• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

Thông Điệp Veritatis Splendor (Ánh Rạng Ngời Chân Lý) Của ĐGH Gioan Phaolô II (Ngày 06-08-1993) – (3)

THÔNG ĐIỆP SPLENDOR VERITATIS

(ÁNH RẠNG NGỜI CHÂN LÝ)

CỦA ĐỨC GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLÔ II

GỞI TẤT CẢ CÁC GIÁM MỤC THUỘC GIÁO HỘI CÔNG GIÁO

BÀN VỀ MỘT VÀI VẤN ĐỀ CƠ BẢN

TRONG GIÁO HUẤN LUÂN LÝ CỦA GIÁO HỘI

Ban Hành ngày 5 - 10 - 1993

***

***

CHƯƠNG III

“SAO CHO THẬP GIÁ CỦA ĐỨC KITÔ

KHÔNG BỊ GIẢN LƯỢC THÀNH HƯ VÔ”

                                 (1 Cr 1, 17)

SỰ THIỆN LUÂN LÝ

ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG CỦA GIÁO HỘI VÀ CỦA THẾ GIỚI

“Chính vì để cho chúng ta được mãi tự do mà Đức Kitô đã giải thoát chúng ta” (Gl 5,1)

84. Vấn đề cơ bản được nhấn mạnh hơn cả trong số những vấn đề mà các chủ thuyết luân lý trên đây nêu ra, đó là mối tương quan giữa tự do của con người với Lề Luật của Thiên Chúa: nói cho cùng, đó là vấn đề tương quan giữa tự do với chân lý.

Theo đức tin Kitô giáo và theo học thuyết của Giáo Hội, “chỉ có tự do tuân phục Chân Lý mới dẫn con người tới sự thiện đích thực của con người. Sự thiện của con người, đó là ở trong chân lý và là làm theo Chân Lý” (136).

Đem lập trường của Giáo Hội đối chiếu với tình huống xã hội văn hóa hiện nay, chúng ta thấy tức khắc nổi bật lên mối cấp bách này đối với chính Giáo Hội, đó là phải bắt tay vào một công việc mục vụ gay cấn liên quan đến chính vấn nạn cơ bản này: “Mối liên kết thiết yếu giữa chân lý – sự thiện – tự do hầu như đã bị nền văn hóa đương thời đánh mất: bởi thế, dẫn dắt con người ngày nay đến chỗ khám phá ra lại mỗi liên kết ấy là một trong những đòi buộc đặc trưng trong sứ vụ của Giáo Hội, để cho thế giới được cứu độ. “Chân lý là gì?”, câu hỏi của Philatô ngày nay cũng buông ra từ môi miệng của một con người hụt hẫng yếm thế không còn biết mình ai, mình từ đâu đến và mình đi về đâu. Và thế là chúng ta thường chứng kiến cảnh nhào ngã khủng khiếp của con người trong những tình huống tự hủy diệt lần hồi. Người ta muốn nghe theo một số tiếng nói nào đó, và thế là người ta không còn cảm thấy mình phải công nhận tính chất tuyệt đối và bất khả hủy diệt của một giá trị luân lý nào nữa cả. Mở mắt ra là mọi người đều nhìn thấy tình trạng khinh miệt sự sống đã thành hình (là bào thai) nhưng chưa sinh hạ: tình trạng xâm phạm liên lỉ những quyền lợi cơ bản của con người: tình trạng hủy hoại một cách bất công những tài sản cần thiết cho cuộc sống chỉ đơn thuần ở mức độ của một con người. Hơn thế nữa còn có điều đã xảy ra trầm trọng hơn: con người không còn thâm tín rằng chỉ trong chân lý, mình mới tìm gặp ơn cứu độ. Sức mạnh cứu độ của sự thật nay bị phản bác, người ta giao nhượng cho tự do, một tự do đã bị nhổ tung khỏi mọi cội rễ khách quan, trách nhiệm quyết định một cách tự lập đâu là điều thiện đâu là điều dữ. Trong địa hạt thần học, chủ nghĩa tương đối này trở thành tình trạng thiếu tin cậy đối với sự khôn ngoan của Thiên Chúa là Đấng đúng lề luật luân lý để hướng dẫn con người. Để đối chọi với những gì mà luật luân lý truyền khiển, người ta đưa ra cái mà người ta gọi là những tình huống cụ thể, vì trong thâm tâm người ta không còn tin rằng Luật Thiên Chúa thì luôn mãi là sự thiện chân thật duy nhất của con người” (137).

85. Công việc phân định các chủ thuyết luân lý này đối với Giáo Hội, không chỉ dừng lại ở chỗ tố cáo hoặc bài xích nhưng, một cách tích cực, nhằm nâng đỡ một cách hết mực yêu thương tất cả mọi tín hữu để lương tâm họ được huấn luyện, biết đưa ra những phán đoán và dẫn tới những quyết định theo đúng với chân lý, như lời khuyên nhủ của thánh Phaolô: “Anh em chớ uốn mình theo thế gian này, nhưng ước chi nhờ đổi mới phán đoán anh em được biến đổi và biết phân định đâu là điều tốt, điều nào làm đẹp lòng Người và điều nào là trọn hảo” (Rm 12, 2). Để thio hành trách vụ này – đây là chính là “bí quyết” góp phần, cấu tạo Giáo Hội – Giáo Hội chẳng những cậy dựa vào những biểu thức trong giáo thuyết và vào những lời kêu gọi trong mục vụ nhắm đến sự tỉnh thức, nhưng đúng hơn vào ánh mắt không ngừng dõi theo Đức Giêsu là Chúa của mình. Cũng như người thanh niên trong Tin Mừng, hằng ngày Giáo hội quay mặt nhìn lên Đức Kitô với một tình yêu không nhàm chán, ý thức tròn đầy rằng chỉ có thể tìm gặp lời giải đáp đích thực và dứt khoát cho vấn đề luân lý ở nơi Người mà thôi.

Một cách đặc biệt, chính nơi Đức Giêsu chịu đóng đinh mà Giáo Hội tìm gặp lời giải đáp cho vấn nank hằng gây khắc khoải cho biết bao người thời đại: tuân phục những chuẩn mực luân lý phổ quát và bất biến thì làm sao còn có thể tôn trọng tính chất độc nhất và bất khả thay thế của con người, làm sao lại không xâm phạm tự do và phẩm giá của con người được? Giáo Hội mang lấy cho mình niềm ý thức mà thánh Phaolô có được về sứ vụ của ngài: “Đức Kitô… đã sai tôi đi… loan báo Tin Mừng, không phải bằng cách vận dụng sự khôn khéo của ngôn từ, nhưng để làm sao cho Thập Gía của Đức Kitô không bị giản lược thành hư vô… Phần chúng tôi, chúng tôi công bố một Đức Kitô chịu đóng đinh, là cớ vấp phạm đối với người Do Thái, là sự điên rồ đối với dân ngoại, nhưng đối với những ai được kêu gọi, dầu là Do thái hay Hi lạp, là chính Đức Kitô, là quyền năng và là khôn ngoan của Thiên Chúa” (1 Cr 1. 17. 23-24). Đức Kitô chịu đóng đinh mạc khải ý nghĩa chính tông của tự do. Người sống tự do một cách viên mãn nhờ tự hiến hòan toàn chính mình và Người kêu mời các môn đệ cùng thông phần vào tự do của Người.

86. Việc suy nghĩ bằng lý trí và kinh nghiệm thường nhật cho thấy rằng tự do con người không tránh khỏi tình trạng yếu đuối mỏng manh. Đó là tự do thật, nhưng là tự do hữu hạn: một tự do không có cội nguồn tuyệt đối và vô điều kiện ở nơi chính mình nhưng ở nơi cuộc hiện hữu trong đó nó chiếm chỗ đứng và đồng thời nhận chịu những giới hạn và những năng quyền. Đó là tự do của một thụ tạo, nghĩa là một món quà cần phải đón nhận như một hạt mầm và phải làm triển nở với tinh thần trách nhiệm. Tự do là yếu tố cấu thành con người với tư cách là hình ảnh của hữu thể được tạo thành vốn là nền tảng của phẩm giá con người: trong đó chất chứa ơn gọi là nguyên sơ mà Đấng Tạo Hóa ngỏ với con người để kêu mời con người đạt tới Sự Thiện đích thực, và hơn nữa, nhờ mạc khải của Đức Kitô, còn kêu mời con người dấn bước vào trong tình bằng hữu với Ngài bằng cách thông phần vào chính sự sống thần linh của Ngài. Tự do là sự chiếm hữu chính mình một cách bất khả vong thân và đồng thời là sự mở rộng một cách phổ quát trước tất cả những gì hiện hữu bằng cuộc xuất du ra khỏi chính mình để tiến đến sự nhận thức và tình yêu đối với tha nhân (138). Như thế tự do bám rễ trong chân lý của con người và lấy sự hiệp thông làm cùng đích.

Lý trí và kinh nghiệm không những nói lên sự mỏng manh của tự do nhưng còn nói lên tình trạng bi thảm của tự do. Con người khám phá ra rằng một cách bí nhiệm, tự do như thể bị đưa đẩy đến chỗ phản bội sự hướng mở của con người trước cõi Chân và cõi Thiện và rằng, điều rất thường xảy ra là tự do, trong thực tế, lại nghiêng chiều về việc chọn lựa những sự thiện hữu hạn, vắn vỏi và phù phiếm. Hơn thế nữa, trong những lầm lạc và những lựa chọn tiêu cực, con người cảm nhận một sự nổi loạn tận căn xô đẩy con người từ chối Chân Lý và Sự Thiện để tự đặt mình lên làm nguyên lý tuyệt đối cho chính mình: “Các ngươi sẽ nên giống như Thiên Chúa” (St 3, 5). Như vậy, tự do cần được giải thoát. Đức Kitô là Đấng giải thoát tự do: Người “đã giải thoát chúng ta để cho chúng ta được mãi tự do” (Gl 5,1).

87. Trên tất cả Đức Kitô mạc khải cho chúng ta rằng thân phận của tự do chính tông là phải nhìn nhận chân lý một cách liêm khiết và với tinh thần rộng mở: “Anh em sẽ nhận biết chân lý và chân lý sẽ giải thoát anh em” (Ga 8, 32) (139). Chính chân lý mang lại tự do cho con người khi phải đối đầu với quyền bính và tạo sức mạnh đến độ đổ máu đào để minh chứng. Đó chính là điều đã xảy ra với Đức Giêsu khi Người đối diện với Philatô: “Tôi đã sinh ra và đã đến trong thế gian này là chỉ để làm chứng cho chân lý” (Ga 18, 37). Cũng vậy, những ai thờ lạy Thiên Chúa một cách chân chính thì phải thờ lạy Ngài “trong tinh thần và chân lý” (Ga 4, 23): nhờ thờ lạy như thế mà những người này được nên tự do. Nơi Đức Giêsu Kitô, người ta nhận ra rằng sự gắn bó với chân lý và sự thờ lạy Thiên Chúa là những cội rễ thâm sâu nhất của tự do.

Ngoài ra, bằng chính đời sống của Người chớ không phải chỉ bằng lời nói. Đức Giêsu mạc khải rằng tự do được hòan toàn trong tình yêu, nghĩa là trong việc tự hiến chính mình. Chính Người đã nói: “Không ai có tình yêu nào lớn hơn tình yêu này: là hiến mạng sống mình vì bạn hữu” (Ga 15, 13). Người tự do tiến bước để đi vào Khổ Nạn (x. Mt 26, 46). Và, trong sự tuân phục Chúa Cha, Người đã giao nộp mạng sống mình trên Thập Gía vì tất cả nhân loại (Phl 2, 6-11). Bởi thế, chiêm ngắm Đức Giêsu chịu đóng đinh chính là con đường vương giả mà Giáo Hội phải mỗi ngày đặt chân lên và tiến bước nếu Giáo Hội muốn thấu hiểu toàn vẹn ý nghĩa của tự do: tự hiến nhằm phục vụ Thiên Chúa và anh em. Đồng thời hiệp thông với Chúa Kitô chịu đóng đinh và phục sinh chính là nguồn mạch không hề vơi mà Giáo Hội không ngừng kín múc để sống một cách tự do, để tự hiến và phục vụ khi chú giải câu “hãy phụng thờ Chúa với niềm hoan hỉ” trong thánh vịnh 100/99. Thánh Augustinô phát biểu: “Trong nhà Chúa, làm nô lệ thì cũng là tự do. Nô dịch là tự do khi đó không phải là cưỡng bức nhưng là tình yêu dấn bước phục vụ… Ước mong tình yêu biến ngươi thành nô lệ, bỡi lẽ chân lý đã làm cho ngươi nên tự do…. Ngươi vừa là nô lệ vừa là người tự do: nô lệ, bởi vì ngươi đã trở nên như thế: ngươi tự do, bởi vì ngươi được Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa của ngươi yêu mến Đấng Tạo Hóa của ngươi… Ngươi là nô lệ của Chúa, là người được Chúa phóng thích. Đừng vì tìm cách để được giải thoát mà lạc xa nhà của Đấng giải thoát ngươi!” (140). Như thế, Giáo Hội và hết các Kitô hữu trong Giáo Hội đều được mời gọi thông phần vào chức vụ vương giá (munus regale) của Đức Kitô trên Thập Giá (x. Ga 12, 32), vào ân sủng và vào trách nhiệm của Con Người, Đấng “đã đến không phải để được phục vụ, nhưng để phục vụ và để hiến ban mạng sống mình làm giá cứu chuộc muôn người” (Mt 20, 28) (141).

Như vậy Đức Giêsu tổng hợp một cách sống động và tự thân tất cả mọi yếu tố của tự do trọn hảo trong sự tuân phục hoàn toàn đối với thánh ý Thiên Chúa. Thân Thể chịu đóng đinh của Người là sự mạc khải tròn đầy về mối dây liên kết bất khả phân ly giữa tự do và chân lý, cũng như cuộc phục sinh của Người từ cõi chết là sự tuyên dương tột bậc về tính chất sai nở và về sức mạnh cứu độ của một tự do được thi thố trong chân lý.

Bước đi trong ánh sáng (x. 1 Ga 1. 7)

88. Tự do và chân lý đối chọi nhau và thậm chí bị tách biệt khỏi nhau một cách triệt để: đó là hệ luận, là biểu hiện và là hiệu quả của một luận cứ nhị phân còn nghiêm trọng hơn và tai hại hơn, luận cứ cắt rời đức tin ra khỏi luân lý.

Tình trạng tách lìa này là một trong những mối bận tâm mục vụ mãnh liệt nhất của Giáo hội trước tiến trình trần tục hóa hiện nay, là tiến trình mà vì đó nhiều người và phải nói rất nhiều người, suy nghĩ và sống “như thế Thiên Chúa không hiện hữu”. Chúng ta đứng trước một lề lối suy tưởng hiện đang tác động một cách sâu xa, rộng rãi và rất phổ biến đến những thái độ và những hành vi ứng xử của chính các Kitô hữu vốn đang bị suy yếu về đức tin và vốn đã đánh mất tính chất độc đáo của đức tin tiềm ẩn nơi tiêu chuẩn mới để giải thích và hành động trong đời sống bản thân, gia đình và xã hội. Thật ra, trong bối cảnh của một nền văn hóa đã phi Kitô hóa một cách sâu rộng, những tiêu chuẩn phán đoán và lựa chọn mà các tín hữu còn lưu giữ lại thường là xa lạ hoặc đối nghịch với những tiêu chuẩn của Tin Mừng.

Bởi thế, điều cấp bách là các Kitô hữu phải tái khám phá tính chất mới mẻ của đức tin và sức mạnh mà đức tin mang lại cho phán đoán trong tương quan với nền văn hóa chủ động và xâm lấn, như lời thánh Tông Đồ Phaolô cảnh cáo chúng ta: “Xưa kia anh em mê muội và u tối nhưng hiện nay anh em đã nên ánh sáng trong Chúa: anh em hãy ăn ở như con cái sự sáng; bởi lẽ hoa quả của ánh sáng là ở nơi lòng nhân hậu, sự công chính và chân lý. Anh em hãy phân định xem đâu là điêu đẹp lòng Chúa, anh em chớ can dự vào những sự việc vô sinh của chốn tối tăm; đúng hơn hãy tố giác những sự việc ấy... Bởi đó, anh em hãy canh chừng cách ăn nết ở của anh em; ước chi cách ăn nếp ở của anh em không là của những kẻ dại khờ nhưng là của những người khôn ngoan biết vận dụng tốt đẹp thời buổi hiện tại; bởi lẽ chúng ta đang ở vào thời buổi xấu” (Ep 5, 8-11. 15-16; x. 1 Tx 5, 4-8).

Cần phải tìm lại và trình bày một lần nữa khuôn mặc đích thực của đức tin Kitô giáo vốn không chỉ là một tập hợp những mệnh đề đòi trí tuệ phải chấp nhận và tán đồng. Ngược lại, đó là một sự nhận thức và là một kinh nghiệm của Đức Kitô, một ký ức sống động về các giới răn của Người, một chân lý phải thể hiện bằng cuộc sống. Ngoài ra, một lời nói chỉ thực sự được đón nhận khi nó được áp dụng vào trong các hành vi, khi nó được đem ra thực hành. Đức tin là một quyết định đem trọn cả cuộc sống vào nhập cuộc. Đức tin là một cuộc gặp gỡ, một cuộc đối thoại, một sự hiệp thông tình yêu và đời sống giữa người tín hữu với Đức Giêsu Kitô, là Đường, Sự Thật và Sự Sống (x. Ga 14, 6). Đức tin bao hàm hành vi tin cậy và phó thác đối với Đức Kitô, và nhờ đức tin mà chúng ta có thể sống như Người đã sống (x. Gl 2, 20), nghĩa là với một tình yêu cao cả nhất dành cho Thiên Chúa và tha nhân.

89. Đức tin còn có một nội dung luân lý: đức tin khơi nguồn và đòi buộc mọi sự dấn thân nhất quán trong đời sống: đức tin vừa bao gồm và vừa kiện toàn sự đón nhận cũng như sự tuân giữ các giới răn của Thiên Chúa. Như thánh Gioan tác giả Tin Mừng đã viết, “Thiên Chúa là Ánh Sáng, nơi Ngài chẳng hề có u tối. Nếu chúng ta nói rằng chúng ta hiệp thông với Ngài mà chúng ta lại bước đi trong u tối, thì chúng ta nói dối, chúng ta không thực thi chân lý… Căn cứ vào điều này mà chúng ta nghiệm ra được chúng ta nhận biết Ngài: đó là nếu chúng ta vâng giữ các giới răn của Ngài. Ai bảo rằng “Tôi nhận biết Ngài” mà lại không tuân giữ các giới răn của Ngài, người ấy là kẻ nói dối, và chân lý không ở nơi người ấy. nhưng người nào tuân giữ lời Ngài thì quả thực nơi người ấy tình yêu Thiên Chúa đã được thể hiện. Chính nơi điều ấy mà chúng ta nghiệm biết chúng ta ở trong Ngài. Kẻ nào tự hào ở trong ngài thì đến lượt mình cũng phải xử sự như người kia đã xử sự” (1 Ga 1, 5-6; 2, 3-6).

Nhờ đời sống luân lý, đức tin trở thành “tuyên xưng” chẳng những trước mặt Thiên Chúa, nhưng còn cả trước mặt loài người nữa: đức tin chuyển thành chứng từ. Đức Giêsu đã nói: “Anh em là ánh sáng thế gian. Một thành phố thì không thể ẩn núp bởi lẽ đã tọa lạc trên đỉnh núi. Người ta cũng không thắp đèn rồi nhét vào dưới hộc nhưng đặt trên giá cao để từ đó chiếu sáng cho tất cả mọi người trong nhà. Ánh sáng của anh em cũng phải chiếu sáng như thế trước mặt mọi người để họ xem thấy những công việc tốt đẹp của anh em và họ tôn kính Chúa Cha của anh em trên trời” (Mt 5, 14-16). Những công việc này đặc biệt là công việc của đức ái (x. Mt 25, 31-46) và của tự do chính tông tỏ lộ ra và thể hiện trong cuộc sống bằng việc tự hiến chính mình. Đến độ tự hiến hoàn toàn, như Đức Giêsu trên Thập Giá “đã yêu mến Giáo Hội và đã phó nộp chính mình cho Giáo Hội” (Ep 5, 25). Được kêu gọi bước đi trên cùng một đường lộ, người môn đệ nêu chứng từ bằng cách lấy chứng từ của Đức Kitô làm nguồn cội, mẫu mực và nơi nương tựa: “Nếu ai muốn nối bước theo Thầy, hãy từ bỏ mình đi, hãy vác lấy thập giá của mình mỗi ngày và hãy theo Thầy” (Lc 9, 23). Cứ theo những đòi hỏi mang tính triệt để của Tin Mừng, đức ái có thể đưa dẫn người tín hữu đến chỗ nếu chứng từ tột bực là tử vì đạo. Cả trong trường hợp này thì cũng là noi gương Đức Giêsu. Đấng phải chết trên Thập Giá, như lời thánh Phaolô đã viết cho các Kitô hữu ở Êphêxô: “Anh em hãy cố gắng bắt chước Thiên Chúa, như những người con dấu ái và hãy bước theo con đường tình yêu theo gương Đức Kitô. Đấng đã yêu thương chúng ta và đã phó nộp chính mình cho chúng ta, tự hiến chính mình lên Thiên Chúa làm của lễ ngát tỏa hương thơm” (Ep 5, 12).

Tử đạo, một hình thức tán dương sự thánh thiện bất khả xâm phạm của Luật Thiên Chúa.

90. Mỗi tương quan giữa đức tin và luân lý rực lên ánh sáng chói ngời qua sự tôn trọng vô điều kiện đối với những đòi buộc tuyệt đối do nơi phẩm giá của mỗi một con người, những đòi buộc được bảo vệ nhờ những chuẩn mực luân lý vốn ấn định sự cấm cản không miễn trừ đối với những hành vi tự chúng là xấu. Tính phổ quát và tính bất di bất dịch của chuẩn mực luân lý biểu lộ và đồng thời che chở phẩm giá con người, nghĩa là che chở tính bất khả xâm phạm của con người, nơi dọi chiếu ánh rạng ngời của Thiên Chúa (x. St 9, 5-6).

Sự kiện người Kitô tử đạo, là sự kiện đã luôn đi kèm và vẫn còn đi kèm với đời sống Giáo Hội, xác nhận một cách hết sức hùng hồn về tính chất bất khả chấp nhận của những chủ thuyết luân lý nào là từ chối sự tồn tại của những chuẩn mực luân lý nhất định, có giá trị và không miễn trừ.

91. Trong Cựu Ước, chúng ta đã từng gặp được những chứng từ tuyệt vời về sự trung tín đối với Lề Luật thánh thiện của Thiên Chúa, một sự trung tín đẩy mạnh đến chỗ tự nguyện chấp nhận cái chết. Câu chuyện Xu-dan-na là điển hình về phương diện này: chị đã trả lời như sau với hai vị phán quan bất chính đã đe dọa kết liễu cuộc đời chị nêu như chị không chịu nhượng bộ trước lòng thèm khát nhơ uế của họ: “Tôi quả đang bị dồn ép tư bề: nếu tôi nhượng bộ thì đối với tôi chẳng khác nào đi vào cõi chết, còn nếu tôi kháng cự tôi sẽ không thoát khỏi tay các ông. Thế nhưng tôi thà rơi vào tay các ông mà “vô tội” còn hơn là phạm tội trước mặt Thiên Chúa!” (Đn 13, 22-23). Vì đã lựa chọn “vô tội dầu phải sa vào” tay các vị phán quan. Xu-dan-ba chẳng những nêu chứng từ về đức tin và về lòng tin cậy của mình ở nơi Thiên Chúa nhưng còn nêu chứng từ về sự tuân phục của mình đối với chân lý và đối với đòi hỏi tuyệt đối của mệnh lệnh luân lý: do bởi tư thế ứng trực sẵn sàng chịu tử đạo, chỉ công bố rằng điều mà Luật Thiên Chúa thẩm định là xấu mà nếu cử làm thì chắc chắn không hợp lẽ cho dầu là để từ đó mà nít ra bất cứ điều thiện nào. Chị lựa chọn cho chính chị “phần tốt nhất”: một chứng từ hết mực trong sáng, không mảu may thoái nhượng, trước chân lý về điều thiện và trước Thiên Chúa của Ít-ra-en: như thế chị đã dùng hành vi để minh chứng sự thánh thiện của Thiên Chúa.

Nơi ngưỡng của Tân Ước, nhất định không để cho Luật của Chúa bị lặng câm và nhất định không thỏa hiệp với sự dữ. Gioan Tẩy Giả “đã hiến mạng sống mình cho công chính và chân lý” (142), và bởi đó ngài đã là vị tiền hô của Đấng Mêsia cho đến tử vì đạo (x. Mc 6, 17-29). Chính vì thế, “ngài đã bị nhốt trong bóng đêm của tù ngục, trong khi ngài là kẻ đã đến để làm chứng cho ánh sáng và đã xứng đáng mang danh hiệu là ngọn đuốc rực lên ánh sáng do bởi chính Ánh Sáng là Đức Kitô […]. Nếu ngài được diễm phúc làm phép rửa cho Đấng Cứu Chuộc trần gian thì ngài cũng được rửa bằng chính máu của ngài” (143).

Trong Tân Ước, người ta gặp thấy nhiều chứng từ do các môn đệ của Đức Kitô – trước hết phải kể đến phó tế Stêphanô (x. Cv 6, 8: 7, 60) và Tông Đồ Giacôbê (x. Cv 12, 1-2) – các vị này đã chết tử đạo để tuyên xưng đức tin và tình yêu của họ đối với Thầy và để nhất quyết không chối Thầy. Như vậy là họ đã noi theo Chúa Giêsu Đấng “đã nêu chứng từ tuyệt mỹ” (1 Tm 6, 13), lấy mạng sống mình hiến ban để xác nhận chân lý của sứ điệp mình. Rất nhiều những vị tử đạo khác đã chấp nhận bị bách hại và chấp nhận cái chết hơn là khép mình vào thái độ sùng bái ngẫu tượng bằng cách đốt hương trước tượng của hoàng đế (x. Kh 13, 7-10). Họ còn tiến xa đến chỗ nhất quyết không giả vờ thực hành nghi thức thờ phượng ấy, và bằng cách đó nêu gương về bổn phận phải tránh bất cứ hành vi cụ thể nào là nghịch với tình yêu Thiên Chúa và nghịch với chứng từ đức tin. Với sự tuân phục, như chính Đức Kitô, họ đã trao gởi và phó thác mạng sống họ trong tay Chúa Cha, cho Đầng có thể cứu họ khỏi chết (x. Dt 5, 7).

Giáo Hội nêu gương rất nhiều những thánh nam thánh nữ đã làm chứng cho sự thật luân lý và đã bênh vực sự thật ấy cho đến độ tử đạo, thà chết hơn là phạm bất cức một tội trọng nào. Khi nâng các ngài lên hàng vinh dự trên các bàn thờ, Giáo Hội đã liệt chứng từ của các ngài vào hàng qui điển và đã công bố rằng phán đoán của các ngài là đúng, vì các ngài đã cho rằng tình yêu Thiên Chúa nhất thiết bao hàm sự tuân thủ các giới răn, ngay cả trong những trường hợp nghiêm trọng nhất, và nhất thiết bao hàm sự từ chối vi phạm, ngay cả khi có ý hướng cứu vãn mạng sống mình.

92. Trong chứng từ tử đạo được sống như là sự khẳng định về tính bất khả xâm phạm của cấp trật luân lý, cùng một lúc ngời chiếu lên sự thánh thiện của Luật Thiên Chúa và tính bất khả dụng chạm của phẩm giá con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa và giống với Thiên Chúa: không bao giờ được phép triệt hạ phẩm giá hoặc sống mâu thuẫn với phẩm giá, cho dầu ý hướng có thể ngay lành và bất kể các khó khăn có thế nào chăng nữa. Đức Giêsu cảnh cáo chúng ta về điều này một cách hết sức nghiêm khắc: “Lời lãi cả thế gian nào ích gì cho con người nếu như con người phá hoại đời sống của chính mình? “(Mc 8, 36).

Mọi “ý nghĩa nhân bản” mà ngay cả trong những trường hợp “ngoại lệ” người ta kỳ vọng gán cho hành vi tự-nó-là-xấu đều bị chứng từ tử đạo tố cáo là giả tạo và sai lầm: hơn thế nữa, chứng từ tử đạo còn vén mở rõ rệt bộ mặt đích thực của hành vi ấy, một bộ mặt của tình trạng xâm phạm “nhân tính” con người, nơi người chủ động hơn là hơi kẻ nhận chịu (144). Bởi thế tử đạo còn là hình thức tán dương “nhân linh” trọn hảo và tán dương “sự sống” đích thực của con người, như Thánh Inhaxiô thánh Antiôkia đã minh chứng khi ngỏ lời với các Kitô hữu ở Rôma, nơi ngài chịu tử đạo: “Anh em thân mến, anh em hãy tha lỗi cho tôi: anh em đừng cản ngăn tôi sống, anh em đừng mong tôi chết... Xin hãy để cho tôi đón nhận ánh sáng tinh tuyền: khi tôi tới nơi ấy, tôi sẽ thật sự là một con người. Xin hãy cho phép tôi được nên người bắt chước cuộc khổ nạn của Thiên Chúa tôi” (145).

93. Sau hết, tử đạo là dấu chỉ rực rỡ cho sự thánh thiện của Giáo Hội: trung thành với Lề Luật thánh thiện của Thiên Chúa đến độ trở thành chứng từ cho Lề Luật ấy với giá cái chết, đó chính là một sự công bố long trọng và là một cuộc dấn thân thừa sai đến độ đổ máu đào (usque ad sanguinem) để cho ánh rạng ngời của sự thật luân lý không bị lu mờ trong phong hóa và não trạng của các cá nhân và của xã hội. Một chứng từ như thế mang lại một giá trị phi thường xét về phương diện góp phân, chẳng những trong xã hội dân sự mà cả trong nội bộ những cộng đoàn Giáo Hội, vào việc tránh khỏi bị vùi dập trong cơn khủng hoảng nguy hiểm nhất có thể tác hại con người: đó là tình trạng lẫn lộn về điều thiện và điều dữ làm cho không thể nào thiết lập và duy trì một cấp trật luân lý cho các cá nhân và các cộng đoàn. Nhờ gương mẫu hùng hồn và lôi cuốn với một đời sống hoàn tòan hiển dung do bởi ánh rạng ngời của sự thật luân lý, các thánh tử đạo và cách chung, tất cả các thánh trong Gíao hội chiếu dọi ánh sáng vào hết thảy các giai đoạn lịch sử và lay gọi ở đó cảm thức luân lý. Làm chứng cho điều thiện không chút đễ giữ, các ngài trở thành lời quở trách sinh động đối với những ai vi phạm lề luật (x. Kn 2, 12) và các ngài mang lại cho lời của ngôn sức Isaia tính chất hiện đại thường rằng: “Vô phúc cho những ai gọi điều dữ là thiện và gọi điều thiện là dữ, cho những ai lấy bóng tối làm ánh sáng và lấy ánh sáng làm bóng tối, cho những ai lấy đắng cay làm dịu ngọt và lấy dịu ngọt làm đắng cay” (Is 5, 20).

Nếu tử đạo là chóp đỉnh trong việc làm chứng cho sự thật luân lý, một hình thức làm chứng mà số người được mời gọi tương đối ít, thì dầu vậy vẫn còn có một hình thức làm chứng khác cũng nhất quán mà tất cả mọi Kitô hữu đều phải sẵn sàng dấn bước mỗi ngày, ngay cả với giá của những khổ đau và những hy sinh cam go. Thật vậy, đối diện với rất nhiều khó khăn mà sự trung thành với cấp trật luân lý đòi phải đương đầu ngay cả trong những hòan cảnh thường tình nhất, người Kitô hữu được kêu mời để cùng với ân sủng Thiên Chúa đã van nài trong kinh nguyện đi vào một cuộc dấn thân đôi lúc can trường, nhờ sức nâng đỡ của nhân đức mạnh dạn – như lời thánh Grêgôriô Cả đã dạy – thậm chí giúp người Kitô hữu đạt tới chỗ “quý chuộng những gian khó ở đời này để được những phần thưởng vĩnh cửu” (146).

94. Các Kitô hữu không phải là đơn phương trong lĩnh vực làm chứng cho tính chất tuyệt đối của sự thiện luân lý: chứng từ của họ được củng cố nhờ vào cảm thức luân lý của các dân tộc và của các truyền thống tôn giáo và minh triết lớn bên Tây phương và Đông phương, trong đó chắc hẳn có sự hoạt động huyền nhiệm của Thần Khí Thiên Chúa. Có thể đem suy tư của nhà thơ latinh là Juvénal ra áp dụng cho mọi người: “Bạn hãy coi như là tội ác lớn lao nhất nếu bạn đặt mạng sống mình lên trên danh dự và nếu, vì quý trọng sự sống thể lý, bạn đành để mất lẽ sống” (147). Tiếng nói lương tâm luôn luôn nhắc nhở không chút mập mờ rằng có những sự thật và những giá trị luân lý đòi người ta phải ứng phó đến độ dám hy sinh mạng sống. Qua những lời lẽ được phát biểu nhằm bênh vực các giá trị luân lý và nhất là nơi nghĩa cử hy sinh mạng sống vì những giá trị luân lý. Giáo Hội nhìn nhận chứng từ nêu lên vì chân lý, một chân lý đã hiện diện trong công trình tạo dựng nhưng chiếu tỏa một cách rực rỡ trên dung nhan Đức Kitô, như thánh Giustinô đã viết: “Cứ mỗi lần các đồ đệ của những học thuyết khắc kỷ […] diễn giải về luân lý và chứng tỏ sự khôn ngoan do bởi hạt mầm Ngôi Lời tiềm tàng nơi toàn thể giống dòng nhân loại, chúng ta biết rằng họ đều đã bị ghét bỏ và giết hại” (148).

Những chuẩn mực luân lý phổ quát và bất biến nhằm phục vụ con người và xã hội.

95. Đã biết bao lần người ta hiểu lệch lạc về học thuyết của Giáo Hội và cách riêng về lập trường kiên quyết của Giáo Hội trong việc bảo vệ hiệu lực phổ quát và trường tồn của những mệnh lệnh ngăn cấm và các hành vi tự chúng là xấu, coi đó là dấu chỉ của một thái độ gắt gao bất khoan nhượng, nhất là trong những tình huống tối ư phức tạp và xung khắc trong đời sống luân lý của con người và xã hội ngày nay, một thái độ gắt gao không thể không tương phản với tính chất từ mẫu của Giáo Hội. Người ta cho rằng Giáo Hội thiếu thông hiểu và thiếu đồng cảm. Thế nhưng, thực ra tính chất từ mẫu của Giáo Hội không thể tách rời khỏi sứ mệnh giảng dạy mà Giáo Hội luôn phải chu toàn với tư cách là Hiền Thê trung tín của Đức Kitô Đấng tự thân là chân lý: “Là nhà giáo dục, Giáo Hội công bố chuẩn mực luân lý mà không biết nhàm chán… Giáo hội không phải là tác giả cũng không phải là trọng tài đóng vai phân xử trước một chuẩn mực như thế. Vì vâng phục chân lý là Đức Kitô, Đấng phản chiếu hình ảnh trong bản tính và trong phẩm giá của con người Giáo Hội diễn giải chuẩn mực luân lý và đề nghị chuẩn mực luân lý ấy cho hết thảy mọi người thiện chí mà không hề che dấu những đòi buộc về tính triệt để và về sự toàn bích phát xuất từ đó (149).

Thật vậy, sự thông hiểu đúng nghĩa và sự đồng cảm tự nhiên phải nói lên tình yêu đối với con người, đối với sự thiện đích thực và đối với tự do chính tông của con người. Một tình yêu như thế chắc hẳn không thể sống bằng cách che dấu hoặc tiết giảm sự thật luân lý với nhưng bằng cách đề nghị sự thật luân lý với ý nghĩa thâm sâu của nó là sự tỏa chiếu Khôn Ngoan vĩnh cửu của Thiên Chúa, đạt thấu chúng ta nơi Đức Kitô, với tầm vóc của nó về việc phục vụ con người, về sự tăng trưởng tự do của con người và về việc truy tầm hạnh phúc của con người (150).

Đồng thời việc trình bày sự thật luân lý một cách minh bạch và sít sao không thể bỏ qua thái độ tôn trọng sâu xa và chân thành bắt nguồn từ một tình yêu kiên nhẫn và tín thác, mà con người luôn luôn cần có trên suốt lộ trình luân lý thường phải cực nhọc vì những khó khăn, những yếu đuối và những tình huống xót xa. Không bao giờ được thoái thác nguyên tắc “chân lý và nhất quán, do đó Giáo Hội không chấp nhận gọi điều dữ là thiện và gọi điều thiện là dữ” (151). Giáo Hội còn phải luôn luôn để tâm sao cho không bẻ nát cây sậy bị gãy và không dập tắt tim đèn còn khói (x. Is 42, 3). Đức Phaolô VI đã viết: “Không giảm bớt học thuyết mang tính cứu độ của Đức Kitô một chút nào, đó là hình thức bác ái lớn lao đối với các linh hồn nhưng đồng thời luôn kèm theo đức kiên nhẫn và lòng nhân hậu như chính Đức Giêsu đã nêu gương khi đối xử với con người. Vốn đã đến không phải để xét đoán nhưng để cứu độ (x. Ga 3, 17), chắc hẳn Người cư xử gắt gao đối với điều dữ, nhưng từ ái đối với mọi người” (152).

96. Thái độ kiên quyết của Giáo Hội trong việc bảo vệ những chuẩn mực luân lý phổ quát và bất biến không hề gây nhục nhã. Thái độ ấy chỉ nhằm phục vụ tự do thật sự của con người: bởi vì không thể có tự do ở bên ngoài chân lý hoặc đối nghịch lại với chân lý, việc bảo vệ quyết liệt nghĩa là không ỡm ờ và không khoan nhượng, những đòi buộc tuyệt đối không thể thoái thác của phẩm giá con người phải được coi như là điều kiện và là phương thế để có được tự do.

Công việc phục vụ này của Giáo hội nhắm đến mỗi người, xét theo hữu thể và cuộc sống hoàn toàn độc đáo của từng người: chỉ bằng cách tuân phục những chuẩn mực luân lý phổ quát mà con người đạt được sự xác quyết tròn đầy về tính thống nhất của mình với tư cách là ngôi vị và về triển vọng có thể thật sự tấn tới trên bình diện luân lý. Cũng chính vì nguyên do này mà công việc phục vụ của Giáo Hội nhắm đến tất cả mọi người, đến các cá nhân nhưng còn đến cộng đoàn và tập thể với tư cách là tập thể. Thật ra, các chuẩn mực này tạo thành nền móng không chuyển lay và nguồn bảo đảm vững chắc cho sự chung sống công bằng và hòa bình của nhân loại, và bởi đó cho một nền dân chủ đích thực có thể nảy sinh và triển nở khởi từ sự bình đẳng của hết mọi thành phần, với quyền lợi và bổn phận ngang bằng nhau. Đối với các chuẩn mực luân lý nào là ngăn cấm điều dữ tự nó là dữ, không có đặc quyền cũng không có ngoại lệ cho bất cứ một ai cả. Cho dầu người ta là chủ nhân ông của thế giới hay người ta là kẻ cùng đinh trong số những người “khốn khổ” trên mặt đất này, vẫn không hề có sự khác biệt nào: trước những đòi buộc luân lý, tất cả chúng ta đều tuyệt đối bình đẳng với nhau.

97. Bởi thế chúng ta nhận ra ý nghĩa sức mạnh vừa mang chiều kích bản thân vừa mang chiều kích xã hội của các chuẩn mực luân lý và trên tất cả, của các chuẩn mực luân lý tiêu cực nhằm ngăn cấm điều dữ: trong khi bênh vực phẩm giá bất khả xâm phạm của mỗi người: các chuẩn mực luân lý còn giúp bảo toàn nền móng xã hội nhân loại, giúp cho sự phát triển của xã hội được thẳng đường ngay lối và được sai nở. Cách riêng, các giới răn trong bảng Thập Giới thứ hai, mà Đức Giêsu gợi nhắc cho người thanh niên trong Tin Mừng (x. Mt 19, 18), làm thành những qui tắc đầu tiên cho bất cứ đời sống xã hội nào.

Các giới răn này được phát biểu bằng những từ ngữ khái quát. Nhưng nhờ vào sự kiện “con người […] vốn là và phải là nguyên lý, chủ thể và cùng đích của tất cả mọi định chế xã hội” (153), chúng ta có thể xác định các giới răn ấy và có thể minh giải chúng trong một bộ luật ứng xử chi tiết hơn. Hiểu như thế, các qui tắc luân lý cơ bản của đời sống xã hội bao gồm những đòi buộc nhất định mà cả các chức quyền công cộng lẫn các công dân đều phải tuân hành. Bất kể những ý hướng, đôi khi ngay lành, và những hoàn cảnh, thường thường gay go, các nhà cầm quyền dân sự và các cá nhân riêng rẽ không bao giờ được phép vi phạm những quyền lợi cơ bản bất khả thay thế của con người. Chính vì thế mà chỉ một nền luân lý biết nhìn nhận các chuẩn mực có giá trị trong hết mọi thời và cho hết mọi người, không bao giờ miễn trừ, mới có thể bảo đảm cho những nền móng luân lý của cảnh sống liên đới hòa hợp, trên bình diện quốc gia hoặc quốc tế.

Luân lý và cuộc canh tân đời sống xã hội và chính trị

98. Đứng trước những hình thức nghiêm trọng gồm tệ nạn bất công xã hội và kinh tế hoặc tệ nạn tham nhũng chính trị mà nạn nhân là cả những dân tộc và những quốc gia trong toàn thể, có một phản ứng bất mãn đang trổi dậy từ rất đông những người bị vùi dập và bị miệt thị trong những nhân quyền cơ bản và có một niềm xác tín ngày càng lan rộng một cách mãnh liệt hơn về sự cần thiết phải có một cuộc canh tân triệt để và đặc trưng trên bình diện bản thân và xã hội hầu chắc chắn mang lại sự công bằng, tình liên đới, đức liêm khiết và sự trong suốt.

Con đường phải trải qua chắc hẳn lâu dài và cam go: những nỗ lực phải thực thi còn nhiều và đáng kể mới có thể khởi động cuộc canh tân này, nguyên chỉ vì những nguyên nhân đa phức và trầm trọng đang gây nên và kéo dài những tình cảnh bất công hiện nay trên thế giới. Thế nhưng, như lịch sử và kinh nghiệm của mỗi người dạy cho biết, chúng ta không phải khó khăn mới tìm ra được những nguyên nhân thuần túy “văn hóa”, nghĩa là những nguyên nhân gắn liền với một số quan niệm về nhân sinh, xã hội và thế giới. Thật ra, nơi tâm điểm của vấn đề văn hóa, có cái gọi là cảm thức luân lý vốn, đến lượt mình, đặt nền tảng trên cảm thức tôn giáo và được thể hiện trong đó (154).

99. Chỉ một mình Thiên Chúa, Sự Thiện tối thượng, mới là nền tảng bất khả chuyển lay và là điều kiện bất khả thay thế của đời sống luân lý, tức của các giới răn và đặc biệt của các giới răn tiêu cực vốn luôn luôn và trong mọi trường hợp ngăn cấm những hành vi bất khả dung hợp với phẩm giá của mỗi một con người. Như thế Sự Thiên tối thượng và điều thiện luân lý giao nhau trong chân lý, chân lý của Thiên Chúa Tạo Hóa và Cứu Chuộc, chân lý của con người được Thiên Chúa tạo dựng và được Thiên Chúa cứu chuộc. Chỉ trên chân lý ấy mới có thể xây dựng một xã hội đổi mới và mới giải quyết được những vấn đề phức tạp và gay cấn đang làm cho xã hội lung lay mà vấn đề số một là làm sao thắng vượt các thứ hình thức chuyên chế chủ nghĩa bị diệt mở lối cho tự do chính tông của con người. “Chủ nghĩa chuyên chế phát sinh từ hành động phủ nhận chân lý hiểu theo nghĩa khách quan: nếu không có chân lý siêu việt mà nhờ tuân phục nó con người có thể đạt tới căn tình tròn đầy của mình thì trong những tình cảnh này không tài nào có được một nguyên lý vững chắc để bảo đảm cho những mối quan hệ công bằng giữa con người với nhau. Những lợi ích của họ xét theo giới lớp, theo nhóm hoặc theo quốc gia không thể nào không đưa họ đến chỗ đối nghịch với nhau. Nếu chân lý siêu việt không được công nhận, sức mạnh của quyền lực sẽ thắng thế, và mỗi người sẽ có khuynh hướng sử dụng tận mức các phương tiện trong tầm tay, đẩy mạnh những lợi ích hoặc những quan điểm của mình, bất chấp quyền lợi của tha nhân… Như vậy phải xác định vị trí cho cội rễ của chủ nghĩa chuyên chế hiện đại ở nơi hành vi phủ nhận phẩm giá siêu việt của con người, là hình ảnh hữu hình của Thiên Chúa vô hình và để là như thế, do bởi chính bản chất của mình, là chủ thể của những quyền lợi mà con người không được quyền xâm phạm, cho dầu với tư cách cá nhân, nhóm, giới lớp, quốc gia hay Nhà Nước. Cũng không nhân danh đa số của một bộ phậm xã hội nào đó để làm điều ấy như thể dấy lên chống lại thiểu số để rồi loại họ ra ngoài lề, áp bức, khai thác hoặc tìm cách hủy diệt họ” (155).

Chính vì thế, mối liên kết không thể tách lìa giữa chân lý và tự do – là phản ảnh của mối liên kết thiết yếu giữa sự khôn ngoan và thánh ý của Thiên Chúa – mang một ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với đời sống con người trong khuôn khổ xã-hội-kinh-tế và xã-hội-chính-trị đúng như tinh thần học thuyết xã hội của Giáo Hội – học thuyết này “đi vào lãnh vực… thần học và đặc biệt thần học luân lý” (156) – và đúng như những gì mà học thuyết trình bày về các giới răn giúp điều chỉnh đời sống xã hội, kinh tế và chính trị, chẳng những trong những gì liên quan đến các thái độ tổng quát, nhưng cả trong những cách ứng xử và những hành vi cụ thể chính xác và nhất định.

100. Cũng vậy, Sách Giáo Lý của Giáo Hội Công giáo khẳng định rằng “trong địa hạt kinh tế, sự tôn trọng phẩm giá con người đòi buộc phải thực hành nhân đức tiết độ, để điều hòa sự gắn bó đối với của cải trần thế: nhân đức công bằng, để bảo toàn quyền lợi của tha nhân và để giao nhượng cho tha nhân những gì tha nhân đáng được hưởng: tình liên đới, hợp với lời chỉ dẫn của luật vàng và theo như sự hào phóng của Chúa là Đấng “vốn giàu sang đã hóa nên nghèo khó để lấy sự nghèo khó của Người mà làm giàu cho chúng ta” (2 Cr 8, 9)” (157): tiếp đó, sách Giáo Lý trình bày một loạt những cách ứng xử và những hành vi làm tổn hại phẩm giá con người như: trộm cắp, cố tình cất giữ những của cải vay mượn hoặc những vật dụng thất thoát, gian lận trong thương mại (x. Đnl 25, 13-16), trả lương không công bằng (x. Đnl 24, 14-15; Gc 5,4), tăng giá với thái độ nhẫn tâm trên sự vô tri hoặc trên nỗi cơ cực của người khác (x. Am 8, 4-6), chiếm dụng và lấy làm của riêng những tài sản xã hội của một công trình nào đó, làm việc không đúng mức, gian lận thuế má, tráo trở trong những ngân phiếu và hóa đơn, chi tiêu thái quá, phung phí v.v. (158). Và còn nữa: “Giới răn thứ bảy nghiêm cấm những hành vi hoặc những công trình, vì bất cứ lý do nào hoặc ích kỷ hoặc ý thức hệ hoặc hám lợi hoặc chuyên chế, dẫn đến chỗ biến con người thành nô lệ, không màng tới phẩm giá con người, mua bán và hoán đổi con người như những mặt hàng. Đó là tội chống lại phẩm giá con người và chống lại những quyền lợi cơ bản của con người vì dùng bạo lực mà giản lược phẩm giá và những quyền lợi ấy thành giá trị để hưởng dùng hoặc thành đầu mối để trục lợi. Thánh Phaolô truyền lệnh cho người chủ Kitô hữu phải đối xử với nô lệ Kitô hữu của mình “không phải như người nô lệ, nhưng… như người anh em…, như một con người trong Chúa” (Plm 16)” (159).

101. Trong địa hạt chính trị, cần phải ghi nhận rằng tất cả những yếu tố như chân lý trong các mối quan hệ giữa những người bị trị với những người cai trị, sự trong suốt trong việc quản trị công cộng, thái độ chí công vô tư, sự tôn trọng đối với quyền lợi của các đối thủ chính trị, việc bảo toàn quyền lợi cho những người bị lên án trước những vụ xét xử hay những án lệnh sơ thẩm, việc sử dụng công bằng và liêm khiết những nguồn vốn công cộng, sự từ chối những phương tiện mờ ám hoặc bất hợp lệ hòng chiếm đoạt, gìn giữ và gia tăng quyền bính của mình, đều là những nguyên tắc thoạt tiên có cội rễ – cũng như, ngoài ra, mang tính khẩn thiết đặc biệt – ở nơi giá trị siêu việt của con người và ở nơi những đòi buộc luân lý khách quan của việc điều hành các Nhà Nước (160). Một khi người ta không tuân giữ những yếu tố trên, chính nền tảng của sự chung sống chính trị sẽ bị lung lay và dần dà toàn bộ đời sống xã hội sẽ bị lũng đoạn, đe dọa và suy thoái (x. Tv 14/13, 3-4; Kh 18, 2-3. 9-24). Trong nhiều quốc gia, sau sự sụp đổ của các ý thưc hệ nối liền chính trị với một quan niệm chuyên chế về thế giới – mà ý thức hệ đầu tiên là chủ nghĩa mác-xít – có một mối nguy không kém quan trọng hiện đang hình thành do tình trạng chối bỏ những nhân quyền cơ bản và do sự kiện nuốt trửng khát vọng tôn giáo trong khuôn khổ chính trị, một khát vọng tiềm tàng trong lòng mỗi người: đó là mối nguy có sự liên minh giữa nền dân chủ với chủ nghĩa tương đối về luân lý, một chủ nghĩa làm cho tình trạng chung sống giữa người dân với người dân chẳng còn một qui chiếu nào vững chắc về mặt luân lý và một cách triệt để hơn, bị tước đoạt mất khả năng đón nhận chân lý. Thật ra, “nếu không có một chân lý tột cùng nào để dẫn đường và định hướng cho hoạt động chính trị, các tư tưởng và các niềm xác tín sẽ dễ dàng bị khai thác nhằm phục vụ cho quyền bính. Một nền dân chủ mà thiếu những giá trị thì sẽ dễ dàng biến thành một chủ nghĩa chuyên chế công khai hoặc ngấm ngầm, như lịch sử từng minh chứng” (161).

Trong tất cả mọi lãnh vực của đời sống bản thân, gia đình, xã hội và chính trị, nền luân lý – vốn đặt nền tảng trên chân ý và trong chân lý, mở rộng cửa đón nhận tự do chính tông – có thể nói, cung ứng một nguồn phục vụ độc đáo, bất khả thay thế, rất cao về giá trị, chẳng những cho cá nhân ngõ hầu con người tấn tới trong sự thiện, mà còn cho xã hội ngõ hầu xã hội thực sự phát triển.

Ân sủng và sự tuân phục Luật Thiên Chúa

102. Ngay cả trong những tình huống gay cấn nhất, con người cũng phải tuân giữ những chuẩn mực luân lý bằng cách tuân phục những giới răn thánh thiện của Thiên Chúa và sao cho phù hợp với phẩm giá của mình. Chắc hẳn sự hòa điệu giữa tự do và chân lý đôi khi đòi hỏi những hy sinh vượt mức bình thường và chỉ đạt được bằng một giá đắt đỏ, có khi đến độ tử đạo. Thế nhưng, đúng như kinh nghiệm thường nhật và phổ quát xác nhận, con người bị cám dỗ phá vỡ sự hòa điệu ấy: “Điều tôi muốn thì tôi không làm, còn điều tôi ghét thì tôi lại làm… Điều thiện mà tôi ao ước thì tôi không làm và điều dữ mà tôi không muốn thì tôi lại sai phạm” (Rm 7, 15-19).

Xét cho cùng, tình trạng chia rẽ nội tại của con người như thế do đâu mà có? Con người khai mào lịch sử tội nhân của mình khi con người không còn nhìn nhận Chúa là Đấng Tạo Hóa của mình, và khi con người muốn tự mình quyết định lấy đâu là điều thiện và đâu là điều dữ, với một sự độc lập hoàn tòan. “Các ngươi sẽ nên giống Thiên Chúa, biết được điều thiện và điều dữ” (St 3, 5), mỗi cám dỗ đầu tiên là ở đó và từ đó vang vọng tất cả mọi cám dỗ khác, trong khi con người lại dễ nghiêng chiều hơn nữa về phía nhượng bộ do bởi những thương tích của cuộc sa ngã ban đầu.

Thế nhưng người ta có thể thắng vượt các mối cám dỗ và người ta có thể xa tránh các tội, bởi vì, cùng với các giới răn. Chúa Kitô ban cho chúng ta khả năng tuân giữ các giới răn: “Người đưa mắt nhìn về phía những kẻ kinh sợ Người. Người tự mình biết được tất cả mọi công nghiệp của loài người. Người đã không truyền lệnh cho một ai sống bất lương. Người đã không ban cho bất cứ ai quyền được phạm tội” (Hc 15, 19-20). Trong một số tình huống, tuân giữ Luật Thiên Chúa có thể là khó, rất khó, nhưng dầu vậy không bao giờ là không thể tuân giữ. Đó chính là giáo huấn thường rằng trong truyền thống Giáo hội mà Công Đồng Trentô diễn tả như sau: “Ngay cả khi đã được công chính hóa, không được tưởng rằng mình đã được phóng thích để khỏi phải tuân giữ các giới răn. Không ai được dùng công thức táo bạo và bị cấm chỉ sau đây, nếu dùng sẽ bị vạ tuyệt thông do các Đức Thánh Cha: con người đã được công chính hóa không thể nào tuân giữ nổi các giới răn của Thiên Chúa. “Bởi lẽ Thiên Chúa không truyền dạy những điều bất khả thi, ngược lại khi truyền dạy, Ngài mời bạn làm điều bạn có thể làm và cầu xin điều bạn không thể làm” và Ngài giúp bạn để bạn có thể làm. “Các giới răn của Ngài không đè nặng” (1 Ga 5, 3), “ách của Ngài thì êm ái và gánh của Ngài thì nhẹ nhàng” (x. Mt 11, 30)” (162).

103. Khoảng không gian thiêng liêng của niềm hy vọng luôn rộng mở đối với con người, với sự trợ giúp của ân sủng Thiên Chúa và sự cộng tác của tự do nhân linh.

Chính ở nơi Thập giá cứu độ của Đức Giêsu, ở nơi ân huệ của Chúa Thánh Thần, ở nơi các bí tích nảy sinh từ cạnh sườn bị đâm thủng của Đấng Cứu Chuộc (x. Ga 19, 34) mà người tín hữu tìm gặp được ân sủng và sức mạnh để luôn tuân giữ Lề Luật thánh thiện của Thiên Chúa, ngay cả trong những khó khăn nghiêm trọng nhất. Như Thánh An-rê thành Crète đã nói: “Bằng cách dùng ân sủng để làm cho Lề Luật nên sống động, Thiên Chúa đã bắt lề luật phải phục vụ ân sủng, với một sự ăn khớp hài hòa và sai nở, không trộn lẫn vào bên này những gì thuộc về bên kia, nhưng biến đổi một cách thật sự thần thiêng những gì là cơ cực, đọa đầy và không thể chịu nổi để làm cho chúng nên nhẹ nhàng và có khả năng giải thoát” (163).

Những khả năng “cụ thể” của con người chỉ có được ở trong mầu nhiệm Cứu Chuộc của Đức Kitô. “Thật là một sai lầm hết sức nghiêm trọng nếu từ đó mà kết luận rằng qui luật mà Giáo Hội giảng dạy tự nó chỉ là một “lý tưởng “, về sau còn cần phải thích nghi, sửa lại cho cân, xác định cấp độ, theo như người ta nói, tùy thuộc vào những khả năng cụ thể của con người, theo như “một sự cân bằng những điều thiện khác nhau được đặt ra”. Thế nhưng đâu là những “khả năng cụ thể của con người”? và người ta đang đề cập đến những con người nào đây? Tới con người bị chế ngự bởi lòng dục hay tới con người đã được Đức Kitô cứu chuộc? Bởi vì đó chính là điều cần phải xét đến: thực thể của sự Cứu Chuộc do Đức Kitô. Đức Kitô đã cứu chuộc chúng ta! Điều này có nghĩa là: Người đã tặng ban cho chúng ta khả năng thể hiện trọn vẹn sự thật của hữu thể chúng ta: Người đã giải thoát tự do của chúng ta khỏi ách thống trị của lòng dục. Và nếu như một khi đã được cứu chuộc con người vẫn còn phạm tội, thì đó không phải do hành vi cứu chuộc của Đức Kitô là bất toàn, nhưng do con người có ý muốn tách mình ra khỏi dòng ân sủng phát sinh từ hành vi ấy. Giới răn của Thiên Chúa chắc chắn cân xứng với những năng lực của con người, nhưng với những năng lực của con người đã được ban tặng Thánh Thần, của một con người nếu như có vấp ngã trong tội thì vẫn luôn có thể đạt được ơn tha thứ và vẫn luôn có thể hưởng nhờ sự hiện diện của Thần Khí” (164).

104. Chính trong bối cảnh này có sự mở ngõ đúng mức vào lượng từ ái của Thiên Chúa dành cho tội nhân biết hoán cải vào niềm thông hiểu đối với sự yếu đuối của con người. Niềm thông hiểu này không bao giờ có nghĩa là thoái nhượng hoặc cân đo một cách sai lạc điều thiện và điều dữ để thích nghi với các hoàn cảnh. Được kể là thái độ nhân bản nếu con người sau khi phạm tội biết nhìn nhận sự yếu đuối của mình và cấu xin lượng từ ái đối với lỗi phạm của mình, trong khi đó thì ngược lại, không thể nào là thái độ có thể chấp nhận nếu con người lấy sự yếu đuối của mình để dùng làm tiêu chuẩn đo lường chân lý về điều thiện, sao cho có thể cảm thấy mình biện minh cho mình là đủ, không còn cần phải nại đến Thiên Chúa và lượng từ ái của Ngài. Thái độ thứ hai này làm băng hoại nền luân lý của toàn thể xã hội, bởi vì nó dạy phải nghi ngờ về tính khách quan của lề luật luân lý nói chung và phải từ chối tính chất tuyệt đối của những lệnh cấm luân lý liên quan tới những hành vi nhân linh nhất định, và cuối cùng nó sẽ xáo trộn hết mọi phán đoán về giá trị.

Ngược hẳn với thái độ trên, chúng ta phải đón nhận sứ điệp được chuyển đến cho chúng ta qua dự ngôn người biệt phái và người thu thuế trong Tin Mừng (x. Lc 18, 9-14). Người thu thuế có lẽ cũng biện minh đôi điều về những tội mình đã phạm, nhằm giảm bớt trách nhiệm của mình. Dầu vậy người này không dừng lại ở những lời biện minh ấy trong khi cầu nguyện, nhưng đã dừng lại ở nơi tình trạng bất xứng của mình trước sự thánh thiện vô biên của Thiên Chúa: “Lạy Thiên Chúa tôi, xin dủ lòng thương tôi là kẻ có tội!” (Lc 18, 13). Còn người biệt phái thì ngược lại đã tự mình biện minh cho mình và hẳn đã tìm đủ lý lẽ để bào chữa cho từng sai sót của mình. Như vậy chúng ta đối đầu với hai thái độ khác nhau nơi lương tâm luân lý của con người thuộc mọi thời đại. Người thu thuế nêu dẫn cho chúng ta một lương tâm “thống hối” với ý thức tròn đầy về bản tính mỏng manh của mình và với sự nhìn nhận nơi những sai sót của mình, bất kể những biện minh chủ quan, niềm xác quyết về sự kiện này là mình cần ơn cứu chuộc. Người biệt phái nêu dẫn một lương tâm “thỏa mãn về chính mình”, với ảo tuởng rằng mình có thể tuân giữ lề luật mà không cần sự trợ giúp của ân sủng và với niềm thâm tín rằng mình chẳng cần đến lượng từ ái.

105. Mọi người đều được yêu cầu phải cảnh giác cao độ để không bị thấm nhiễm thái độ biệt phái là thái độ tự hào loại bỏ tâm tình về giới hạn của mình và về tội của mình, thái độ ấy ngày nay được biểu lộ một cách đặc biệt bằng tham vọng đem chuẩn mực luân lý thích nghi với những năng lực của mình, với những lợi ích riêng của mình, thậm chí đến chỗ từ bỏ luôn cả khái niệm chuẩn mực. Ngược lại, chấp nhận tình trạng “bất cân xứng” giữa lề luật với những năng lực của con người, nghĩa là những năng lực chỉ bao gồm những sức mạnh luân lý của con người một khi bị bỏ mặc tự mình, thì sẽ khơi dậy lòng khao khát ân sủng và sẽ ứng phó sẵn sàng để đón ân sủng. Thánh Phaolô tự hỏi: “Ai sẽ giải thoát tôi cho khỏi thân xác bằng xô đẩy tôi vào cái chết này?”. Thánh nhân trả lời bằng một câu tuyên xưng vui tươi và tri ân: “Xin tạ ơn Thiên Chúa nhờ Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta!” (Rm 7, 24-25).

Chúng ta gặp lại cùng một tâm thái ấy trong lời cầu nguyện của thánh Ambrôsiô thành Milanô:
Con người là chi nếu Người không thăm viếng? Xin Người đừng quên kẻ yếu đuối. Lạy Chúa, xin Người nhớ lại Người đã dựng nên con yếu đuối: xin Người nhớ lại Người đã tác tạo nên con từ tro bụi. Làm sao con có thể đứng vững nếu Người không luôn để tâm làm cho bùn đất là chính con được nên cứng cáp, nếu Người không để cho dung nhan Người mang lại sức mạnh cho con? “Chúa ẩn mật đi, chúng con rụng rời kinh hãi” (Tv 104/ 103, 29): con thật khốn khổ nếu Người đưa mắt nhìn con! Người sẽ chỉ thấy nơi con toàn là những hậu quả của lỗi lầm con: bị Thiên Chúa bỏ rơi thì đã đành rồi nhưng được Ngài ngắm nhìn cũng chẳng ích lợi chi, bởi vì chúng con xúc phạm đến Ngài. Dầu vậy, chúng con có quyền tin rằng Ngài không ruồng rẫy những kẻ Ngài xem thấy và Ngài thanh tẩy những kẻ Ngài đưa mắt nhìn. Trước mặt Người, bừng cháy lên ngọn lửa có sức thiêu đốt tội lỗi (x. Ge 2, 3)” (165).

Luân lý và công cuộc phúc âm hóa mới

106. Công cuộc phúc âm hóa được kể là thách đố mãnh liệt nhất và hào hùng nhất mà Giáo Hội được kêu mời đảm nhận ngay tự buổi đầu. Thật ra, thách đố này không do nơi những tình huống xã hội và văn hóa mà Giáo Hội gặp phải theo dòng lịch sử cho bằng do nơi mệnh lệnh của Đức Giêsu Kitô phục sinh là mệnh lệnh xác định ngay cả lý do hiện hữu cho Giáo hội: “Anh em hãy đi khắp thế giới, hãy công bố Tin Mừng cho hết mọi tạo vật” (Mc 16, 15).

Thế nhưng thời đại chúng ta đang sống, ít ra nơi nhiều dân tộc, đúng hơn phải nói là thời đại của một thách đố dữ dội đối với công cuộc “phúc âm hóa mới”, nghĩa là đối với việc loan báo Tin Mừng ngày càng mới mẻ hơn và ngày càng cưu mang nhiều tính chất mới mẻ hơn, một công cuộc phúc âm hóa phải là “mới về mặt khí thế, về những phương pháp, về lề lối diễn đạt” (166). Hiện tượng phi Kitô hóa vốn đang tác hại đến những cộng đoàn và những dân tộc xưa kia dạt dào đức tin và tràn đầy sức sống Kitô hữu chẳng những đương nhiên dẫn đến tình trạng mất đức tin hoặc, ít nhất, tình trạng đức tin trở thành vô nghĩa trong cuộc sống, nhưng còn dẫn đến, một cách nhất thiết, tình trạng suy thoái và lu mờ của cảm thức luân lý: sở dĩ như thế là bởi vì tính chất độc đáo của nền luân lý Tin Mừng không còn được cảm nhận nữa, hay bởi vì các giá trị và cả các nguyên tắc luân lý cơ bản đều bị xóa bỏ. Những trào lưu duy chủ quan, duy lợi ích và duy tương đối, hiện nay đã phổ biến một cách rộng rãi, không còn được coi một cách đơn giản như là những lập trường thực dụng, như là những nét phong hóa, nhưng như là những quan điểm chắc nịch về phương diện lý thuyết và đòi phải được mặc cho tính chất hợp pháp trọn vẹn về mặt văn hóa và xã hội.

107. Công cuộc phúc âm hóa – và ở đây là công cuộc “phúc âm hóa mới” – vừa bao gồm sự loan báo lẫn sự đề nghị về luân lý. Chính Đức Giêsu, trong khi rao giảng về Nước Thiên Chúa và về tình yêu cứu độ, đã gióng tiếng kêu mời niềm tin và sự hoán cải (x. Mc 1, 15). Còn Thánh Phêrô, cùng với các Tông Đồ khác, khi loan báo sự phục sinh từ cõi chết của Đức Giêsu Nazaret, thì đề nghị một đời sống mới, một con đường phải theo đuổi để làm môn đệ của Đấng Phục Sinh (x. Cv 2, 37-41: 3. 17-20).

Cũng như đối với các chân lý đức tin và còn hơn thế nữa, công cuộc phúc âm hóa mới, trong khi đề nghị những nền móng và nội dung của nền luân lý Kitô giáo, luôn chứng tỏ tính chính tông của mình và đồng thời thi thố hết tất cả sức mạnh truyền giáo của mình vì chẳng những được thực hiện nhờ vào ơn công bố lời nhưng còn nhờ vào lời được áp dụng bằng cuộc sống. Một cách đặc biệt, chính nhờ cuộc sống trong sự thánh thiện vốn chói ngời nơi nhiều thành phần dân Chúa, những thành phần khiêm hạ và thường ẩn khuất dưới con mắt người đời, mà chúng ta có được phương thế đơn giản nhất và lôi cuốn nhất để nhờ đó mà có thể tức khắc cảm nhận vẻ đẹp của chân lý, cảm nhận sức mạnh giải thoát của tình yêu Thiên Chúa, cảm nhận giá trị của sự trung thành vô điều kiện đối với tất cả những đòi buộc của Luật Chúa, ngay cả trong những trường hợp gay go nhất. Chính và thế mà, với sự khôn ngoan trong lãnh vực sư phạm luân lý. Giáo Hội đã luôn mời gọi các tín hữu hãy kiếm tìm và gặp thấy nơi các thánh nam và thánh nữ, trước hết nơi Đức Trinh Nữ Mẹ Thiên Chúa, mẫu mực, sức mạnh và niềm vui để sống một cuộc đời trung thành với các giới răn của Thiên Chúa và với các Mối Phúc Thật của Tin Mừng.

Đời sống của các thánh, phản ảnh lòng Thiên Chúa nhân hậu – Đấng “duy nhất Tốt Lành” – chẳng khác nào một lời tuyên xưng đức tin thực sự và một động cơ khích lệ để đức tin được truyền đạt cho người khác, đồng thời chẳng khác nào một sự tôn vinh Thiên Chúa và tôn vinh sự thánh thiện vô biên của Ngài. Như thế nhờ đời sống thánh thiện, bộ ba chức vụ ngôn sứ, tư tế và vua làm thành một khối duy nhất được ban cho mỗi một Kitô hữu vào ngày tái sinh bởi “nước và Thánh Thần” đạt tới mức biểu hiện và ứng dụng một cách trọn vẹn (Ga 3, 5). Đời sống luân lý của Kitô hữu mang giá trị của một “phượng tự thiêng liêng” (Rm 12, 1: x. Ph 3, 3), được kín múc và nuôi dưỡng nơi nguồn mạch và tôn vinh khôn vời của Thiên Chúa, là các bí tích, đặc biệt bí tích Thánh Thể; quả vậy, khi thông phần vào hy lễ của Thập Gía, người Kitô hữu kết hợp với tình yêu hiến dâng của Đức Kitô, người Kitô hữu đủ sức và được nhập cuộc để sống cùng một tình yêu ấy qua mọi thái độ và mọi hành vi ứng xử trong đời mình. Trong đời sống luân lý, người ta còn nhận thấy việc phục vụ của Kitô hữu với tư cách là vua được thi thố: càng tuân phục Luật mới của Thánh Thần với sự trợ giúp của ân sủng, người Kitô hữu càng lớn lên trong tự do mà mình vốn đã được mời gọi tiến vào khi phục vụ luân lý, bác ái và công bằng.

108. Nơi nguồn cội của công cuộc phúc âm hóa mới và của đời sống luân lý mới mà công cuộc phúc âm hóa đề nghị và khơi dậy với những hoa trái của sinh hoạt truyền giáo và của sự thánh thiên, có Thần Khí của Đức Kitô, nguyên lý và sức mạnh cho sự sai nở của Mẹ Thánh Giáo Hội như Đức Phaolô VI gợi nhắc cho chúng ta:”Công cuộc phúc âm hóa sẽ không bao giờ là khả thi nếu không có hoạt động của Chúa Thánh Thần” (167). Như thế, chính do bởi Thần Khí của Thiên Chúa, được đón nhận trong con tim khiêm hạ và ngoan ngùy của người tín hữu, mà chúng ta có được sự triển nở của đời sống luân lý và có được chứng từ cho sự thánh thiện trong những ơn gọi rất dị biệt, những tài năng, những trách nhiệm và những điều kiện sinh sống hoặc tình huống: như Novatian đã từng giúp nhận xét đồng thời biểu lộ qua đó đức tin chính tông của Giáo Hội, đó chính là Chúa Thánh Thần. “Đấng đã củng cố tâm hồn và trí óc của các môn đệ, đã vén mở cho họ những mầu nhiệm Tin Mừng, đã làm rực sáng lên nơi họ ánh sáng của những sự việc thần thiêng, được tăng cường sức mạnh như thế, họ đã vì danh Chúa mà không sợ tù ngục và xiềng xích: ngược lại, họ còn khinh chê cả những quyền lực và những kiểu tra tấn ở đời này, vì từ nay đã được trang bị và được bổ sức nhờ Ngài: họ có được nơi chính mình những ơn mà cùng một Thần Khí ấy phân phối và trao gởi cho Giáo Hội, Hiền Thê của Đức Kitô, tựa như những hạt ngọc. Qủa vậy, chính Ngài là Đấng, trong Giáo Hội, cắt đặt các ngôn sức, dạy dỗ các tiến sĩ, hướng dẫn lời, làm những dấu lạ và chữa bệnh, thực hiện những điều kỳ diệu, ban cho ơn phân định các thần linh, qui gán những trọng trách cai quản gợi hứng cho những quyết định, đặt vào đúng chỗ và điều hành tất cả mọi đặc sủng khác, và bằng cách ấy mang lại cho Giáo Hội của Chúa mức trọn hảo và thành toàn khắp mọi nơi và về mọi phương diện” (168).

Giờ đây, tùy thuộc vào hoạt động của Chúa Thánh Thần và trong khuôn khổ của công cuộc phúc âm hóa mời vốn nhắm mục tiêu làm trổ sinh và dưỡng nuôi “đức tin tác động nhờ đức ái” (Gl 5, 6), chúng ta có thể hiểu được, trong Giáo Hội, cộng đoàn các tín hữu, đâu là vị thế xứng hợp dành cho công cuộc tư duy về đời sống luân lý mà thần học cần phải hướng dẫn, cũng như chúng ta có thể giới thiệu về sứ mệnh và trách nhiệm đặc thù của các nhà thần học luân lý.

Dịch vụ của các nhà thần học luân lý

109. Toàn thể Giáo Hội đều được mời gọi bắt tay vào công cuộc phúc âm hóa và vào việc làm chứng cho một đời sống đức tin, bởi lẽ Giáo hội thông chia chức vụ ngôn sứ (munus propheticum) của Chúa Giêsu nhờ ơn của Thần Khí Người. Nhờ vào sự hiện diện liên lỉ của Thánh Thần chân lý trong Giáo hội (x. Ga 14, 16-17), “tập hợp các tín hữu, vốn đã lãnh nhận việc xức dầu từ nơi Đấng Thánh (x. 1Ga 2, 20-27), không thể nào sai lầm trong đức tin: ơn riêng mà họ sở hữu này, họ biểu lộ bằng phương thế cảm thức siêu nhiên về đức tin là cảm thức của dân Chúa trong toàn thể, mỗi khi. “từ các giám mục cho chí các tín hữu giáo dân rốt cùng”, họ dành cho các châ lý liên quan đến đức tin và phong hóa một sự đồng tình phổ quát” (169).

Để chu toàn sứ mệnh ngôn sứ, Giáo Hội phải không ngừng kích thích và “khơi thắm lại” đời sống đức tin của mình (x. 2Tm 1, 6), đặc biệt bằng một công cuộc tư duy ngày càng thâm sâu hơn, dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, về nội dung của chính đức tin. Một cách đặc loại, “ơn gọi” của thần học gia trong Giáo Hội là nhằm phục vụ việc “người tín hữu truy tìm sự hiểu biết cho đức tin”: “Trong số những ơn gọi được Thần Khí khơi dậy như thế trong Giáo Hội – đây là điều chúng ta đọc thấy trong Huấn Thị Donum veritatis – ơn gọi của thần học gia có phần nổi bật và thần học gia, một cách đặc biệt, có nhiệm vụ cùng hiệp thông với Huấn Quyền để đạt tới một sự hiểu biết ngày càng sâu rộng hơn về Lời Chúa chứa đựng trong Kinh Thánh đã được linh ứng và đã được Truyền Thống sống động của Giáo Hội lưu truyền. Do tự bản chất của nó, đức tin hướng đến sự hiểu biết, bởi vì đức tin mở cửa của cho con người bước vào chân lý liên quan đến vận mệnh của mình và bước vào con đường để đạt tới vận mệnh ấy. Cho dẫu luân lý mạc khải vượt lên trên lời lẽ của chúng ta, và cho dầu mọi khái niệm của chúng ta đều bất toàn trước sự cao cả của chân lý với tầm vóc viên mãn muôn trùng (x. Ep 3, 19), chân lý vẫn mời gọi lý trí chúng ta – lý trí chúng ta là ơn Thiên Chúa ban để nhận thức luân lý – tiến bước vào trong ánh sáng của nó và nhờ đó trở nên đủ sức hiểu được trong một mức độ nào đó điều mà mình tin. Với công việc truy tìm sự hiểu biết cho đức tin để đáp lại tiếng của Chân lý hằng cất lên gọi mời, khoa học thần học giúp cho dân Chúa, dựa theo giới răn tông truyền (x. 1Pr 3, 15), bày tỏ niềm trông cậy của mình cho những ai yêu cầu” (170).

Để xác định căn tính và, do đó, để khởi động sứ mệnh đặc thù của thần học, điều cốt yếu là phải nhìn nhận mối dây liên kết mật thiết và sống động giữa thần học với Giáo Hội, với mầu nhiệm của Giáo Hội, với đời sống và sứ vụ của Giáo Hội: “Thần học là một khoa học mang chiều kích Giáo Hội, bởi vì thần học tăng trưởng trong Giáo Hội và tác động trên Giáo Hội… Thần học nhằm phục vụ Giáo Hội và như thế thần học phải tự cảm thấy mình được lồng vào trong sứ vụ của Giáo Hội một cách năng động, đặc biệt trong sứ vụ ngôn sứ” (171). Với bản chất và với guồng năng động như trên, thần học chính tông chỉ có thể triển nở và phát huy nhờ vào sự thông phần với và “thuộc về” Giáo Hội xét như là “cộng đoàn đức tin” với một thái độ thâm tín và có trách nhiệm, cũng như chính Giáo Hội và đời sống Giáo Hội trong đức tin được hưởng nhờ những thành quả của công trình nghiên cứu và đào sâu thần học.

110. Điều đã được phát biểu về thần học nói chung thì cũng có thể và phải được lặp lại đối với thần học luân lý, được xét đến trong tính chất chuyên biệt của nó là tư duy một cách khoa học về Tin Mừng xét như là hồng ân và là mệnh lệnh sống đời sống mới, về đời sống “dựa theo chân lý và trong đức ái” (Ep 4, 15), về đời sống nên thánh của Giáo Hội, trong đó chói ngời chân lý về điều thiện được đẩy mạnh tới mức trọn hảo. Trong lãnh vực đức tin, và một cách không thể tách rời, cả trong lãnh vực luân lý. Huấn Quyền của Giáo Hội can thiệp vào với trách vụ “nhờ những phán đoán mang tính chuẩn mực hầu giúp cho lương tâm các tín hữu, phân định xem đâu là những hành vi tự chính phù hợp với những đòi buộc của đức tin và đâu là những hành vi thăng tiến sự biểu hiện đức tin trong cuộc sống và đâu là những hành vi ngược lại, do bởi mãnh lực xấu nội tại, không thể dung hợp với những đòi buộc ấy” (172). Trong khi rao giảng những giới răn của Thiên Chúa và đức ái của Chúa Kitô. Huấn Quyền của Giáo Hội cũng dạy dỗ cho các tín hữu những mệnh lệnh đặc thù và chuyên biệt, và Huấn Quyền của Giáo Hội yêu cầu các tín hữu phải lấy lương tâm mà coi các giới răn và mệnh lệnh ấy là bó buộc về mặt luân lý. Ngoài ra Huấn Quyền nắm giữ một vai trò quan trọng về mặt cảnh giác, để rồi kêu gọi các tín hữu phải canh chừng trước sự hiện diện của nhiều sai lầm có nguy cơ xẩy đến ngay cả khi đó chỉ là những sai lầm mặc nhiên, khi mà lương tâm của các tín hữu không đủ tấm mức để nhận ra sự chuẩn xác và chân lý của các qui tắc luân lý mà Huấn Quyền giảng dạy.

Chính trong địa hạt này mà có can dự vai trò chuyên biệt của những người giảng dạy thần học luân lý trong các chủng viện và trong các phân khoa thần học do sự ủy thác của các mục tử hợp pháp. Họ có bổn phận nghiêm trọng là phải giáo huấn các tín hữu – đặc biệt các mục tử tương lai – về tất cả những giới răn và tất cả các chuẩn mực thực hành mà Giáo Hội dùng quyền để xướng (173). Mặc cho những giới hạn có thể có trong những chứng minh mang chiều kích nhân linh mà Huấn Quyền trình bày, các nhà thần học luân lý vẫn được mời gọi đào sâu những hành động lực đã dẫn đến các lời giáo huấn của Huấn Quyền, nêu bật những nền móng của các mệnh lệnh Huấn Quyền đưa ra và nêu bật tính chất bó buộc của các mệnh lệnh ấy bằng cách dẫn giải về những mối dây liên kết các mệnh lệnh ấy lại với nhau và về mối tương quan giữa các mệnh lệnh ấy với cùng đích tối hậu của con người (174). Bổn phận của các nhà thần học luân lý là phải trình bày học thuyết của Giáo Hội và trong khi thi hành thừa tác vụ, phải nêu gương về một thái độ qui phục chân thành, bên trong và bên ngoài, đối với giáo huấn của Huấn Quyền trong lãnh vực tin lý và trong lãnh vực luân lý (175). Vận dụng toàn bộ năng lực của mình để cộng tác với Huấn Quyền phẩm trật, các nhà thần học phải quyết tâm ngày càng làm sáng tỏ hơn những nền tảng Thánh Kinh, những ý nghĩa luân lý và những động cơ về mặt nhân học, là những yếu tố chống đỡ học thuyết luân lý và nhân sinh quan mà Giáo Hội đề nghị.

111. Những dịch vụ mà các nhà thần học luân lý được mời gọi cung ứng vào thời buổi hiện nay mang tầm quan trọng hàng đầu, chẳng những đối với đời sống và sứ vụ của Giáo Hội, mà còn đối với xã hội và đối với nền văn hóa nhân linh. Trong một mối liên kết chặt chẽ và sống còn với thần học Thánh Kinh và thần học tin lý, các nhà thần học luân lý có trách nhiệm dùng tư duy khoa học của mình để nêu rõ “khía cạnh năng động là khía cạnh của lời đáp trả mà con người phải thực thi trước lời mời gọi của Thiên Chúa bằng cách tấn tới trong tình yêu giữa lòng cộng đoàn cứu độ. Nhờ đó thần học luân lý sẽ đạt được chiều kích thiêng liêng nội tại hợp với đòi hỏi của sự phát huy trọn vẹn hình ảnh Thiên Chúa (imago Del) vốn cư trú trong con người và sẽ đạt được tiến bộ thiêng liêng mà ngàng khổ chế và ngành thần bí Kitô giáo mô tả” (176).

Ngày nay, chắc hẳn thần học luân lý và giáo huấn của thần học luân lý đang phải đối đầu với nhiều khó khăn đặc biệt. Bởi lẽ luân lý của Giáo Hội nhất thiết bao gồm một chiều kích chuẩn mực, người ta không thể nào giản lược thần học luân lý thành một thứ kiến thức được dồi mài trong một khuôn khổ duy nhất gọi là các khoa học nhân văn. Trong khi các khoa học nhân văn đề cập tới hiện tượng đời sống luân lý như là một dữ kiện lịch sử và xã hội, thần học luân lý tuy vẫn phải sử dụng những khoa học về con người và về thiên nhiên vẫn không vì thế mà phải lụy phục các hệ quả của công việc quan sát duy nghiệm và duy hình thức hoặc của công việc chú giải theo hiện tượng luận. Thật ra, sự thích ứng của các khoa học nhân văn trong thần học luân lý phải luôn được thẩm định tùy theo vấn nạn chủ chốt này: điều thiện hoặc điều dữ là gì? Phải làm gì để đạt được sự sống vĩnh cửu?

112. Bởi thế nhà thần học luân lý phải thực hiện một cuộc phân định chăm chú trong khuôn khổ của nền văn hóa hiện đại vốn cốt yếu mang chiều kích khoa học và kỹ thuật, một nền văn hóa rất dễ rơi vào những nguy cơ của chủ nghĩa tương đối, chủ nghĩa thực dụng và chủ nghĩa duy nhiệm. Về phương diện thần học, các nguyên tắc luân lý không lệ thuộc vào thời khắc lịch sử mà chúng được khám phá. Lại nữa, nếu như có một số tín hữu hành động mà không tuân theo giáo huấn của Huấn Quyền hoặc nếu như một lối xử sự đã được các vị mục tử của họ tuyên bố là ngược với Luật Thiên Chúa mà họ lại lầm lạc mà cho là chính đáng xét theo luân lý, sự kiện ấy vẫn không thể nào là một lý chứng có giá trị để bác bỏ chân lý của các chuẩn mực luân lý mà Giáo Hội dạy. Sự khẳng định những nguyên tắc luân lý không phát sinh từ những phương pháp duy nghiệm và duy hình thức. Không bài xích hiệu năng của các phương pháp ấy, nhưng cũng không giới hạn tầm nhìn của mình ở những phương pháp ấy, thần học luân lý, luôn trung hành với cảm thức siêu nhiên của đức tin, sẽ đề cao trước hết chiều kích thiêng liêng của trái tim nhân linh ơn gọi của trái tim ấy trước tình yêu thần thiêng.

Quả vậy, trong khi các khoa học nhân văn, cũng như tất cả mọi khoa học thực nghiệm, khai triển một quan niệm duy nghiệm và cố định về “mực độ thông thường” (normalité), đức tin dạy rằng mực độ thông thường ấy lại mang lấy nơi chính mình những vết tích do cuộc sa ngã của con người so với tình trạng nguyên thủy của nó, nghĩa là mực độ thông thường đã bị tội đả thương. Chỉ có đức tin Kitô giáo mới chỉ dẫn cho con người lối nẻo để quay về với “nguyên thủy” (x. Mt 19, 8), một lối nẻo thường rất khác với lối nẻo của mực độ thông thường duy nghiệm. Hiểu như thế, mặc dầu những nhận thức mà các khoa học nhân văn mang lại có giá trị rất cao, các nhà khoa học nhân văn vẫn không thể nào được coi là đóng vai chỉ dẫn rõ rệt cho các chuẩn mực luân lý. Chính Tin Mừng vén mở chân lý toàn vẹn về con người và về lộ trình luân lý của con người, và chính Tin Mừng nhờ đó soi sáng và cảnh tỉnh các tội nhân bằng cách loan báo cho các tội nhân lượng từ ái của Thiên Chúa. Đấng không ngừng hoạt động để gìn giữ họ khỏi nỗi thất vọng vì không thể hiểu biết và tuân giữ Luật Thiên Chúa và cũng để gìn giữ họ khỏi cao vọng cho rằng mình có thể tự cứu thoát mà không cần công nghiệp. Tin Mừng cũng đồng thời nhắc nhở cho các tội nhân về niềm vui được ơn tha thứ vì chỉ có ơn tha thứ mới mang lại sức mạnh để nhận ra ở nơi lề luật luân lý một chân lý có sức giải thoát một ân phúc cưu mang hy vọng, một đường nẻo dẫn đến sự sống.

113. Khi được đem ra giảng dạy, học thuyết luân lý giả thiết rằng các trách nhiệm trí thức, thiêng liêng và mục vụ đều đang được đảm nhận một cách có ý thức. Chính vì thế khi chấp nhận trọng trách giảng dạy học thuyết của Giáo Hội các nhà thần học luân lý có bổn phận nghiêm trọng phải huấn luyện cho các tín hữu biết phân định luân lý, biết dấn thân cho sự thiện đích thực và biết chạy đến ân sủng của Thiên Chúa với lòng tín thác.

Nếu như những đồng qui và những xung khắc về quan niệm có thể là những biểu hiện bình thường của đời sống công cộng trong khuôn khổ của một nền dân chủ gồm những đại biểu, học thuyết luân lý chắc chắn không thể nào chỉ tùy thuộc vào một tiến trình dàn xếp: thật ra, học thuyết luân lý không hề được thiết lập bằng cách áp dụng những qui luật và những thể thức của một cuộc trưng cầu ý dân theo kiểu dân chủ. Nếu được dệt nên do những bài xích có suy tính và do những cuộc bút chiến, nếu được bày tỏ bằng cách sử dụng những phương tiện truyền thông xã hội, thái độ bất đồng sẽ đi ngược lại với mối dây hiệp thông Giáo Hội và sẽ chứng tỏ rẳng không có sự hiểu biết ngay chính về hiến chế phẩm trật của Dân Chúa. Không thể nào công nhận nơi sự đối kháng chống lại giáo huấn của các mục tử một hình thức biểu lộ chính đáng của tự do Kitô hữu hoặc của tính chất dị biệt nơi các ơn của Thần Khí. Trong trường hợp này, các mục tử có bổn phận hành động sao cho phù hợp với sứ mệnh tông đồ của mình, phải đòi hỏi cho luôn có được sự tôn trọng đối với quyền của các tín hữu, là quyền được lãnh nhận học thuyết công giáo một cách tinh tuyền và toàn vẹn: “Không bao giờ quên rằng mình cũng là thành phần của Dân Chúa, thần học gia phải tôn trọng dân Chúa và phải để tâm cống hiến cho dân Chúa một nền giáo huấn không làm tổn hại chút nào đến học thuyết đức tin” (177).

Trách nhiệm mục tử của chúng ta

114. Chính các mục tử, với một tước hiệu riêng biệt, được giao phó trách nhiệm đối với đức tin của Dân Chúa và đối với đời sống Kitô hữu của Dân Chúa, theo như Công Đồng Vatican II nhắc nhở: “Trong số những trách vụ chính yếu của các giám mục,. trách vụ rao giảng Tin Mừng nằm ở hàng đầu. Các giám mục thật ra là những phát ngôn viên của đức tin vốn làm công việc dẫn đến với Chúa Kitô những môn đồ mới; các ngài là những tiến sĩ chính tông, nghĩa là được trao tặng quyền uy của Chúa Kitô, và các ngài rao giảng cho đoàn dân được ký thác cho mình về đức tin vốn chỉnh đốn tư tưởng và hạnh kiểm của chính các ngài, các ngài làm cho đức tin ấy tỏa chiếu dưới ánh sáng của Chúa Thánh Thần, các ngài rút tỉa cái mới và cái cũ ra từ kho tàng Mạc Khải (x. Mt 13, 52), làm cho đức tin trổ sinh hoa trái, chú tâm gạt bỏ những sai lầm đang đe dọa đoàn chiên của các ngài (x. 2Tm 4, 1-4)” (178).

Bổn phận chung của chúng ta và hơn nữa, ân sủng chung của chúng ta, đó là giảng dạy cho tín hữu, với tư cách là mục tử và giám mục trong Giáo Hội, về những gì đưa dẫn họ tiến đến Thiên Chúa, như ngày nào Chúa Giêsu đã thực hành với người thanh niên trong Tin Mừng. Để đáp lại câu hỏi của người thanh niên: “Tôi phải làm điều tốt nào để đạt được sự sống vĩnh cửu?”. Đức Giêsu đã đưa người thanh niên quay về với Thiên Chúa, Đấng là Chủ Tế của công trình tạo dựng và của Giao Ước; Đức Giêsu đã nhắc lại cho người thanh niên những giới răn luân lý đã có sẵn trong Cựu Ước: Người đã nêu lên tinh thần và tính chất triệt để của các giới răn bằng cách mới người thanh thiên cất bước theo người trong sự nghèo khó, khiêm nhượng và yêu thương: “Hãy đến và hãy nối gót theo Ta!”. Chân lý của học thuyết này đã được đóng ấn trong máu của Đức Kitô trên Thập Gía: chân lý ấy, trong Chúa Thánh Thần, đã trở thành Luật mới của Giáo Hội và của mỗi một Kitô hữu.

Lời “giải đáp” như trên trước vấn nạn luân lý, Đức Giêsu Kitô giao phó cách riêng cho chúng ta là những mục tử trong Giáo Hội, là những kẻ được kêu mời lấy lời giải đáp ấy làm chất liệu giảng dạy, trong khi chúng ta thực thi chức vụ ngôn sứ (munus propheticum). Cùng một lúc, về những gì liên quan tới luân lý Kitô giáo, trách nhiệm mục tử của chúng ta cũng phải được thực thi thố dưới hình thức của chức vụ tư tế (munus sacerdotale): đó chính là điều được thể hiện khi chúng ta phân phát cho các tín hữu những ơn thánh sủng và thánh hóa đẻ nhờ đó các tín hữu có thể tuân phục Lề Luật thánh thiện của Thiên Chúa, và khi chúng ta nâng đỡ các tín hữu bằng việc cầu nguyện liên lỉ và tín thác của chúng ta ngõ hầu các tín hữu biết trung thành với những đòi buộc của đức tin và biết sống theo Tin Mừng (x. Cl 1, 9-12). Học thuyết luân lý Kitô giáo, nhất là ngày nay, phải là một trong những lãnh vực được biệt đãi bằng thái độ cảnh giác mục vụ của chúng ta, trong khi chúng ta thi hành chức vụ vương giả (munus regale).

115. Kỳ thực, đây là lần đầu tiên mà Huấn Quyền Giáo Hội đưa ra một bản văn diễn giải khá sâu rộng về các yếu tố cơ bản của học thuyết luân lý, và cũng là lần đầu tiên mà Huấn Quyền trình bày những lý lẽ của công việc phân định mục vụ là công việc phải nói rất cần thiết trong những tình huống thực tiễn và những điều kiện văn hóa phức tạp và lắm gay cấn như hiện nay.

Dưới ánh sáng Mạc Khải và giáo huấn thường hằng của Giáo Hội, đặc biệt dưới ánh sáng Công Đồng Vatican II. Tôi đã nhắc nhở một cách tóm lược những đường nét cốt yếu của tự do, những giá trị cơ bản hắn liền với phẩm giá con người và với chân lý của các hành vi con người, sao cho nhờ đó người ta có thể nhận ra rằng tuân phục lề luật luân lý thì chính là ân phúc và là dấu chỉ cho việc chúng ta được nhận làm dưỡng tử trong Con duy nhất (x. Ep 1, 4-6). Cách riêng, bức thông điệp này cung cấp những thẩm định về những gì liên quan tới một số khuynh hướng đương đại của thần học luân lý. Giờ đây. Tôi xin chia sẻ những thẩm định này cho chư huynh, với tinh thần tuân phục lời Chúa đã nói khi giao phó cho Phêrô trách nhiệm củng cố các anh em (x. Lc 22, 32) nhằm mục đích soi sáng và tạo điều kiện dễ dàng cho cuộc phân định chung của chúng ta.

Ai trong chúng ta cũng ý thức tầm quan trọng của học thuyết đang làm thành cốt lõi cho vưc thông điệp này và hiện đang được nhắc lại hôm nay với quyền của Vị Kế Nhiệm thánh Phêrô. Ai trong chúng ta cũng có thể lường được mức độ nghiêm trọng của vấn đề đang được đặt ra, không những chỉ riêng cho các cá nhân mà còn cho toàn thể xã hội, cùng với việc tái khẳng định về tính phổ quát tính bất biến của các giới răn luân lý, và một cách đặc biệt về những giới răn nghiêm cấm những hành vi tự chúng là xấu trong mọi trường hợp và không hề miễn trừ.

Khi nhìn nhận các giới răn này, con tim Kitô hữu và đức ái phục vụ của chúng ta như nghe ra lời kêu mời của Đấng “đã yêu chúng ta trước” (1 Ga 4, 19). Thiên Chúa yêu cầu chúng ta phải nên thánh như chính Ngài là thánh (x. Lc 19, 2), phải nên hoàn hảo, trong Đức Kitô, như chính Ngài là hoàn hảo (x. Mt 5, 48): tính chất khe khắt của giới răn vốn đặt nền tảng trên tình yêu từ ái và khôn vơi của Thiên Chúa (x. Lc 6, 36) và mục đích của giới răn là dẫn dắt chúng ta, cùng với ân sủng của Đức Kitô, trên con đường tiến đến sự sống viên mãn vốn dành riêng cho những người làm con Thiên Chúa.

116. Với tư cách là giám mục, chúng ta có bổn phận phải canh chừng để cho Lời Chúa được giảng dạy một cách trung thành. Chư Huynh trong Hàng Giám Mục thân mến, một trong những trách nhiệm thuộc về thừa tác vụ mục tử của chúng ta, đó là phải chăm lo sao cho giáo huấn luân lý này được truyền đạt một cách trung thành và phải đưa ra những biện pháp thích hợp để gìn giữ các tín hữu khỏi mọi chủ nghĩa và mọi lý thuyết đối nghịch với giáo huấn này. Trong trọng trách này tất cả chúng ta đều có được sự giúp đỡ của các thần học gia. Tuy nhiêm những quan điểm thần học không phải là qui tắc cũng không phải là chuẩn mực cho công việc giáo huấn của chúng ta, trong khi quyền bính của chúng ta, với sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần và trong sự hiệp thông với thánh Phêrô và dưới thánh Phêrô (cum Petro et sub Petro), vốn bắt nguồn từ lòng trung tín của chúng ta đối với đức tin công giáo lãnh nhận từ nơi các Tông Đồ. Là giám mục, bổn phận nghiêm trọng của chúng ta là phải đích thân chăm lo sao cho “đạo lý lành mạnh” (1 Tin 1, 10) về đức tin và về luân lý được giảng dạy trong các giáo phận của chúng ta.

Đối với các định chế công giáo, các giám mục được qui gán một trách nhiệm riêng biệt. Đó có thể là những tổ chức nhắm tới mục vụ gia đình, hoặc mục vụ xã hội, hay đó có thể là những định chế dấn thân vào việc giảng dạy hay vào hoạt động bảo vệ sức khỏe, trong mọi trường hợp, các giám mục có thể thành lập hoặc công nhận những cơ cấu ấy và ủy thác trách nhiệm cho các cơ cấu ấy: dầu vậy, các ngài vẫn không bao giờ được miễn trừ khỏi những bó buộc thuộc về riêng mình. Bổn phận của các ngài, trong mối hiệp thông với Tòa Thánh, là phải công nhận hoặc rút lại, trong những trường hợp, thiếu nhất quán trầm trọng, tước hiệu “công giáo” của các học đường (179), các viện đại học (180), các bệnh viện hoặc các dịch vụ y tế xã hội tự xưng mình là của Giáo Hội.

117. Trong con tim Kitô hữu, tận nơi thâm sâu nhất của mỗi một con người, luôn luôn vang vọng lên vấn nạn mà một ngày kia người thanh niên trong Tin Mừng đã ngỏ với Đức Giêsu: “Thưa Thầy, tôi phải làm điều tốt nào để đạt được sự sống vĩnh cửu? “ (Mt 19, 16). Thế nhưng vấn nạn ấy cần phải đem ngỏ với thầy “tốt lành”, bởi vì chỉ có Người mới có thể giải đáp trong sự viên mãn của chân lý, vào mọi trường hợp, trong những tình huống dị biệt nhất. Và một khi các Kitô hữu đem vấn nạn phát xuất từ cõi lương tâm ấy ra ngỏ với Chúa. Người đáp lại bằng những lời của Giao Ước Mới đã được ký thác cho Giáo Hội. Và rồi, như lời thánh Tông Đồ Phaolô đã nói về chính ngài, chúng ta được sai đi “loan báo Tin Mừng, không phải với sự khôn ngoan nơi miệng lưỡi và ngôn từ, sao cho Thập Gía của Đức Kitô không bị giản lược thành hư vô” (1Cr 1, 17). Chính vì lý do ấy mà lời giải đáp của Gíao hội trước vấn nạn của con người có được sự khôn ngoan và quyền năng của Đức Kitô chịu đóng đinh, Đấng là Chân Lý tự trao hiến.

Khi người đời bày tỏ với Giáo hội những vấn nạn của lương tâm họ, khi trong nội bộ Giáo Hội các tín hữu ngỏ lời với các giám mục và các mục tử của mình, đúng là tiếng nói của Đức Giêsu Kitô, tiếng nói của chân lý về điều thiện và điều dữ mà người ta nghe được trong lời giải đáp của Giáo Hội. Trong lời lẽ mà Giáo Hội tuyên xướng, ta nghe vang vọng, đến tận cõi thâm sâu của hữu thể, tiếng nói của Thiên Chúa. Đấng “duy nhất Tốt Lành” (Mt 19, 17), Đấng duy nhất “là Tình Yêu” (1Ga 4, 8-16).

Nhờ được Thánh Thần xức dầu, lời lẽ dịu ngọt và đòi buộc ấy trở thành ánh sáng và sức sống cho con người. Cũng thánh Phaolô mời chúng ta mở lòng tín thác, bởi vì “năng lực của chúng ta từ Thiên Chúa mà đến: chính Ngài đã làm cho chúng ta nên đủ khả năng làm thừa tác viên của Giao Ước Mới, một Giao Ước không phải tùy thuộc vào mặt chữ của Lề Luật nhưng tùy thuộc vào Thần Khí… Đức Chúa là Thần Khí và nơi nào Thần Khí Đức Chúa hiện diện thì nơi ấy có tự do. Và tất cả chúng ta với khuôn mặt để trấn, chúng ta phản chiếu như thế trong gương vinh quang của Chúa, chúng ta được biến đổi thành chính hình ảnh phản chiếu ấy, mỗi ngàu một thêm vinh quang, nhờ hoạt động của Đức Chúa là Thần Khí” (2Cr 3, 5-6.17-18).

KẾT LUẬN

Đức Maria, Mẹ Từ Ái

118. Vào chặng cuối của những suy niệm này, chúng ta hãy phó thác cho Đức Maria. Mẹ Thiên Chúa và Mẹ Từ Ái, bản thân chúng ta, những thử thách và những niềm vui của cuộc đời chúng ta, đời sống luân lý của các tín hữu và của những người thành tâm thiện chí cũng như những công trình nghiên cứu của các nhà luân lý.

Đức Maria là Mẹ Từ Ái bởi vì Đức Giêsu Kitô. Con Mẹ được Chúa Cha sai đến để trở thành mạc khải về Lượng Từ Ái của Thiên Chúa (x. Ga 3, 16-18). Người đã đến không phải để kết án nhưng để tha thứ, để đem lượng từ ái ra phân phát (x Mt 9, 13). Lượng Từ Ái lớn lao nhất đối với Người, đó là ở giữa chúng ta và cất tiếng mời gọi chúng ta đến với Người và, cùng hiệp nhất với thánh Phêrô, nhận ra Người là “Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16, 16). Không có tội nào do con người phạm mà lại triệt tiêu được Lượng Từ Ái của Thiên Chúa, mà lại có thể cản ngăn không để cho Lượng Từ Ái của Thiên Chúa thì thổ toàn bộ quyền năng hiển thắng của Ngài ngay tức khắc một khi chúng ta kêu cầu. Ngược lại, chính lỗi phạm còn làm rực chiếu hơn nữa tình yêu của Chúa Cha, Đấng đã hiến tế Con Ngài để cứu chuộc nô lệ (181): lượng từ ái của Ngài đối với chúng ta, đố là công trình Cứu Chuộc. Lượng từ ái đấy đạt tới tầm vóc viên mãn nhờ ơn của Thần Khí, Đấng tác sinh sự sống mới và kêu mời sống đời sống mới. Cho dầu những trở ngại do sự yếu đuối và do tội lỗi con người gieo rắc có nhiều đến mấy và có lớn lao đến đâu đi nữa. Chúa Thánh Thấn, Đấng canh tân bộ mặt trái đât (x. Tv 104/103, 30), vẫn làm cho phép lạ có thể thành hiện thực, đó là sự thiện được chu toàn một cách trọn hảo. Vốn mang lại khả năng làm điều tốt, điều cao thượng,điều diễm lệ, điều đẹp lòng Thiên Chúa về phù hợp với thánh ý Ngài, một cuộc canh tân như thế có thể được coi như là tình trạng triển nở của phúc lộc tứ ái, nhờ đó mà ách nô lệ đã được giải thoát và sức mạnh được tặng ban để không còn phạm tội nữa. Nhờ hồng ân sống đời sống mới, Đức Giêsu làm cho chúng ta được thông chia tình yêu của Người và dẫn chúng ta đến Chúa Cha trong Chúa Thánh Thần.

119. Đó chính là xác quyết đầy khích lệ của đức tin Kitô giáo, mang lại cho đức tin Kitô giáo một chiều kích nhân linh sâu xa và một tính chất đơn giản phi thường. Một đôi khi, trong những cuộc tranh luận về các vấn đề mới mẻ và phức tạp trong địa hạt luân lý, có thể luân lý Kitô giáo xem ra quá khó, quá gay go để có thể hiểu và hầu như không thể nào đem ra áp dụng được. Nghĩ như vậy là sai, bởi vì, nếu đem ra diễn tả một cách đơn sơ bằng ngôn ngữ Tin Mừng, luân lý Kitô giáo hệ tại chỗ nối gót theo Đức Kitô, phó thác chính mình cho Người, để cho mình được biến đổi và được canh tân nhờ vào ân sủng của Người và nhờ vào lượng từ ái của Người, ân sủng và lượng từ ái vốn đạt thấu chúng ta trong đời sống thông hiệp với Giáo Hội Người. Thánh Augustinô gợi nhắc cho chúng ta rằng: “Người nào muốn sống thì cũng biết sống ở đâu và đặt nền móng cho cuộc sống nơi nào. Người ấu hãy cứ tiến lại gần, cứ tin tưởng, cứ để cho mình được nhập hầu được tăng cường sức sống! Mong sao người ấy không e ngại phải cùng sát cánh với các anh em mình!” (182). Với ánh sáng của Chúa Thánh Thần, tất cả mọi người, ngay cả người kém thông thái nhất, và nhất là người biết giữ cho mình một “tấm lòng đơn thành” (Tv 86/85), đều có thể nắm bắt được chất thể tràn đầy sức sống của luân lý Kitô giáo. Đàng khác, sự đơn thánh Tin Mừng ấy không miễn trừ cho khỏi phải đương đầu với sự phức tạp của hiện thực, tuy nhiên có thể đưa dẫn tới chỗ hiểu được hiện thực với nhiều chân lý hơn, bởi vì cứ tiến bước theo Đức Kitô thì dần dà những đường nét của luân lý Kitô giáo chính tông sẽ được đưa ra ánh sáng và đồng thời chìa khóa sống còn để thực hành luân lý ấy sẽ được ban tặng. Bổn phận của Huấn Quyền Giáo Hội là phải chăm lo sao cho đà năng động nơi việc đáp trả lại lời mời của Đức Kitô được phát triển một cách hữu cơ mà các đòi buộc chân lý, cùng với mọi hệ quả của chúng, không hề bị bóp méo hoặc bị che dấu. Ai yêu mến Đức Kitô thì tuân giữ các giới răn của Người (x. Ga 14, 15).

120. Đức Maria cũng đồng thời là Mẹ Từ Ái bởi vì Đức Giêsu đã giao phó Giáo Hội của Người và toàn thể nhân loại cho chính Đức Maria. Dưới chân Thập Gía, khi đón nhận Gioan làm con mình, khi cùng với Đức Kitô cầu xin Chúa Cha tha thứ cho những người không hiểu biết việc họ làm (x. Lc 23, 34), Đức Maria, hoàn toàn ngoan ngùy đối với Thần Khí, đã làm một cuộc thí nghiệm về nguồn phong phú và về tầm mức phổ quát của tình yêu Thiên Chúa, một tình yêu đã làm giãn nở con tim của Mẹ và làm cho Mẹ nên đủ sức ôm lấy toàn thể nhân loại. Bởi thế, Đức Maria trở thành Mẹ của tất cả mọi người, và của từng người trong chúng ta, một người Mẹ đoạt lấy Lượng Từ Ái của Thiên Chúa cho chúng ta.

Đức Maria là một dấu chỉ sáng ngời và là một gương mẫu cuốn hút cho đời sống luân lý: “ Nguyên chỉ đời sống của Mẹ thôi đã là một giáo huấn dành cho mọi người”, thánh Ambrôsiô đã viết như thế (183) và, khi ngỏ lời cách riêng với các trinh nữ, trong một nhãn quan mở rộng cho hết mọi người, thánh nhân tuyên bố: “Niềm khao khát học hỏi nồng nhiệt ban đầu, đó là do sự cao thượng của người thầy mang lại cho bạn... Hỏi còn có ai cao thượng hơn Mẹ Thiên Chúa? Nào có ai rạng rỡ hơn người nữ đã được chính Ánh Rạng Ngời tuyển chọn?” (184). Đức Maria cưu mang trong cung lòng trinh nữ của mình Con Thiên Chúa làm người cho đến khi Người hạ sinh, nuôi nấng Người, làm cho Người lớn lên và cùng sát cánh với Người trong hành vi tự do tột cùng là hoàn toàn hy sinh mạng sống. Nhờ hiến dâng chính mình. Đức Maria gia nhập trọn vẹn vào trong kế hoạch của Thiên Chúa là Đấng tự hiến cho nhân loại. Khi đón nhận và suy niệm trong lòng những biến cố mà không phải lúc nào mình cũng hiểu (x. Lc 2, 19), Đức Maria trở thành mẫu mực cho tất cả những ai lắng nghe và tuân giữ Lời Chúa (x. Lc 11, 28), xứng đáng mang tước hiệu là “Ngai Tòa Khôn Ngoan”. Khôn Ngoan ở đây là chính Đức Kitô, Ngôi Lời vĩnh cửu của Thiên Chúa, Đấng mạc khải và thi hành thánh ý Chúa Cha một cách trọn hảo (x. Dt 10, 5-10). Đức Maria mời gọi mọi người đón nhận Khôn Ngoan ấy. Mệnh lệnh đã ban hành cho những người giúp việc tại Cana ở Galilê trong bữa tiệc cưới, Đức Maria cũng đang ngở với chúng ta đó: “Ngài bảo sao thì hãy làm y như vậy” (Ga 2, 5).

Đức Maria chia sẻ với chúng ta thân phận làm người, nhưng với một sự xuyên thấu hoàn toàn đối với ân sủng của Thiên Chúa. Mặc dầu không phạm tội. Đức Maria đủ sức đồng cảm với mọi nỗi yếu đuối. Đức Maria thấu hiểu con người tội nhân và yêu thương tội nhân bằng một mối tình từ mẫu. Đó chính là lý do tại sao Đức Maria đứng về phía chân lý và chia sớt gánh nặng của Giáo Hội trong khi Giáo Hội nhắc nhở những đòi buộc luân lý cho hết thảy mọi người trong khắp mọi thời đại. Cũng vì cùng một lý do ấy, Đức Maria không chấp nhận để cho con người tội nhân bị lọc lừa bởi bất cứ ai tự hào yêu mến tội nhân bằng cách thanh minh tội lỗi cho người ấy, bởi lẽ Đức Maria ý thức rằng nếu như thế thì hy lễ của Đức Kitô, Con Mẹ, sẽ ra vô ích. Cho dầu là do những chủ thuyết triết học hoặc thần học đầy cảm kích tuyên xướng, không có một sự tha bổng nào có thể làm cho con người nên hạnh phúc thật sự: chỉ có Thập Gía và vinh quang của Đức Kitô Phục Sinh mới có thể mang lại bình an cho lương tâm con người và cứu thoát sự sống con người mà thôi.

Ôi Maria, Mẹ Từ Ái.

Xin hãy để tâm tới hết mọi người,

sao cho Thập Gía của Đức Kitô

đừng trở thành hão huyền,

sao cho con người đừng lạc bước

ra khỏi lối nẻo của điều thiện,

sao cho con người đừng đánh mất cảm thức về tội,

sao cho con người tăng trưởng

trong niềm cậy trông vào Thiên Chúa,

Đấng “giàu lòng từ ái” (Ep 2, 4),

sao cho con người biết tự ý

tự nguyện thực thi những công trình tốt đẹp

mà chính Thiên Chúa đã chuẩn bị trước

(x. Ep 2, 10)

và sao cho con người

nhờ đó mà dùng toàn thể đời sống mình

để trở nên “lời ca ngợi vinh quang Ngài” (Ep 1, 12).

Ban hành tại Rôma, gần đền thờ Thánh Phêrô,

Ngày 6 tháng 8 năm 1993, nhân dịp lễ Chúa Hiển Dung,

Vào năm thứ mười lăm trong chức vụ Giáo Hoàng của Tôi.

 Joannes Paulus II

 


[1]. Hiến Chế Mục Vụ về Giáo Hội trong thế giới ngày nay, Gaudium et spes, MV 22.

[2]. x. Cđ Vat. II. Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội, Lumen Gentium, GH, 1.

[3]. x. nt, s.9.

[4]. Cđ Vat II, Hiến Chế Mục Vụ Gaudium et spes, MV, s.4.

[5]. Huấn Từ của Đức Phaolô VI nhân dịp Hội Nghị khoáng đại của Liên Hiệp Quốc (4-10-1965) s.1: AAS 57 (1965), tr. 878. x. Tđ Populorum Progressio (26-3-1967), s.13: AAS 59 (1967). Tr.263-264.

[6]. x. Cđ Vat.II, Hiến Chế Mục Vụ Gaudium et spes. MV, s.33.

[7]. Hiến Chế Tín Lý Lumen gentium, GH, s.16.

[8]. Đức Piô XII đã từng nêu bật phần khai triển giáo thuyết này. X. Sứ điệp truyền thanh nhân dịp kỷ niệm 50 năm Thông Điệp Rerum novarum của Đức Lêô XIII (1/6/1941): AAS 33 (1941), tr. 195-205. Xem thêm Đức Gioan XXIII. Tđ Mater et magistra (15-5-1961): AAS 53 (1961), tr. 410-413.

[9]. Tông thư Spiritus Domini (1-8-1987): AAS 79 (1987), tr. 1374.

[10]. Sách Giáo Lý của Giáo Hội Công giáo, s. 1692.

[11]. Tông Hiến Pidel dépositum (11-10-1992), s. 4.

[12]. x. Cđ Vat. II, Hiến Chế Tín Lý về Mạc Khải Dei Verbum. MK. S. 10.

[13]. x. Tông Thư Parati semper gởi cho tất cả những người trẻ trên thế giới nhân dịp Năm Quốc Tế Giới Trẻ (31-3-1985), s. 2-8: AAS 71 (1985), tr. 581-600.

[14]. x. Sắc lệnh Optatam totius. ĐT. S. 16.

[15]. Tđ Redemptor hominis (4-3-1979) s. 13: AAS 71 (1979), tr. 282.

[16]. nt. S. 10: 1.c.. tr. 274.

[17]. Hexameron, ngày thứ VI, bài giảng số IX, 8, 50: CSEL 32, 241.

[18]. Thánh Lêô Cả, Bài giảng XCII, ch. 3: PL 54, 454.

[19]. Thánh Tôma Aquinô, In duo praecepta caritatis et in decem legis praecepta. Prologus: Opuscula theologica. II., s.1129, Turin, Marietti (1954), tr.245:x. Tổng luận thần học, I-II. q. 91,a.2: Giáo Lý của Giáo Hội công giáo, s.1955.

[20]. x. Thánh Tiến sĩ Maximô. Quaestiones ad Thalassium, q. 64: PG 90, 723-728.

[21]. Cđ Vat. II, Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, MV, s.24.

[22]. Giáo Lý của Giáo Hội Công giáo, s.2070.

[23] In Iohannis Evangelicum Tractatus, 41, 10: CCL 36, 363.

[24]. x. Thánh Augustinô, De Sermone Domini in Monte, 1, 1, 1: CCL 35, 1-2.

[25]. In Psalmum CXVIII Expositio, bài giảng 18, 37: PL 15, 1541; x. Thánh Chrômaxiô Aquilêa. Tractatus in Matthaeum, XX, 1, 1-4: CCL 9/A 291-292.

[26]. x.Giáo Lý của Giáo Hội công giáo, s.1717.

[27]. In Iohannis Evangelium Tractatus, 41, 10: CCL 36, 363.

[28]. In Iohannis Evangelium Tractatus, 21, 8: CCL 35, 216.

[29]. nt, 82, 3: CCL 36, 533.

[30]. De spritu et littera, 19, 34: CSEL 60, 187.

[31]. Confessions, X. 29, 40: CLL 27, 176; x. De gratia et libero arbitrio, XV: PL 44, 899.

[32]. x. De spiritu et littera, 21, 36; 26, 46: CSEL 60. 189-190; 200-201.

[33]. x. Tổng luận thần học, I-II. Q. 106, a-1, concl. Et ad 2.

[34]. In Matthaeum, hom. 1, 1: PG 57, 15.

[35]. x. Thánh Irênêô, Adversus haereses, IV, 26. 2-5: SC 100/2, tr. 718-729.

[36]. x. Thánh Giustinô. Biện giáo (Apologie). 1, 66: PG 6, 427-430.

[37]. x. 1 Pr 2, 12-13. 17: Didachè. II, 2: SC 248. tr. 148-149; Clêmentê thành Alexandria, Nhà Sư Phạm (Le Pédagogue), I, 10: II, 10: PG 8, 355-364: 497-536: SC 70, tr. 268-279; SC 108, tr. 165-219: Tertullianô, Apologétique, IX, 8: CSEL, 69, 24.

[38] . x. Thánh Inhaxiô thành Antiôkia, Aux Magnésiens, VI, 1-2: SC 10 bis, tr. 82-85; Thánh Irênêô, Adversus haereses. IV, 33, 1.6.7: SC 100/2, tr. 802-805; 814-815; 816-819.

[39] . Hiến Chế Tín Lý Del Verbum, MK, s.8.

[40]. x. nt.

[41]. nt, s.10.

[42]. Bộ Giáo Luật, khoản 747. $ 2.

[43]. Hiến Chế Tín Lý Del Verbum, MK, s.7.

[44]. Cđ Vat. II, Hiến Chế Mục Vụ Gaudium et spes, MV s.22.

[45]. Sắc lệnh Optatam totius. ĐT, s. 16.

[46]. Cđ Vat. II, Hiến Chế Mục Vụ Gaudium et spes, MV s.62.

[47]. nt.

[48]. x. Cđ Vat. II, Hiến chế tín lý Del Verbum, MK, s.10.

[49]. x. Cđ Vat. I, Hiến chế tín lý về đức tin công giáo Del Filius, ch. 4: DS, s.3018.

[50]. Cđ Vat. II, tuyên ngôn về các mối quan hệ giữa Giáo Hội với các tôn giáo ngoài Kitô giáo Nostra aetate, NK, s.1.

[51]. X. Cđ Vat. II, Hiến chế mục vụ Gaudium et spes. MV, s. 43-44.

[52]. Cđ Vat. II, Tuyên ngôn Dignitatis Humanae, TD, s.1, tham chiếu Đức Gioan XXIII, Tđ Pacem in terris (11-4-1963): AAS 55 (1963), tr. 279: nt, tr.265, và Đức Piô XII, Sứ điệp truyền thanh (24-12-1944): AAS 37 (1945), tr. 14.

[53]. Tuyên ngôn Dignitatis Humanae, TD, s.1.

[54]. x. Tđ Redemptor hominis (4-3-1979), s.17: AAS 71 (1979), tr.295-300: Diễn văn ngỏ với các tham dự viên khóa Hội Thảo Quốc Tế lần thứ 5 về những Nghiên Cứu pháp luật (10-3-1984), s.4: Insegnamenti VII, 1 (1984), tr. 656: Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin, Huấn Thị về tự do tôn giáo và về giải phóng Libertatis conscientia (22-3-1986), s. 19: AAS 79 (1978), tr. 561.

[55]. X. Vat. II, Hiến chế mục vụ Gaudium et spes. MV, s.11.

[56]. nt, s.17.

[57]. nt.

[58]. x. Cđ Vat. II, Tuyên ngôn Dignitatis humanae, s.2; x. thêm Grêgôriô XVI. Tđ Mirari vos arbitramur (15-8-1832): Acta Gregorii Papae XVI, I, tr.169-174; Piô IX, Tđ Quanta cura (8-12-1864): Pii IX P.. Acta, I, 3, tr.687-700: Leô XIII, Tđ Libertas praestantissimum (20-6-1888): Leonis XIII P.M. Acta, VIII, Rôma (1889), tr.212-246.

[59] A letter Addressed to His Grace the Duke of Nerfolk: Certain difficulties felt by Anglicans in Catholic teaching (Uniform Edition: Longman, Green and Company, London, 1868-1881, tập 2, tr.250.

[60]. X. Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, MV, số 40 và 43.

[61]. X. Thánh Tôma Aquinô, Tổng luận thần học, I-II, q.71, a.6, xem thêm ad 5.

[62]. x. Đức Pio XII, Tđ Humani generis (12-8-1950): AAS 42 (1950), tr 561-562.

[63]. x. Cđ Trentô, khóa VI, sắc lệnh về sự công chính hóa Cum hoc tempore, giáo luật khoản 19-21: DS. S. 1569-1571.

[64]. Hiến Chế mục vụ Gaudium et spes, MV s.17.

[65]. De hominis opificio, ch. 4: PG 44, 135-136.

[66]. Hiến Chế mục vụ Gaudium et spes. MV, s.36.

[67]. nt

[68]. nt

[69]. Thánh Tôma Aquinô, Tổng luận thần học. I II, q. 93, a.3, ad 2 do Đức Gioan XXIII trung dẫn. Tđ Pacem in terris (11-4-1963): AAS 55 (1963), tr.271.

[70]. Cđ Vat II, Hiến Chế mục vụ Gaudium et spes. MV, s. 41.

[71]. Thánh Tôma Aquinô, In duo praecepta caritatis et in decem legis praecepta Prologus: Opuscula theologica, II, s. 1129, Turin, Marietti (1954), tr. 245.

[72]. x. Diễn văn ngỏ với một nhóm giám mục Hoa Kỳ nhân dịp các vị viếng thăm ad limina (15-10-1988), s.6: Insegnamenti, XI, 3 (1988), tr. 1228.

[73]. x. Cđ Vat II, Hiến chế mục vụ Gaudium et spes. MV, s. 47.

[74]. Thánh Augustinô, Enarratio in psalmum LXII, 16: CCL 39, 804.

[75]. Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, MV, s.17.

[76]. Tổng luận thần học, I-II, q. 91. a.2.

[77]. x. Giáo Lý của Giáo Hội Công giáo, s. 1955.

[78]. Tuyên ngôn Dignitatis humanae, TD. S.3.

[79]. Contra Faustum, XXII, 27: PL 42, 418.

[80]. Tổng luận thần học. I-II, q. 93, a. 1.

[81]. X. nt, I-II, q.90, a.4 ad.1.

[82]. nt, q. 91, a.2.

[83]. Tđ Libertas praestantissimum (20-6-1888): Leonis XIII P.M. Acta, VIII, Roma (1889), tr. 219.

[84]. In Epistulam ad Romanos, ch. VIII, lect. 1.

[85]. Khóa VI, Sắc Lệnh Cum hoc tempore, ch. 1: DS. S. 1521.

[86]. Cđ Vienne, Hiến chế Fidel catholicae: DS, s.902: Cđ Latêranô V, Sắc chỉ Apostolici regimints: DS. S.1440.

[87]. Cđ Vat II, Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, MV, s.14.

[88]. X. Khóa VI, Sắc lệnh Cum hoc tempore, ch. 15: DS, s. 1544. Tông huấn hậu thượng hội đồng Reconciliatio et paenitentia trưng dẫn nhiều văn bản khác trong Cựu Ước, những bản văn này loại bỏ và lên án như là tội trọng một số hành vi ứng xử liên hệ với thân xác (x. Tông Huấn hậu thượng hội đồng Reconciliatio et paenitentia (2-12-1984), số 17: AAS 77 (1985), tr.218-223).

[89]. X. Cđ Vat II, Hiến Chế mục vụ Gaudium et spes, MV, s.51.

[90]. Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin. Huấn thị về sự sống con người đang hình thành và về sự cao cả của việc truyền sinh Donum vitae (22-2-1987), nhập đề, số 3: AAS 80 (1988), tr.74; x. Đức Phaolô VI, Tđ Humanae vitae (25-7-1968), số 10: AAS 60 (1968), tr.487-488.

[91]. Tông Huấn Familiaris consortio (22-11-1981), s.11: AAS 74 (1982), tr.92.

[92]. De Trinitate, XIV, 15, 21: CCL 50/A, 451.

[93]. X. Thánh Tôma Aquinô, Tổng luận thần học, I-II. q.94, a.2.

[94]. x. Cđ Vat II. Hiến Chế mục vụ Gaudium et spes, MV, s.10: x. Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin, Tuyên ngôn về một số vấn đề thuộc luân lý tính dục Persona humana (29-12-1975), s.4: AAS 68 (1976), tr.80: “Trong thực tế, Mạc Khải Thiên Chúa và, trong cấp trật riêng biệt của mình, sự khôn ngoan triết học, khi nêu bật những đòi buộc chính tông của bản tính nhân linh, thì cũng bởi đó mà nhất thiết biểu lộ sự hiện hữu của những lề luật bất biến được ghi khắc trong những yếu tố cấu thành bản tính con người vốn là những lề luật đồng nhất nơi tất cả những hữu thể được phú bẩm lý trí”.

[95]. Cđ Vat II, Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, MV, s. 29.

[96]. nt. s.16.

[97]. nt. s.10.

[98]. x. Thánh Tôma Aquinô. Tổng luận thần học, I-II, q.108, a.I. Thánh Tôma thiếp lập tính chất cho những chuẩn mực luân lý, được ấn định chẳng những trong hình thức mà cả trong nội dung, kể cả trong khuôn khổ của Luật mới, do bởi sự kiện này là Ngôi Lời mặc lấy bản tính nhân loại.

[99]. Thánh Vincentê thành Lêrins, Commonitorium primum, ch.23: PL 50, 668.

[100]. Phần khai triểm học thuyết luân lý của Giáo Hội cũng giống như phần khai triẻn của học thuyết đức tin: x. Cđ Vat I, Hiến chế tín lý về đức tin công giáo Dei Filius, ch.4: DS, s. 3020: và giáo luật khoản 4: DS, s.3024. Những lời Đức Gioan XXIII tuyên xướng nhân dịp khai mạc Công Đồng Vatican II cũng áp dụng cho học thuyết luân lý (11-10-1962): “Vốn đòi phải tuân giữ một cách trung thành, học thuyết này, vững chắc và bất biến [ = học thuyết Kitô giáo với tầm vóc viên mãn] cần phải được đào sâu và được trình bày bằng phương cách khả dĩ đáp lại những đòi hỏi của thời đại chúng ta. Thật ra, chính kho tàng đức tin là một vấn đề, kho tàng đức tin ở đây tức là những chân lý hàm chứa trong học thuyết khả kính của chúng ta, còn dùng hình thức nào để phát biểu những chân lý ấy mà vẫn duy trì cùng một ý nghĩa và cùng một mức độ thì lại là một vấn đề khác”. AAS 54 (1962), tr.792: x. “L’Osservatore Rornano”. 12-10-1962, tr.2.

[101]. Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, MV, s.16.

[102]. nt.

[103]. In II Librum Sentent, dist. 39, 1.1. q.3, concl. “ Ad claras Aquas, II, 907 b.

[104]. Buổi Tiếp Kiến Chung (17-8-1983), 2: Insegnamenti. VI, 2(1983), tr.256.

[105]. Tối Cao Quốc Vụ Viện (Suprême S. Congrégration du Saint-Office). Huấn Thị về “luân lý tùy tình huống”. Contra doctrinam (2-2-1956): AAS 48 (1956), tr. 144.

[106]. Tđ Dominum et vivificantern (18-5-1986), s.43: AAS 78 (1986), tr. 859-860: x. Cđ Vat II, Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, MV, s.16: Tuyên ngôn Dignitatis humanaè. TD. s.3.

[107]. Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, MV, s.16.

[108]. x. Thánh Tôma Aquinô. De Veritate, q.17, a.4.

[109]. Cđ Vat II, Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, MV, s.16.

[110]. x. Thánh Tôma. Tổng luận thần học. II-II, q.45. a.2.

[111]. Tuyên ngôn Dignitatis humanae, s.14.

[112]. Cđ Vat II. Hiến chế tín lý Dei Verbum, MK s.5: x. Cđ Vat I. Hiến chế tín lý Dei Filius ch. 3: DS, s.3008.

[113]. Cđ Vat II, Hiến chế tín lý Dei Verbum, MK, s.5; x. Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin. Tuyên ngôn Persona humana (29-12-1975), s.10: AAS 68 (1976), tr. 88-90.

[114]. X. Tông Huấn hậu thượng hội đồng Reconciliatio et paenitentia (2-12-1984), s.17: AAS 77 (1985), tr.218-223.

[115]. Khóa VI. Sắc lệnh Cum hoc tempore. Ch.15: DS s.1544: giáo luật khoản 19: DS, s.1569.

[116]. Tông Huấn hậu thượng hội đồng Reconciliatio et paenitentia (2-12-1984), s.17: AAS 77 (1985), tr.221.

[117]. nt: 1.c., tr.223.

[118]. nt: 1.c., tr.222.

[119]. x. Cđ Vat II. Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, MV, s.17.

[120]. x. Thánh Tôma Aquinô. Tổng luận thần học. I-II, q.1. a.3: “Iden\m sunt actes morales et actus humani”.

[121]. Cuộc đời Môsê (Vie de Moise), II, 2-3: PC 44, 327-328: SC 1 ter, tr.106-109.

[122]. x. Thánh Tôma Aquinô, Tổng luận thần học. II-II, q.148. a.3.

[123]. Trong Hiến chế mục vụ Gaudium et spes. MV Công Đồng Vatican II xác định: “Điều nói trên không chỉ có giá trị cho những ai tin vào Đức Kitô nhưng cho tất cả những người thiện chí vốn có ân sủng hoạt động một cách vô tình trong lòng. Thật vậy, bởi vì Đức Kitô đã chết cho mọi người và bởi vì ơn gọi cuối cùng của con người thực ra là độc nhất vô nhị và là ơn gọi thần thiêng, cho nên chúng ta phải vững tin rằng Chúa Thánh Thần ban tặng cho mọi người khả năng tham dự vào mầu nhiệm vượt qua, bằng cách thức mà chỉ có Thiên Chúa biết mà thôi” (s.22).

[124]. Tractatus ad Tiberium Diaconum II. Responsiones ad Tiberium Diaconum sociosque suos: Thánh Cyrillô thành Alexandria, In D. Johannis Evangelium, III.Ed. Philip Edward Pusey, Bruxelles, Văn hóa và Văn minh (1965), tr.590.

[125]. x. Cđ Trentô, Khóa VI, Sắc lệnh Cum hoc tempore giáo luật 19: DS, s.1569. Xem thêm: Clèmentê XI. Hiến chế Unigenitus Dei Filius (8-9-1713) chống lại những sai lầm của Pasquier Quesnel. s.53-56: DS, s.2453-2456.

[126]. x. Tổng luận thần học, I-II, q.18, a.6.

[127]. Giáo lý của Giáo Hội công giáo, s.1761.

[128]. In duo praecepta caritatis et in decem legis praecepta. De dilectione Dei: Opuscula theologica.II.s.1168: Turin, Marietti (1954), tr.250.

[129]. Thánh Alphongsô Maria Liguori, Cách thức yêu mến Đức Giêsu Kitô (Manière d’aimer Jésus Christ). VII. 3. (130) x. Tổng luận thần học. I-II, q.100. a.1.

[131]. Tông Huấn hậu thượng hội đồng Reconciliatio et paenitentia (2-12-1984), s.17: AAS 77 (1983), tr.221.x. Đức Phaolô VI, Huấn từ ngỏ với các thành viên Tổng Công Hội Dòng Chúa Cứu Thế (tháng 9 năm 1967): AAS 59 (1967), tr.962: “Cần phải tránh đẩy các tín hữu tới chỗ suy nghĩ cách khác, như thể sau Công Đồng có một số hành vi ứng xử mà trước đây Giáo Hội công bố là xấu tự chúng nay lại được phép làm. Ai mà lại không nhận ra rằng làm như vậy là dẫn tới một chủ nghĩa tương đối đáng tiếc về luân lý, để rồi toàn bộ di sản học thuyết của Giáo Hội sẽ dễ dàng bị đưa ra tranh cãi? “.

[132]. Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, MV, s.27.

[133]. Tđ Humanae vitae (25-7-1968), s.14: AAS 60 (1968), tr.490-491.

[134]. Contra mendacium, VII, 18: PL 40M 528; x. Thánh Tôma Aquinô, Quaestiones quodlibetales. IX, q.7, a.2: Giáo lý của Gíao Hội công giáo, s.1753-1755.

[135]. Cđ Vat II. Tuyên ngôn Dignitatis humanae. TD, s.7.

[136]. Diễn văn ngỏ với các tham dự viên Hội Nghị Quốc Tế về Thần học luân lý (10-4-1986), s.1: Insegnamenti IX, 1 (1986), tr.970;

[137]. nt. s.2: 1.c., tr.970-971.

[138]. x. Cđ Vat II, Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, MV, s.24.

[139]. x. Tđ Redemptor hominis (4-3-1979), s.12: AAS 71 (1979), tr.280-281.

[140]. Enarratio in Psalmum XCIX, 7: CCL 39. 1397.

[141]. x. Cđ Vat II, Hiến chế tín lý Lumen gentium. GH, s.36: x. Tđ Redemptor hominis (4-3-1979), s.21: AAS 71 (1979), tr.316-317.

[142]. Missale Romanum lời nguyện ngày lễ thánh Gioan Tẩy Giả tử đạo, lễ nhớ, 29-8.

[143]. Thánh Bêđa khả kính. Homeliarum Evangelii Libri, II, 23: CCL 122, 556-557.

[144]. x. Cđ Vat II, Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, MV, s.27.

[145]. Gởi tín hữu Rôma, VI, 2-3: SC 10 (1969), tr.115.

[146]. Moralia in Job. VII, 21, 24: PL 75, 778.

[147]. “Summum crede nefas animam praeferre pudori / et propter vitam vivendi perdere causas”: Satires. VIII, 83-84.

[148]. Apologie II, 8: PG 6, 457-458.

[149]. Tông Huấn Familiaris consortio (22-11-1981). s.33: AAS 74 (1982), tr.120.

[150]. x. nt, s. 34: 1.c.. tr.123-125.

[151]. Tông Huấn hậu thượng hội đồng Reconciliatio et paenitentia (2-12-1984), s.34: AAS 77 (185), tr.272.

[152]. Tđ Humanae vitae (25-7-1968). S.29: AAS 60 (1968), tr.501.

[153]. Cđ Vat II, Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, MV, s.25.

[154]. x. Tđ Centesimus annus (1-5-1991), s.24: AAS 83 (1991), tr.821-822.

[155]. nt. s.44: 1.c.. tr.848-849. x. Đức Lêô XIII. Tđ Libertas praestantissimum (20-6-1888): Leonis XIII P.M. Acta. VIII, Roma (1889), tr.224-226.

[156]. Tđ Sollicitudo rei socialis (30-12-1987), s.41: AAS 80 (1988), tr.571.

[157]. Giáo lý của Giáo Hội công giáo. s.2407.

[158]. x. nt. s.2408-2413.

[159]. nt.s.2414.

[160]. x. Tông Huấn hậu thượng hội đồng Christifideles laici (30-12-1988), s.42: AAS 81 (1989), tr.472-476.

[161]. Tđ Centesimus annus (1-5-1991), s.46: AAS 83 (1991), tr.850.

[162]. Khóa VI. Sắc lệnh Cum hoc tempore, ch.11: DS, s.1536; x. giáo luật khoản 18: DS, s. 1568. Đoạn văn nổi tiếng của thánh Augustinô, do Công Đồng trưng dẫn trong bài thuật lại ở đây, được rút ra từ De natura et gratia, 43. 50: CSEL 60, 270.

[163]. Oratio I: PG 97, 805-806.

[164]. Diễn văn ngỏ với các tham dự viên khóa học hỏi về việc sinh sản có trách nhiệm (1-3-1984), s.4: Insegnamenti VII, 1 (1984), tr.583.

[165]. De interpellatione David IV, 6, 22: CSEL 32/2, 283-284.

[166]. Diễn văn ngỏ với các Giám mục CELAM (9-3-1983), III: Insegnamenti. VI, 1 (1983), tr.698.

[167]. Tông Huấn Evangelii nuntiandi (8-12-1975), s.75: AAS 68 (1976), tr.64.

[168]. De Trinitate, XXIX. 9-10: CCL 4, 70.

[169]. Cđ Vat II, Hiến chế tín lý Lumen gentium, GH. 12.

[170]. Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin. Huấn thị về ơn gọi mang chiều kích Giáo Hội của thần học gia. Donum veritatis (24-5-1990), s.6: AAS 82 (1990), tr. 1552.

[171]. Huấn từ ngỏ với các giáo sư và sinh viên thuộc Đại Học Giáo Hoàng Grêgôriô (15-12-1979), s.6: Insegnamenti II, 2 (1979), tr.1424.

[172]. Thánh Bộ Gíao Lý Đức Tin, Huấn thị Donum veritatis (24-5-1990), s.16: AAS 82 (1990), tr.1557.

[173]. x. C.I.C., Giáo Luật, khoản 252, 1; 659, 3.

[174]. x. Cđ Vat I, Hiến chế tín lý Dei Filius, ch.4: DS, S.3016.

[175]. x. Đức Phaolô VI, Tđ Humanae vitae (25-7-1968). S.28: AAS 60 (1968), tr.501.

[176]. Thánh Bộ Giáo Dục, Đào tạo thần học cho các linh mục tương lai (22-2-1976), s.100. Documentation catholique. 1698 (1976), tr.472. Xem các số 95-101 trong đó có trình bày những viễn tượng và những điều kiện để cho công cuộc canh tân thần học và luân lý được sai nở: 1.c., tr.471-472.

[177]. Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin, Huấn thị Donum veritatis (24-5-1990), s.11: AAS 82 (1990), tr. 1554; đặc biệt xem các số 32-39 dành cho vấn đề bất đồng: nt. 1.c., tr.1562-1568.

[178]. Hiến chế tín lý Lumen gentium. GH. S.25.

[179]. x. C.I.C., Giáo Luật, khoản 802, 3.

[180]. x. C.I.C., Giáo Luật, khoản 808.

[181]. “O inaestimabilis dilectio caritatis: ut servum redimeres. Filium tradidisti!”: Missale Romanum, in Resurrectione Domini. Praeconium paschale.

[182]. In Iohannis Evangelium Tractatus, 26, 13: CCL, 36, 266.

[183]. De Virginibus, II, 2, 15: Pl 16, 222.

[184]. nt, II, 2, 7: PL 16, 220.

 

Catechesis.Net