹ gia đình.

Cha hướng về các con, các thanh niên thiếu nữ, là tương lai và là hy vọng của Hội Thánh và của thế giới, và vào đầu thiên niên kỷ thứ ba này, chúng con sẽ là hạt nhân hoạt động và sống thực của gia đình.

Tôi hướng về anh em đáng kính và thân mến trong Giám Mục Đoàn và trong chức linh mục, cũng như các con cái yêu quí của tôi là các tu sĩ nam nữ, những tâm hồn tận hiến cho Chúa để trở nên nhân chứng trước mặt các đôi bạn về thực tại tận cùng của tình yêu Thiên Chúa.

Tôi hướng về tất cả quí vị, những con người có trí phán đoán ngay thẳng, và đang bận tâm tới số phận của các gia đình, dưới danh nghĩa này hay danh nghĩa khác, trong giờ phút kết thúc Tông huấn này, tôi hướng về tất cả mọi người với một tấm lòng ưu ái nồng nhiệt.

Tương lai của nhân loại sẽ đến qua gia đình. Thế nên thật trọng yếu và cấp bách, tất cả mọi người thiện chí đều phải hết sức mình để bảo vệ và thăng tiến các giá trị và các đòi hỏi của gia đình.

Tôi thấy mình bị thúc bách phải yêu cầu các con cái Hội Thánh nỗ lực một cách đặc biệt cho vấn đề này. Trong đức tin, họ đã được hiểu biết đầy đủ về ý nghĩa kỳ diệu của Thiên Chúa, nên họ càng có lý do để lưu tâm tới thực tế gia đình, trong thời đại của chúng ta, thời đại thử thách và ân sủng.

Họ phải yêu mến gia đình một cách đặc biệt hơn cả. Đó là một mệnh lệnh cụ thể và gắt gao.

Yêu mến gia đình nghĩa là quí chuộng các giá trị và khả năng của gia đình, luôn tìm cách thăng tiến các giá trị và khả năng ấy. Yêu mến gia đình nghĩa là làm thế nào đảm bảo để có được môi trường thuận lợi hầu phát triển. Gia đình Kitô hữu ngày nay thường đang bị cám dỗ nản lòng hay đang âu lo trước những khó khăn, ngày một lớn; lòng yêu mến ấy còn được biểu lộ qua một hình thức trổi vượt nữa, đó là đem lại cho gia đình Kitô hữu những lý do để tự tin vào mình, qua những phong phú mà gia đình có được tự bản chất hay do ân sủng, qua sứ mạng Thiên Chúa đã uỷ thác cho gia đình. “Các gia đình ngày nay phải trấn tỉnh lại! Phải theo Chúa Kitô”.[78]

Ngoài ra, các Kitô hữu còn có bổn phận phải loan báo cách vui tươi và xác tín, “Tin Mừng” về gia đình, vì một cách tuyệt đối, gia đình đang còn và mãi mãi vẫn còn cần nghe và cần hiểu ngày càng sâu sắc hơn, những lời đích thực mặc khải cho gia đình biết chân tính của nó, những tiềm năng và tầm quan trọng sứ mạng gia đình trong xã hội loài người và trong Hội Thánh Thiên Chúa.

Hội Thánh biết đâu là con đường sẽ đưa gia đình đạt tới chân tính sâu xa nhất của nó. Hội Thánh được dạy cho biết con đường này nơi trường học của Đức Kitô và lịch sử, được diễn giải dưới ánh sáng Chúa Thánh Thần. Hội Thánh không áp đặt, nhưng cảm thấy mình bị đòi hỏi gắt gao phải biểu dương con đường ấy cho mọi người, không sợ hãi, nhưng với một lòng tin tưởng và hy vọng lớn lao, dù biết rằng “Tin Mừng” cũng bao gồm cả ngôn ngữ của thập giá. Chỉ có qua thập giá, gia đình mới có thể đạt được sự viên mãn của hữu thể và sự hoàn thiện của tình yêu.

Sau cùng tôi tha thiết kêu gọi tất cả Kitô hữu hãy thật lòng và can đảm cộng tác với tất cả những người thiện chí đang thể hiện trách nhiệm của họ đối với các gia đình. Những người đang hy sinh vì thiện ích gia đình, trong lòng Hội Thánh cũng như nhân danh Hội Thánh và dưới sự hướng dẫn của Hội Thánh, dù họp thành những nhóm hay cá nhân, phong trào hay hiệp hội, ước gì tất cả những người ấy biết liên kết với những người và những cơ chế khác nhau đang hoạt động cho cùng một lý tưởng. Khi trung thành với những giá trị Tin Mừng cũng như con người, và tôn trọng sự đa diện chính đáng trong các sáng kiến, việc cộng tác như thế sẽ giúp cho gia đình được thăng tiến mau chóng và toàn diện hơn.

Kết luận sứ điệp mục vụ này, một sứ điệp muốn thu hút sự chú ý của tất cả mọi người về những trách nhiệm, tuy nặng nề nhưng lôi cuốn, của gia đình Kitô hữu, giờ đây tôi tha thiết nài xin sự bảo trợ của Thánh Gia Nazaret.

Nơi gia đình ấy, do ý định nhiệm mầu của Thiên Chúa, Con Thiên Chúa đã sống ẩn dật nhiều năm tháng. Thế nên gia đình ấy là nguyên mẫu và là tấm gương cho mọi gia đình Kitô hữu. Chúng ta hãy nhìn gia đình ấy, Gia đình có một không hai trong thế giới, Gia đình đã sống âm thầm, lặng lẽ trong một thị trấn nhỏ Palestina, Gia đình đã bị thử thách vì nghèo khổ, bắt bớ, lưu đầy, Gia đình đã tôn vinh Thiên Chúa một cách trổi vượt và tinh khiết vô song: Gia đình ấy sẽ không quên cứu giúp các gia đình Kitô hữu và cứu giúp cả mọi gia đình trên thế giới, để họ trung thành với các bổn phận hằng ngày của họ, để họ biết cách chịu đựng những âu lo và xáo trộn trong cuộc sống, để họ quảng đại mở lòng ra trước những nhu cầu của người khác, để họ vui vẻ hòan tất chương trình Thiên Chúa đã định cho họ.

Ước gì Thánh Giuse, là “người công chính”, là người công nhân không biết mỏi mệt, là người bảo vệ nguyên vẹn tuyệt đối những gì đã được uỷ thác, luôn luôn gìn giữ các gia đình ấy, bênh vực họ, soi sáng cho họ!

Ước gì Đức Trinh Nữ Maria, là Mẹ của Hội Thánh, cũng nên Mẹ của “Hội Thánh tại gia”! Ước gì nhờ sự trợ giúp từ mẫu của Mẹ, mẹ gia đình Kitô hữu đều có thể thực sự trở nên một “Hội Thánh nhỏ”, trong đó mầu nhiệm của Hội Thánh Đức Kitô được phản ảnh và sống lại! Mẹ là Nữ Tỳ của Chúa, ước gì Mẹ là gương mẫu cho mọi gia đình biết khiêm tốn và quảng đại đón nhận ý của Thiên Chúa! Mẹ là Người Mẹ đau khổ dưới chân thập giá, ước gì Mẹ cũng ở đó để xoa dịu những đau khổ và lau sạch nước mắt của những ai đang ưu phiền vì những khó khăn gia đình họ đang gặp phải!

Ước gì Đức Kitô Chúa, là Vua vũ trụ, là Vua các gia đình, Đấng đã hiện diện ở Cana, cũng hiện diện trong mọi tổ ấm Kitô hữu, để thông ban cho nó ánh sáng niềm vui, sự bình an và sức mạnh. Hôm nay là đại lễ kính Vương quyền của Ngài, tôi cầu xin Ngài cho mọi gia đình biết quảng đại đóng góp phần độc đáo của mình, để Vương quốc Ngài được hiển trị trên thế giới, “Vương quốc của sự sống và sự thật, của ơn sủng và thánh thiện, của công lý, tình yêu và hòa bình”,[79] Vương quốc mà lịch sử đang lần bước tiến về.

Tôi xin ký thác mọi gia đình cho Ngài, cho Mẹ Maria, cho Thánh Giuse. Tôi xin đặt Tông Huấn này trong tay các Ngài để thưa Anh em đáng kính và các con yêu quí, chính các Ngài sẽ trao nó lại cho Anh em và các con, để các Ngài mở rộng tấm lòng của Anh em và các ơn trong ánh sáng mà Tin Mừng đang chiếu toả trên mỗi gia đình!

Tôi hứa liên lỉ cầu nguyện cho tất cả và từng người, và với tất cả tấm lòng của tôi, tôi xin gởi đến Anh em và các con Phép lành Tòa Thánh nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.

 

 

Ban hành tại Roma, gần đền thờ thánh Phêrô,

ngày 22 tháng 11 năm 1981, Lễ trọng thể kính Đức Kitô, Vua Vũ Trụ,

năm thứ tư triều Giáo Hoàng của tôi.

+ Gioan Phaolô II

Giáo Hoàng

 

 


[1] Công Đồng Vatican II, Sắc lệnh Tông Đồ Giáo Dân (Apostolicam Actuositatem), số 11.

[2] Công Đồng Vatican II, Hiến chế Mục Vụ (Gaudium et Spes), số 52.

[3] Xc. Công Đồng Vatican II, Sắc lệnh Tông Đồ Giáo Dân (Apostolicam Actuositatem), số 11.

[4] Rm 12,13.

[5] Mt 10,42.

[6] Xc. Công Đồng Vatican II, Hiến chế Mục Vụ (Gaudium et Spes), số 30.

[7] Ibidem

[8] Xc. Đề nghị 42.

[9] Công Đồng Vatican II, Hiến chế Giáo Hội (Lumen Gentium), số 31.

[10] Xc. Công Đồng Vatican II, Hiến chế Giáo Hội (Lumen Gentium), số 11; Sắc lệnh Tông Đồ Giáo Dân (Apostolicam Actuositatem), số 11; Gioan Phaolô II, Bài giảng lễ khai mạc Thượng Hội Đồng Giám Mục khóa VI, ngày 26-9-1980, số 3.

[11] Công Đồng Vatican II, Hiến chế Giáo Hội (Lumen Gentium), số 11.

[12] Ibid., số 41.

[13] Ibidem

[14] Xc. Đức Giáo Hoàng Phaolô VI, Thông điệp Sự Sống Con Người (Humanae Vitae), số 9.

[15] Công Đồng Vatican II, Hiến chế Mục Vụ (Gaudium et Spes), số 48.

[16] Xc. Công Đồng Vatican II, Hiến chế Mạc Khải (Dei Verbum), số 1.

[17] Xc. Rm 16,26.

[18] Xc. Đức Giáo Hoàng Phaolô VI, Thông điệp Sự Sống Con Người (Humanae Vitae), số 25.

[19] Đức Giáo Hoàng Phaolô VI, Tông huấn Loan Báo Tin Mừng (Nuntiandi Evangelii), số 71.

[20] Xc. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Diễn văn tại Đại hội Giám mục Nam Mỹ khóa III, ngày 28-1-1979, IV a.

[21] Công Đồng Vatican II, Hiến chế Giáo Hội (Lumen Gentium), số số 35.

[22] Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Tông huấn Dạy Giáo Lý (Catechesi Tradendae), số 68.

[23] Ibid., số 36.

[24] 1Cr 12,4-6; Ep 4,12-13,4.

[25] Mc 16,15.

[26] Công Đồng Vatican II, Hiến chế Giáo Hội (Lumen Gentium), số 11.

[27] Cv 1,8.

[28] Xc. 1Pr 3,12.

[29] Xc. Công Đồng Vatican II, Hiến chế Giáo Hội (Lumen Gentium), số 35; Sắc lệnh Tông Đồ Giáo Dân (Apostolicam Actuositatem), số 1.

[30] Xc. Cv 18; Rm 16,3-4.

[31] Xc. Công Đồng Vatican II, Sắc lệnh Truyền Giáo (Ad Gentes), số 39.

[32] Công Đồng Vatican II, Sắc lệnh Tông Đồ Giáo Dân (Apostolicam Actuositatem), số 30.

[33] Công Đồng Vatican II, Hiến chế Giáo Hội (Lumen Gentium), số 10.

[34] Công Đồng Vatican II, Hiến chế Mục Vụ (Gaudium et Spes), số 49.

[35] Ibid., số 48.

[36] Công Đồng Vatican II, Hiến chế Giáo Hội (Lumen Gentium), số 41.

[37] Công Đồng Vatican II, Hiến chế Phụng Vụ (Sacrosanctum Concilium), số 59.

[38] Xc. 1Pr 2,5; Công Đồng Vatican II, Hiến chế Giáo Hội (Lumen Gentium), số 34.

[39] Công Đồng Vatican II, Hiến chế Giáo Hội (Lumen Gentium), số 34.

[40] Công Đồng Vatican II, Hiến chế Phụng Vụ (Sacrosanctum Concilium), số 76.

[41] Xc. Ga 19,34.

[42] Đức Giáo Hoàng Phaolô VI, Thông điệp Sự Sống Con Người (Humanae Vitae), số 25.

[43] Ep 2,4.

[44] Xc. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Thông điệp Thiên Chúa Giàu Lòng Thương Xót (Dives in Misericordia), số 13.

[45] Xc. 1Pr 2,5.

[46] Mt 18, 19-20.

[47] Công Đồng Vatican II, Tuyên ngôn Giáo Dục Kitô Giáo (Gravissimum Educationis), số 3; Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Tông huấn Dạy Giáo Lý (Catechesi Tradendae), số 36.

[48] Đức Giáo Hoàng Phaolô VI, Diễn văn trong buổi triều yết chung, ngày 11-8-1976.

[49] Xc. Công Đồng Vatican II, Hiến chế Phụng Vụ (Sacrosanctum Concilium), số 12.

[50] Xc. Bản Tổng quy về Các Giờ Kinh Phụng Vụ, số 27.

[51] Đức Giáo Hoàng Phaolô VI, Tông huấn Kinh Mân Côi (Marialis Cultus), số 52 và 54.

[52] Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Diễn văn tại đền Mentorenlla, ngày 29-10-1978.

[53] Xc. Công Đồng Vatican II, Sắc lệnh Tông Đồ Giáo Dân (Apostolicam Actuositatem), số 4.

[54] Xc. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Diễn văn cho các Giám mục thuộc miền mục vụ XII của Hoa Kỳ, ngày 21-2-1978.

[55] Rm 8,2.

[56] Rm 5,5.

[57] Xc. Mc 10,45.

[58] Công Đồng Vatican II, Hiến chế Giáo Hội (Lumen Gentium), số 36.

[59] Ibid., số 36.

[60] Sứ điệp của Thượng Hội Đồng Giám Mục khóa VI gởi các gia đình kitô hữu, ngày 24-10-1980, số 12.

[61] Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Diễn văn tại Đại hội Giám mục Nam Mỹ, khóa III, ngày 28-1-1979.

[62] Xc. Công Đồng Vatican II, Hiến chế Phụng Vụ (Sacrosanctum Concilium), số 10.

[63] Xc. Nghi thức cử hành hôn phối, số 17.

[64] Xc. Công Đồng Vatican II, Hiến chế Phụng Vụ (Sacrosanctum Concilium), số 59.

[65] Công Đồng Vatican II, Sắc lệnh Canh Tân Thích Nghi Đời Sống Dòng Tu (Perfectae Caritatis), số 12.

[66] Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Diễn văn cho Confédération des conseillers familiaux chrétiennes, ngày 29-11-1980, số 3-4.

[67] Đức Giáo Hoàng Phaolô VI, Sứ điệp Ngày Thế Giới Truyền Thông Xã Hội lần thứ III, ngày 7-4-1969.

[68] Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Sứ điệp Ngày Thế Giới Truyền Thông Xã Hội, ngày 1-5-1980.

[69] Gioan Phaolô II, Sứ điệp Ngày Thế Giới Truyền Thông Xã Hội, ngày 10-5-1981, số 5.

[70] Ibidem

[71] Đức Giáo Hoàng Phaolô VI, Sứ điệp Ngày Thế Giới Truyền Thông Xã Hội lần thứ III, ngày 7-4-1969.

[72] Ibidem

[73] Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Sứ điệp Ngày Thế Giới Truyền Thông Xã Hội, ngày 1-5-1980.

[74] Xc. Đức Giáo Hoàng Phaolô VI, Tự sắc về Luật Hôn Nhân Hỗn Hợp (Matrimonio Mixta), số 4-5; xem thêm: Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Diễn văn cho những người tham dự Đại hội của Văn phòng hiệp nhất Kitô hữu, ngày 13-11-1981.

[75] Huấn dụ In Quibus Rerum Circumstantilis, ngày 15-6-1972.

[76] Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Bài giảng bế mạc Thượng Hội Đồng Giám Mục khóa VI, ngày 25-10-1980, số 7.

[77] Xc. Mt 11,26.

[78] Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Tông thư Appropinquat Jam, ngày 15-8-1989, số 1.

[79] Kinh Tiền Tụng lễ kính trọng thể Chúa Giêsu Kitô Vua Vũ Trụ.

 

 

Catechesis.Net