• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

Thánh Bônaventura

 

Thánh Bônaventura

ĐGH Bênêđictô XVI, 36 Vị Thánh Tiến Sĩ (Tp. HCM: Phương Đông, 2017), tr. 299

 

Đây là vị Tổng Phục Vụ lỗi lạc dòng Phanxicô, một người đóng góp rất lớn cho bước phát triển thần học thời Trung cổ. Thánh Bônaventura được mệnh danh là vị “Tiến Sĩ Seraphim,” người có thị kiến thần bí về một thiên thần dưới hình dạng Đức Kitô chịu đóng đinh. Đức Bênêđictô XVI dành ba buổi tiếp kiến chung để chia sẻ về thánh nhân:

- ngày 03 tháng 03 năm 2010: giới thiệu đôi nét về cuộc đời và nhấn mạnh đến khoảng thời gian ngài đảm nhận vai trò Tổng Phục Vụ trong dòng.

- ngày 10 tháng 03 năm 2010: giới thiệu nội dung các tác phẩm nổi tiếng của thánh nhân, đặc biệt là quyển “Hành Trình Con Người Vươn Tới Thiên Chúa.”

- ngày 17 tháng 03 năm 2010: giới thiệu tư tưởng và giáo huấn quan trọng của thánh Bônaventura, trong đó đức giáo hoàng dành ra một phần so sánh với thánh Tôma Aquinô dòng Đa Minh.

 

Anh chị em thân mến,

Khi nói về chủ đề thánh Bônaventura, lòng tôi như đang hoài niệm về những chuyện xưa cũ, hồi tưởng lại bài nghiên cứu trước đây của mình về nhà thần học vĩ đại này, thuở còn là một chàng sinh viên trẻ. Thánh Bônaventura là một nhân vật đặc biệt thân thương đối với tôi. Những gì hiểu biết về ngài thực sự đã ảnh hưởng tới việc đào luyện bản thân tôi. Tháng 09 năm 2009, tôi rất đỗi vui mừng vì thực hiện được một chuyến hành hương tới nguyên quán của thánh nhân, ở làng Bagnoregio, một thị trấn vùng Lazio, nước Italia, nơi vẫn còn lưu giữ nhiều kỷ niệm về thánh nhân.

1.Đôi nét về cuộc đời

Bônaventura chào đời năm 1217, lìa thế năm 1274. Như vậy, thánh nhân sống trong thế kỷ XIII, là thời kỳ mà niềm tin Kitô giáo đã ăn sâu vào văn hoá xã hội châu Âu, góp phần hình thành nên rất nhiều tác phẩm bất hủ thuộc đa dạng các lãnh vực như Văn học, Nghệ thuật, Triết học và Thần học. Trong số những khuôn mặt nổi bật của Giáo Hội đóng góp vào sự hài hoà giữa đức tin và văn hoá phải kể đến thánh Bônaventura. Ngài là con người của hành động và chiêm niệm, có lòng đạo đức sâu sắc và quản trị khôn ngoan.

Giovanni di Fidanza là tên gọi ban đầu mà cha mẹ đã đặt cho thánh nhân. Có một biến cố xảy ra thuở Bônaventura còn thơ bé, để lại dấu ấn sâu sắc trong cuộc đời, như chính ngài kể lại cho chúng ta. Lúc ấy, Giovanni đau ốm rất nặng, đến nỗi thân phụ ngài là một bác sĩ, nhưng cảm thấy hoàn toàn tuyệt vọng và gần như không thể cứu sống con mình. Thế rồi, thân mẫu ngài chạy đến khẩn cầu cùng thánh Phanxicô Assisi (mới được phong thánh) và một phép lạ xảy ra, Giovanni khoẻ lại.

Nhiều năm sau, “Chàng Nghèo” thành Assisi trở nên quen thuộc với Bônaventura, khi người thanh niên trẻ này đến Paris theo đuổi sự nghiệp học hành. Bônaventura đạt được bằng tốt nghiệp nhân văn, có thể so sánh với tấm bằng danh giá của một trường cao đẳng thời nay. Lúc ấy, như bao bạn trẻ khác (trong quá khứ cũng như hiện nay), chàng thanh niên Giovanni thao thức, tự vấn bản thân bằng một câu hỏi quan trọng: “Tôi phải làm gì với cuộc đời này?”

Được lôi cuốn bởi đời sống chứng tá và lòng nhiệt thành triệt để tuân giữ các lời khuyên Tin Mừng nơi các Anh Em Hèn Mọn (họ đến Paris từ năm 1219), Giovanni đến gõ cửa một tu viện dòng Phanxicô trong thành phố, xin gia nhập hàng ngũ những người môn đệ của “Chàng Nghèo” thành Assisi. Nhiều năm sau, Bônaventura đã giải thích lý do vì sao ngài quyết định như thế: Ngài nhận thấy hành động của Đức Kitô được tỏ lộ rõ ràng nơi thánh Phanxicô và nơi những tu sĩ dòng Anh Em Hèn Mọn mà thánh Phanxicô thiết lập. Trong một lá thư gửi cho người anh em trong dòng, Bônaventura đã viết mấy lời như sau: “Tôi xin chân thành bày tỏ trước nhan thánh Chúa lý do vì sao đã khiến tôi yêu mến đời sống của thánh Phanxicô. Thưa đó là vì đời sống của thánh nhân biểu trưng cho bước đầu hình thành và phát triển của toàn thể Giáo Hội. Chẳng phải làGiáo Hội đã khởi sự từ những người ngư phủ đơn sơ, và tiếp đó ngày càng được củng cố nhờ những học giả khôn ngoan đấy sao? Dòng của thánh Phanxicô không được thiết lập bởi tài khéo của con người, nhưng nhờ chính Đức Kitô.”[1]

Sau đó, khoảng năm 1243, Giovanni khoác lấy tu phục dòng Phanxicô và mang danh hiệu là Bônaventura. Ngay lập tức, ngài được gửi tới Paris để theo học ở một phân khoa thần học, và nơi đây, ngài đã tham gia rất nhiều các khoá học chuyên sâu. Bônaventura rèn luyện bản thân, đạt được những bằng cấp cần thiết, để có thể đảm trách công việc giảng dạy, đó là bằng cử nhân Kinh Thánh và cử nhân thần học (chủ yếu là tư tưởng thần học trong quyển “Sentences” - Các Ý Kiến, vì đây là quyển Giáo khoa thần học thời bấy giờ). Thánh nhân liên kết với các giáo sư và sinh viên từ khắp các vùng châu Âu đến học tập ở Paris. Ngài đã phát triển tư tưởng riêng của bản thân, đồng thời cũng phát triển một độ nhạy cảm thiêng liêng rất đáng quý, để rồi sau này có thể áp dụng tất cả những điều đã học vào việc viết lách và giảng giải, trở thành một trong những thần học gia vĩ đại nhất của lịch sử Giáo Hội.

Quan trọng, chúng ta cần nhớ đề tựa của luận văn mà Bônaventura đã bảo vệ, chứng tỏ mình có đủ tư cách để dạy thần học: “Licentia Ubique Docendi” (Quyền Được Dạy Học Ở Bất Cứ Đâu). Luận án tiến sĩ của ngài mang tựa đề là “Những Vấn Nạn Về Tri Thức Của Đức Kitô.” Chủ đề này cho thấy Đức Kitô luôn giữ một vai trò trọng yếu trong cuộc đời và giáo huấn của thánh Bônaventura. Chúng ta có thể khẳng định rằng toàn bộ tư tưởng của thánh Bônaventura đều quy Kitô một cách triệt để.

Trong những năm ở Paris, là thành phố đã trở nên quen thuộc với Bônaventura, xảy ra một cuộc tranh luận gay gắt chống lại các Anh Em Hèn Mọn của thánh Phanxicô và chống lại các Anh Em Giảng Thuyết của thánh Đa Minh. Quyền giảng dạy ở đại học của họ đã bị đặt vấn đề, và người ta nghi ngờ về lòng chân thành sống đời thánh hiến nơi những người tu sĩ của hai dòng Hành Khất này. Dĩ nhiên, những thay đổi trong quan niệm về đời sống tu trì mà các dòng Hành Khất này mang đến là một điều hoàn toàn mới mẻ, đến độ không một ai có thể hiểu tại sao lại có những tu sĩ theo dạng thức hành khất như vậy. Và cũng phải nói thêm một điều, như thỉnh thoảng xảy ra giữa những người tu sĩ rất chân thành, đó là do bản tính yếu đuối, vốn hay kiêu ngạo và ghen tỵ, mà có những người phản kháng lại hai dòng Hành Khất này.

Mặc dù phải đối diện với thái độ phản kháng của nhiều giáo sư đại học khác, nhưng thánh Bônaventura đã chính thức bắt đầu dạy học, nắm giữ một ghế thần học của các anh em Phanxicô tại Paris. Trả lời cho những kẻ đang chống đối hai dòng Hành Khất, thánh nhân đã viết một tác phẩm mang tựa đề“Đường Hoàn Thiện Của Tin Mừng.” Trong tác phẩm này, thánh nhân cho thấy các dòng Hành Khất nói chung vàdòng Anh Em Hèn Mọn nói riêng, đã tuân giữ nếp sống khó nghèo, khiết tịnh, vâng phục, theo các lời khuyên của Tin Mừng như thế nào. Điều quan trọng trước hết và còn vượt trên cả những hoàn cảnh lịch sử bấy giờ, đó là giáo huấn mà thánh Bônaventura để lại trong tác phẩm này cũng như trong cuộc sống của ngài. Giáo huấn ấy vẫn còn phù hợp và rất ý nghĩa với chúng ta hôm nay: Giáo Hội trở nên rạng ngời và tươi đẹp nhờ lòng trung thành sống ơn gọi của rất nhiều con cái nam nữ trong Giáo Hội, họ đã đưa các lời khuyên Tin Mừng vào trong thực tiễn, đồng thời, nhờ ân sủng Thiên Chúa, họ được mời gọi tuân giữ các lời khuyên ấy, ngõ hầu qua nếp sống khó nghèo, khiết tịnh, vâng phục, họ làm chứng tỏ tường rằng Tin Mừng chính nguồn mạch của niềm vui và sự hoàn thiện.

Một thời gian sau, những cơn bão tố chống đối các dòng Hành Khất lắng dần và nhờ có sự can thiệp của đức giáo hoàng Alexander IV năm 1257, Bônaventura đã được công nhận chính thức là một vị tiến sĩ và là giáo sư của trường đại học Paris. Tuy nhiên, ngài đã phải gác lại chức vụ danh giá ấy, vì cũng vào năm ấy, Tổng hội của dòng Anh Em Hèn Mọn diễn ra và bầu chọn Bônaventura là Tổng Phục Vụ (tức Tổng Quyền của dòng).

Thánh nhân giữ chức Tổng Phục Vụ trong khoảng 17 năm, với sự khôn ngoan tài trí và lòng nhiệt thành tông đồ, đi kinh lý các tỉnh dòng, viết nhiều lời hướng dẫn anh em và can thiệp vào nhiều vấn đề quan trọng để ngăn chặn tình trạng lạm dụng của các tu sĩ. Khi Bônaventura bắt đầu trách vụ này, thì thực tế dòng Anh Em Hèn Mọn đã mở rộng, phát triển rất mạnh mẽ: có hơn 30.000 tu sĩ trải rộng khắp vùng Tây Âu, với sứ mạng truyền giáo ở Bắc Phi, ở Trung Đông và thậm chí ở Bắc Kinh nữa. Điều cần thiết bấy giờ là phải củng cố toàn dòng cho vững trên phạm vị khá rộng, và đặc biệt phải kiến tạo một sự hiệp nhất trong cả hành động lẫn tinh thần của các tu sĩ, để luôn trung thành với đặc sủng của thánh Phanxicô.

Thực thế, giữa các môn đệ của thánh Phanxicô, ngày càng có nhiều lối giải thích khác nhau về sứ điệp và tinh thần mà vị tổ phụ để lại, nguy cơ dẫn tới một cuộc chia rẽ nội bộ. Hầu tránh nguy cơ chia rẽ, năm 1260, Tổng hội của dòng ở Narbonnne đã chấp thuận và phê chuẩn một bản văn chú giải mà thánh Bônaventura đã soạn thảo, trong đó những khoản luật liên quan đến đời sống thường nhật của một người Anh Em Hèn Mọn đều được tập hợp và thống nhất lại. Tuy nhiên, thánh Bônaventura cũng dự đoán được rằng: nếu không có sự khôn ngoan cũng như tiết độ khi thiết định và tuân giữ các điều khoản này, thì luật lệ cũng không thể đảm bảo cho sự hiệp thông sâu xa về tinh thần giữa anh em, cần phải chia sẻ với nhau cùng một lý tưởng và cùng một động lực.

Vì thế, Bônaventura ước ao có thể trình bày một cách chính xác đặc sủng của thánh Phanxicô cũng như đời sống và giáo huấn của thánh tổ phụ. Ngài cố gắng sưu tầm tất cả tài liệu liên quan đến “Chàng Nghèo,” đồng thời lắng nghe kinh nghiệm cũng như ký ức của tất cả những bậc cha anh lão thành còn nhớ về thánh Phanxicô. Từ đó, hình thành nên một bản tiểu sử về thánh Phanxicô rất nổi tiếng, mang tên là “Legenda Maior.” Sau đó, bản tiểu sử này được soạn thảo lại một cách ngắn gọn hơn, gọi là “Legenda Minor.” Khác với tiếng Italia, từ “Legenda” trong tiếng Latinh không có nghĩa là một cái gì đó như sản phẩm của trí tưởng tượng, nhưng ngược lại “Legenda” có nghĩa là một bản văn có giá trị, đáng tin cậy, chính thức được đem ra đọc. Thực vậy, Tổng hội của dòng Anh Em Hèn Mọn năm 1263 tổ chức tại Pisa, đã công nhận bản tiểu sử về thánh Phanxicô do Bônaventura soạn thảo là hình ảnh trung thực nhất về vị sáng lập của dòng, và vì thế nó trở thành bản tiểu sử chính thức về cuộc đời của thánh Phanxicô.

Hình ảnh thánh Phanxicô đã xuất hiện như thế nào dưới tâm hồn và ngòi bút của thánh Bônaventura? Thưa, điểm then chốt là thánh Phanxicô tựa như một alter Christus (Kitô khác), một người say mê tìm kiếm Đức Kitô. Tình yêu thương nồng cháy đã thúc đẩy Phanxicô theo gương Đức Kitô, hoàn toàn quy hướng đời mình theo Đức Kitô. Bônaventura đã trình bày lý tưởng này cho tất cả môn đệ của thánh Phanxicô.

Thưa anh chị em, tôi thiết nghĩ, lý tưởng sống động này chắc chắn cũng dành cho mỗi người Kitô hữu chúng ta, hôm qua, hôm nay và mãi mãi. Lý tưởng này cũng được vị tiền nhiệm đáng kính của tôi là đức giáo hoàng Gioan Phaolô II soạn ra như một chương trình cho Giáo Hội trong thiên niên kỷ thứ ba. Chương trình này, như đức giáo hoàng đã viết trong Novo Millennio Ineunte, là tập trung “vào chính Đức Kitô, Đấng chúng ta phải nhận biết, phải yêu mến và bắt chước Người, để rồi trong Người, chúng ta sống sự sống của Ba Ngôi Thiên Chúa, và với Người, chúng ta biến đổi lịch sử cho đến khi nó được thành toàn trong Giêrusalem Thiên Quốc” (số 29).

Năm 1273 thánh Bônaventura đã trải nghiệm một cuộc thay đổi rất lớn trong cuộc sống của ngài. Đức giáo hoàng Grêgôriô X muốn truyền chức giám mục cho ngài và chọn ngài làm hồng y. Đức giáo hoàng cũng yêu cầu cha Bônaventura chuẩn bị một Công đồng hoàn vũ thứ hai ở Lyon, là sự kiện quan trọng nhất của Giáo Hội nhằm mục đích tái lập sự hiệp thông giữa Giáo HộiLatinh Tây phương và Giáo HộiHylạp Đông phương. Thánh Bônaventura đã nỗ lực hết mình cho nhiệm vụ này, nhưng ngài đã không thể nhìn thấy phần kết của khoá họp, vì qua đời trước khi Công đồng bế mạc. Một thư ký khuyết danh của đức giáo hoàng đã soạn lời tán dương và ca ngợi thánh Bônaventura, để lại cho chúng ta một bức chân dung tóm lược về vị thánh vĩ đại và cũng là nhà thần học xuất sắc này: “Một con người tốt lành, thánh thiện, nhiệt thành, trắc ẩn và đầy nhân đức, được Thiên Chúa và mọi người thương mến... Thực vậy, Thiên Chúa đã thương ban cho thánh nhân muôn vàn ân sủng lớn lao, đến độ tất cả những ai gặp gỡ ngài đều trào dâng một tâm tình yêu mến, đến độ trái tim của họ không thể nào giấu kín.”[2]

Chúng ta hãy cùng nhau tóm kết những di sản mà vị tiến sĩ vĩ đại này đã để lại cho chúng ta. Ngài dạy chúng ta ý nghĩa đích thực của cuộc đời, bằng những lời như sau: “Nơi dương thế... chúng ta có thể chiêm niệm về sự vô biên của Thiên Chúa thông qua lý trí và lòng ngưỡng mộ. Trên Thiên Quốc, chúng ta sẽ được phúc kiến Thiên Chúa, trở nên giống như Người... Chúng ta sẽ bước vào niềm hoan lạc vĩnh cửu của chính Thiên Chúa.”[3]

2. Các tác phẩm của thánh Bônaventura

Anh chị em thân mến, tôi muốn tiếp tục chia sẻ với anh chị em về thánh Bônaventura, đề cập đến một số tác phẩm và đạo lý của ngài để lại cho chúng ta.

Như tôi đã nói, trong số rất nhiều công trạng của thánh Bônaventura, phải nhắc đến khả năng giải thích một cách trung thành và đúng đắn tư tưởng của thánh Phanxicô Assisi, là vị tổ phụ mà ngài hết lòng tôn kính và say mê học hỏi với tâm tình yêu mến.

Vào thời đại của thánh Bônaventura, theo một cách thức đặc biệt, có một khuynh hướng nảy sinh trong Anh Em Hèn Mọn gọi là “Phong trào Thần Khí.” Những người theo phong trào này cho rằng thánh Phanxicô đã mở ra một giai đoạn hoàn toàn mới trong lịch sử, và còn cho rằng “Tin Mừng Vĩnh Cửu,” như sách Khải Huyền nhắc đến, đã tới để thay thế cho Tân Ước rồi. Phong trào này khẳng định: bây giờ, Giáo Hội đã hoàn thành xong vai trò của mình trong lịch sử. Họ nghĩ rằng Giáo Hội đã được thay thế bởi một cộng đoàn đặc sủng, bao gồm những con người tự do, sống dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, cụ thể là “những tu sĩ Phanxicô đầy Thần Khí.”

Tư tưởng của nhóm người này dựa trên các tác phẩm của một vị viện phụ dòng Xitô tên là Joachim Fiore, qua đời năm 1202. Trong các tác phẩm của mình, vị viện phụ này khẳng định một “nhịp điệu” Ba Ngôi trong lịch sử. Tác giả xem Cựu Ước là giai đoạn của Chúa Cha, kế tiếp, đó là giai đoạn của Chúa Con, cũng là giai đoạn của Giáo Hội, và cuối cùng, giai đoạn thứ ba, như được mong chờ, là giai đoạn của Chúa Thánh Thần. Như thế, toàn bộ lịch sử được giải thích là một tiến trình phát triển: khởi đi từ thời kỳ ngặt nghèo của Cựu Ước, tiến tới sự tự do tương đối của thời kỳ Chúa Con và Giáo Hội, và cuối cùng, đạt tới sự tự do hoàn toàn của con cái Thiên Chúa trong giai đoạn của Chúa Thánh Thần. Giai đoạn cuối cùng này là thời kỳ hoà bình trong nhân loại, thời kỳ hoà giải giữa các dân tộc và tôn giáo.

Viện phụ Joachim đã khơi lên một niềm hy vọng như sau: kỷ nguyên mới xuất phát từ một hình thức đan tu mới. Vì vậy, có thể hiểu lý do vì sao có một nhóm các Anh Em Hèn Mọn cho rằng thánh Phanxicô Assisi là người khởi xướng kỷ nguyên mới này và dòng Anh Em Hèn Mọn của thánh Phanxicô là cộng đoàn đầu tiên của kỷ nguyên mới này, là cộng đoàn của kỷ nguyên Thánh Thần, bỏ lại đằng sau một Giáo Hội cơ chế nặng nề, để bắt đầu một Giáo Hội mới của Chúa Thánh Thần, không còn liên kết với các cấu trúc và tổ chức xưa cũ.

Thế là họ đã rơi vào một sai lầm trầm trọng, hiểu không đúng sứ điệp của thánh Phanxicô, một người khiêm hạ trung thành với Tin Mừng và với Giáo Hội. Nói chung, quan niệm sai lầm này dẫn tới một nhãn quan không đúng về Kitô giáo.

Thánh Bônaventura khi trở thành Tổng Phục Vụ dòng Phanxicô năm 1257 đã phải đối diện với tình hình rất căng thẳng trong dòng, vì có nhiều anh em đang ủng hộ quan điểm về nhóm những “tu sĩ Phanxicô đầy Thần Khí” vừa kể trên, theo tư tưởng của Joachim Fiore. Để trả lời cho nhóm anh em này và để khôi phục sự hiệp nhất trong dòng, thánh Bônaventura đã nghiên cứu kỹ lưỡng các tác phẩm của Joachim Fiore, cũng như những gì gắn liền với tác giả này, và nung nấu trong lòng một ý định sẽ trình bày về con người cũng như sứ điệp của thánh Phanxicô một cách chuẩn xác.

Thánh nhân muốn đưa ra một quan điểm đúng đắn về thần học lịch sử. Ngài đã giải quyết vấn đề này trong tác phẩm cuối cùng của mình, đó là một bộ sưu tập những tài liệu thảo luận về các đan sĩ trong viện thần học ở Paris. Ngài vẫn chưa hoàn thành tác phẩm này. Tác phẩm truyền đến chúng ta hôm nay thông qua các bản viết tay của những người môn đệ đã lắng nghe thánh nhân giảng giải. Tác phẩm mang tựa đề“Hexaemeron,” một tác phẩm giải thích ẩn dụ về“Sáu Ngày” trong công trình tạo dựng của Thiên Chúa. Các vị Giáo phụ đã xem sáu ngày hay bảy ngày trong trình thuật về tạo dựng là lời ngôn sứ về lịch sử của thế giới và nhân loại. Đối với các vị Giáo phụ, bảy ngày nói đến bảy giai đoạn của lịch sử, sau này cũng được giải thích là bảy thiên niên kỷ. Với Đức Kitô, chúng ta bước vào giai đoạn cuối cùng, giai đoạn thứ sáu của lịch sử và sau đó là thời kỳ Sabát vĩ đại của Thiên Chúa. Thánh Bônaventura cũng giả thiết lối giải thích lịch sử ấy về trình thuật các ngày tạo dựng, nhưng theo một cách thức rất tự do và hoàn toàn mới. Thánh Bônaventura cho rằng hai hiện tượng trong thời đại của ngài cần phải có một lối giải thích mới về diễn trình lịch sử.

Thứ nhất, hiện tượng thánh Phanxicô, một người hoàn toàn kết hiệp với Đức Kitô đến nỗi đã được hiệp thông với Năm Dấu Thánh của Người, gần như là một Kitô khác; cùng với thánh Phanxicô, dòng Anh Em Hèn Mọn mà thánh Phanxicô đã thành lập, có đời sống tu trì khác với đời sống đan tu như trước đó. Hiện tượng này cần có một lối giải thích mới, xem như sự canh tân của Thiên Chúa trong giai đoạn đó.

Thứ hai, tư tưởng của Joachim Fiore, người đã loan báo một lối sống đan tu mới và một thời kỳ lịch sử mới, điều này vượt quá mặc khải của Tân Ước, cần phải được giải thích. Vì là Tổng Phục Vụ dòng Phanxicô, nên ngay lập tức thánh Bônaventura nhận ra rằng nếu cứ quan niệm về đời sống tâm linh như Joachim, dòng của ngài sẽ trở thành ‘không thể quản trị nổi’ và tất yếu sẽ dẫn tới một tình trạng hỗn loạn, mất trật tự. Theo ngài, sẽ có hai hậu quả xảy ra:

(a) Nhu cầu thực tiễn cần phải có tổ chức và cần phải hoà mình vào thực tế của Giáo Hội phẩm trật, một Giáo Hội thực thụ, cần phải đưa ra một nền tảng thần học nhất định. Sở dĩ như thế một phần cũng vì những người đi theo phong trào tâm linh kia đãủng hộ một điều gì đó dường như cũng là một nền tảng thần học.

(b) Một mặt phải chúý đến tính thực tiễn, mặt khác, chúng ta cũng không được đánh mất những nét mới mẻ nơi thánh Phanxicô.

Vậy thánh Bônaventura đã trả lời cho những nhu cầu thực tiễn và lý thuyết này như thế nào? Ở đây tôi chỉ đưa ra câu trả lời căn bản, ngắn gọn, và chắc chắn, xét trên nhiều khía cạnh, sẽ là chưa đầy đủ.

1. Thánh Bônaventura đã phản đối tư tưởng nhịp điệu Ba Ngôi trong lịch sử. Thiên Chúa chỉ là một trong tất cả lịch sử và không phải là ba Thiên Chúa khác nhau. Lịch sử cũng là một. Ngay cả khi lịch sử là một hành trình, thì theo thánh Bônaventura, đó cũng là một hành trình đi lên.

2. Đức Giêsu Kitô là LờiViên Mãn của Thiên Chúa. Trong Người, Thiên Chúa đã tỏ bày tất cả, nghĩa là đã trao ban và biểu lộ chính Người cho nhân loại. Làm sao Thiên Chúa có thể bày tỏ điều gì còn hơn cả chính Người nữa? Chúa Thánh Thần là Thần Khí của Chúa Cha và Chúa Con. Chính Đức Kitô đã nói vềThánh Thần như sau: “Người sẽ làm cho anh em nhớ lại tất cả những gì Thầy đã nói với anh em” (Ga 14,26), và “Người sẽ lấy những gì của Thầy mà loan báo cho anh em” (Ga 16,15). Vì thế, không có một Tin Mừng cao siêu nào khác và cũng không có một Giáo Hội nào khác để chúng ta phải mong chờ. Vì vậy, dòng Anh Em Hèn Mọn cũng phải hoà mình với Giáo Hội duy nhất này, hoà mình với niềm tin và với phẩm trật của Giáo Hội.

3. Điều này không có nghĩa Giáo Hội là một thực thể tĩnh tại, chôn chân trong quá khứ hay không còn một điều gì mới trong Giáo Hội nữa. "Opera Christi non deficiunt, sed proficiunt"(công trình của Đức Kitô không lạc hậu, thụt lùi, nhưng vẫn đang tiến triển), thánh Bônaventura nói điều này trong một lá thư mang tựa đề“De Tribus Quaestionibus.” Như vậy, thánh Bônaventura đã công thức hóa ý niệm về sự tiến triển. Đây là một điều hoàn toàn mới so với các vị Giáo phụ và so với hầu hết tất cả các tác giả khác cùng thời với ngài. Đối với thánh Bônaventura, Đức Kitô không còn là điểm kết của lịch sử như các vị Giáo phụ đã quan niệm, nhưng thay vào đó Người là trung tâm của lịch sử; lịch sử không kết thúc nơi Đức Kitô, nhưng mở ra một giai đoạn mới cùng với Đức Kitô. Từ đây, dẫn tới một hệ quả khác: tính cho tới giai đoạn ấy, tư tưởng mà các vị Giáo phụ xa xưa đề ra vẫn hoàn toàn thống lĩnh các tư tưởng thần học, tất cả các thế hệ tiếp nối có lẽ chỉ là hậu sinh, đi theo dòng tư tưởng của các vị mà thôi; phần thánh Bônaventura, cũng chân nhận các Giáo phụ mãi mãi là thầy dạy tuyệt vời, nhưng ngài cho rằng hiện tượng thánh Phanxicô là dấu chứng chắc chắn cho thấy kho tàng Lời của Đức Kitô là vô cùng vô tận, và ánh sáng mới có thể chạm tới các thế hệ tương lai. Tính duy nhất của Đức Kitô cũng đảm bảo cho tính mới mẻ và canh tân trong mọi giai đoạn của lịch sử.

Dĩ nhiên, dòng Phanxicô như thánh Bônaventura nhấn mạnh thuộc vềGiáo Hội của Đức Giêsu Kitô, thuộc vềGiáo Hội Tông truyền, và không thể được xây dựng trên một “chủ nghĩa tinh thần không tưởng.” Nhưng đồng thời, chắn chắn có điểm mới mẻ nơi dòng Phanxicô so với đời sống đan tu cổ xưa, và thánh Bônaventura, như tôi đã nói, bảo vệ sự mới mẻ này, chống lại sự tấn công của các linh mục triều ở Paris: điểm mới mẻấy cụ thể là anh em Phanxicô không có một Tu viện cố định, họ đi đây đó khắp nơi để loan báo Tin Mừng. Chính xác, phải nói rằng sự mới mẻ của dòng Phanxicô là xoá bỏ tính cố định (vĩnh cư), vốn là đặc tính của đời sống đan tu, hầu xây dựng tính cách lưu động, uyển chuyển, để khôi phục tính năng động của sứ mạng truyền giáo trong Giáo Hội.

Ở điểm này, có lẽ cũng cần phải nói thêm rằng: cả thời đại hôm nay nữa vẫn có những quan niệm xem toàn bộ lịch sử của Giáo Hội trong thiên niên kỷ thứ hai là một bước suy thoái dần dần. Vài người còn xem sự suy thoái này đã bắt đầu ngay sau thời Tân Ước. Thực ra, “opera Christi non deficiunt, sed proficiunt” công trình của Đức Kitô không lạc hậu, cũng không thất bại, nhưng vẫn tiếp tục và hướng về phía trước. Nếu không có những trào lưu linh đạo mới của dòngXitô, dòng Phanxicô, dòng Đa Minh, và của Têrêsa Avila, của Gioan Thánh Giá, v.v… thì thử hỏi Giáo Hội sẽ đi về đâu? Điều khẳng định này cũng được áp dụng cho ngày hôm nay: công trình của Đức Kitô vẫn luôn hướng về phía trước. Thánh Bônaventura dạy chúng ta cần có một cái nhìn toàn diện: vừa biện phân nghiêm túc, vừa có nhãn quan duy thực ôn hoà và mở ra với những điều mới mẻ mà Đức Kitô mang đến cho Giáo Hội qua Thánh Thần.

Cùng với quan điểm về sự suy đồi này, chúng ta lại thấy xuất hiện một quan điểm nữa, đó là “chủ nghĩa không tưởng trong đời sống tâm linh.” Thực vậy, sau Công đồng Vatican II, có những người đã tin rằng mọi sự đều đổi mới và đã có một Giáo Hội khác, Giáo Hội tiền Công đồng nay đã hoàn thành và chúng ta đã có một Giáo Hội mới, một Giáo Hội hoàn toàn khác, một Giáo Hội không tưởng và không còn phẩm trật nữa. Tạ ơn Thiên Chúa vì những người ngư phủ khôn ngoan của con thuyền Phêrô, làđức giáo hoàng Phaolô VI và đức giáo hoàng Gioan Phaolô II, một mặt vừa bảo vệ những điều đổi mới của Công đồng, một mặt vừa bảo vệ tính duy nhất và liên tục của Giáo Hội: Giáo Hội vẫn là cộng đoàn của những con người tội lỗi, nhưng đồng thời, cũng là một nơi chứa chan ân sủng Thiên Chúa.

4. Với lối nhìn này, trong cương vị là Tổng Phục Vụ, thánh Bônaventura đã nỗ lực quản trị, điều hành, cho thấy rằng: dòng tu mới này, xét như một cộng đoàn, không thể sống cùng một “lý tưởng đỉnh cao cánh chung” như tổ phụ Phanxicô (nơi thánh tổ phụ, Bônaventura nhìn thấy một thế giới tương lai được mong chờ), nhưng dòng mới này vừa được hướng dẫn bởi một nguyên tắc thực tiễn lành mạnh, vừa mang một tinh thần can đảm, phải tiến gần bao nhiêu có thể tới mức thực hiện trọn vẹn bài giảng trên núi, mà thánh Phanxicô chính là “tiêu chuẩn,” nhưng vẫn luôn ý thức sự giới hạn của con người do hậu quả của tội nguyên tổ.

Vì vậy, chúng ta thấy rằng đối với thánh Bônaventura, quản trị không đơn thuần là một hành động, nhưng quan trọng hơn hết quản trị là không ngừng suy tư và cầu nguyện. Ở gốc rễ của việc quản trị nơi thánh nhân, chúng ta luôn tìm thấy tinh thần cầu nguyện và suy tư; tất cả những quyết định của thánh nhân là kết quả của một đời sống chiêm niệm, suy tư, được soi sáng nhờ lời cầu nguyện. Nơi thánh nhân, đời sống tương quan mật thiết với Đức Kitô luôn kết hiệp với trách nhiệm là Tổng Phục Vụ của dòng, có vậy ngài mới viết nên rất nhiều tác phẩm thần học và thần bí, diễn tả cái hồn của việc quản trị. Những tác phẩm ấy cũng cho thấy tư tưởng, ý định của thánh Bônaventura khi hướng dẫn dòng Phanxicô: quản trị không phải chỉ bằng những lệnh truyền và thể chế, nhưng còn bằng việc hướng dẫn và soi sáng cho các linh hồn, giúp họ đến với Đức Kitô.

Tôi muốn đề cập ở đây một trong những tác phẩm của ngài được xem là linh hồn của việc quản trị và chỉ ra một con đường cho chúng ta bước theo, cả cá nhân cũng như cộng đoàn: đó là tác phẩm “Itinerarium Mentis In Deum” (Hành Trình Của Con Người Vươn Tới Thiên Chúa), một “thủ bản” cho việc chiêm niệm thần bí. Quyển sách này được thai nghén trong một không gian vô cùng thiêng liêng: đỉnh La Verna, nơi thánh Phanxicô đón nhận Năm Dấu Thánh. Trong lời dẫn nhập, thánh Bônaventura kể lại bối cảnh ra đời tác phẩm: “Khi tôi đang suy niệm về khả năng vươn lên Thiên Chúa của linh hồn, thì tôi thấy một thị kiến, chính là phép lạ đã xảy ra tại nơi đó với thánh Phanxicô, tức là một Thiên Thần Seraphim có cánh dưới hình dạng Đức Kitô chịu đóng đinh. Trong khi chiêm ngắm thị kiến này, ngay lập tức tôi nhận thấy mình được trải nghiệm cùng một cuộc xuất thần như tổ phụ Phanxicô và trải nghiệm về con đường dẫn tới điều đó.”[4]

Sáu cánh của thiên thần Seraphim trở thành biểu tượng sáu bước dẫn con người từ sự hiểu biết về Thiên Chúa (nhờ việc quan sát thế giới thụ tạo và quan sát thế giới nội tâm là linh hồn với những quan năng của nó), tới sự hiệp nhất viên mãn cùng Ba Ngôi Thiên Chúa (qua trung gian Đức Kitô, theo gương mẫu của thánh Phanxicô). Những lời cuối cùng trong quyển Hành Trình này của thánh Bônaventura, giải đáp vấn nạn làm sao có thể đạt tới sự hiệp thông huyền nhiệm với Thiên Chúa, đó là hãy đi vào trong những ngõ ngách sâu thẳm nhất của tâm hồn: “Nếu bạn muốn biết sự hiệp thông huyền nhiệm với Thiên Chúa diễn ra thế nào, hãy hỏi ân sủng, chứ đừng dựa vào lời chỉ dẫn, hãy hỏi lòng khát khao chứ đừng dựa vào trí hiểu, hãy hỏi những tiếng thì thầm của lời cầu nguyện thay vì bám víu vào học hành; hãy hỏi vị Lang quân, chứ đừng hỏi thầy dạy; hãy hỏi chính Thiên Chúa thay vì phàm nhân; hãy hỏi đêm tối chứ đừng hỏi sự rõ ràng, tường tận; đừng hỏi ánh sáng mà hãy hỏi ngọn lửa thiêu đốt tất cả và dẫn tới Thiên Chúa bằng dầu thơm hoan lạc và lòng mến nhiệt thành... Vậy, chúng ta hãy mạnh dạn bước vào đêm tối; hãy làm cho mọi thứ lo lắng, bận tâm, tham vọng và ảo tưởng phải câm lặng. Chúng ta hãy vượt qua thế giới này mà tiến về Chúa Cha cùng với Đức Giêsu Kitô, Đấng đã chịu đóng đinh vì chúng ta, để một khi được chiêm ngưỡng nhan thánh Cha, chúng ta có thể thốt lên như thánh Philiphê tông đồ xưa kia: “Lạy Thầy như vậy là đủ cho con.”[5] (x. ibid., VII 6).

Anh chị em thân mến, chúng ta hãy đón nhận những lời mời gọi mà thánh Bônaventura, vị Tiến Sĩ Seraphim, để lại cho chúng ta, và hãy đến thụ huấn dưới mái trường của vị Thầy đích thực là Đức Giêsu Kitô: chúng ta hãy lắng nghe lời sự sống và chân lý vang vọng trong sâu thẳm linh hồn. Hãy thanh luyện suy nghĩ và hành động của bản thân, để Đức Kitô có thể cư ngụ trong tâm hồn, và chúng ta có thể hiểu được tiếng Người đang nói, hầu dẫn đưa chúng ta tới nguồn hạnh phúc đích thực.

3. Giáo huấn của thánh Bônaventura

Giờ đây, tôi muốn chia sẻ với anh chị em một vài khía cạnh trong đạo lý của thánh Bônaventura. Thánh nhân là thần học gia lỗi lạc, xứng đáng đứng bên cạnh một nhà tư tưởng vĩ đại khác cùng thời với ngài, đó là thánh Tôma Aquinô. Cả hai vị đều nghiên cứu rất sâu rộng các mầu nhiệm mạc khải, cố gắng tận dụng nhiều nhất những nguồn lực của lý trí con người, trong một cuộc đối thoại đầy hoa trái giữa đức tin và lý trí, tạo nên một nét rất riêng của thời kỳ Trung cổ Kitô giáo, biến thời kỳ ấy trở thành một giai đoạn đầy huy hoàng của lý trí, một giai đoạn canh tân đức tin và Giáo Hội, thường không được người ta nhấn mạnh cho đủ.

Có nhiều điểm tương đồng giữa hai vị thánh này: cả hai vị, Bônaventura (tu sĩ Phanxicô) và Tôma (tu sĩ Đa Minh), đều thuộc những dòngHành Khất, có những nét đổi mới trong tinh thần như tôi đã đề cập trong những lần chia sẻ trước đây, đều góp phần canh tân toàn bộ đời sống Giáo Hội trong thế kỷ XIII và cuốn hút rất nhiều môn sinh bước theo các ngài. Cả hai vị cùng phục vụGiáo Hội với lòng say mê, nhiệt thành và yêu mến, tới mức cả hai vị cùng được mời gọi tham dự Công đồng Lyon năm 1274, cả hai vị đều qua đời trong năm ấy: thánh Tôma qua đời khi đang trên đường đi tới Lyon, thánh Bônaventura qua đời khi Công đồng Lyon đang diễn ra. Thậm chí bức tượng của cả hai vị thánh này ở quảng trường thánh Phêrô cũng song song với nhau. Hai vị đứng ở ngay hàng cột đầu tiên, đặt ở chính diện Đền thờ Vatican, một vị ở bên trái và một vị ở bên phải. Dẫu có nhiều khía cạnh giống nhau như thế, nhưng nơi hai vị đại thánh này, chúng ta có thể nhận ra những lối tiếp cận triết học và thần học khác nhau, vốn cho thấy nguồn cội và chiều sâu tư tưởng của mỗi vị. Tôi xin liệt kê ở đây vài điểm khác biệt giữa hai vị.

Điểm khác biệt thứ nhất liên quan đến quan điểm về thần học. Cả hai vị tiến sĩ này đều tự hỏi: thần học là một ngành khoa học có tính thực tiễn hay tính lý thuyết, nó có phải là một ngành khoa học thuần lý hay không.

Thánh Tôma đưa ra hai câu trả lời dường như trái ngược. Câu trả lời thứ nhất: thần học suy tư về đức tin và mục đích của đức tin, đó là giúp con người trở nên thiện hảo và sống đúng thánh ý Thiên Chúa. Vì vậy, mục đích của thần học là dẫn đưa con người vào đường ngay nẻo chính, vì thế xét một cách cơ bản, có thể nói thần học là nghành khoa học thực tiễn. Câu trả lời thứ hai: thần học tìm biết Thiên Chúa. Chúng ta là tác phẩm của Thiên Chúa. Thiên Chúa vượt trên hành động của con người. Thiên Chúa hoạt động ngay trong con người, vì thế, điều chính yếu thần học quan tâm không phải là những hành động của con người, không phải là những hành động của riêng chúng ta mà thôi, nhưng là muốn biết Thiên Chúa. Thánh Tôma kết luận, vì vậy thần học quan tâm đến cả hai khía cạnh: vừa có tính lý thuyết vì muốn tìm biết Thiên Chúa nhiều hơn, vừa có tính thực tiễn vì muốn dẫn đưa đời sống con người đến sự thiện hảo. Nhưng, theo thánh Tôma, có một sự ưu tiên cho hiểu biết: trên hết, chúng ta phải biết về Thiên Chúa, và tiếp đó phải hành động phù hợp với thánh ý Thiên Chúa.[6] Việc ưu tiên cho sự hiểu biết này so với tính thực tiễn là điểm quan trọng đối với định hướng nền tảng của thánh Tôma.

Câu trả lời của thánh Bônaventura cũng tương tự như thế, nhưng điểm nhấn lại rất khác. Bônaventura biết những lập luận tương tự về cả hai chiều kích giống như thánh Tôma, nhưng để trả lời cho câu hỏi thần học có tính thực tiễn hay có tính lý thuyết, thì Bônaventura còn đưa ra một điểm phân biệt quan trọng thứ ba; từ đó, thánh nhân mở rộng điểm khác biệt giữa lý thuyết (nhấn mạnh về hiểu biết) và thực tiễn (nhấn mạnh thực hành), thêm vào một quan điểm thứ ba mà ngài gọi là “cao minh” và khẳng định rằng cao minh ôm trọn lấy cả hai khía cạnh trên. Thánh Bônaventura còn nói tiếp: khôn ngoan dẫn đến chiêm niệm (được xem là hình thức cao nhất của sự hiểu biết) và chủ đích của nó là “ut boni fiamus” (chúng ta trở nên thiện hảo) và đây là điểm đặc biệt.[7] Thánh Bônaventura còn nói: “Đức tin nằm trong một thứ hiểu biết dẫn đếntình yêu. Ví dụ: khi hiểu rằng Đức Kitô đã chết vì chúng ta, thì không chỉ dừng ở sự hiểu biết của bản thân, mà còn phải dẫn tới yêu mến Thiên Chúa.”[8]

Cùng một dòng lý luận như thế, Bônaventura bảo vệ thần học, cụ thể là bảo vệ cả những suy tư về đức tin, vừa có tính lý luận vừa có phương pháp cụ thể. Thánh Bônaventura liệt kê ra vài lập luận chống lại việc dấn thân làm thần học, có lẽ cũng đang lan tràn trong một số anh em dòng Phanxicô và trong thời đại chúng ta hôm nay, vốn cho rằng lý trí sẽ làm trống rỗng đức tin, lý trí sẽ là một thái độ thù nghịch đối với Lời Chúa, chúng ta nên lắng nghe chứ đừng phân tích Lời Chúa.[9]

Trước những lập luận chống lại việc làm thần học như thế (vốn cho thấy những nguy cơ xuất hiện ngay trong thần học), thánh Bônaventura đã lên tiếng trả lời: đúng là có một cách kiêu hãnh khi làm thần học, một thứ kiêu ngạo của lý trí, tự đặt mình lên trên cả Lời Chúa. Nhưng thần học đích thực, công trình thần học bổ ích và đúng nghĩa có nguồn gốc khác chứ không phải là sự kiêu ngạo của lý trí. Khi yêu chúng ta muốn biết rõ hơn về người mình yêu; thần học đúng nghĩa thì không liên hệ gì đến một thứ lý luận phát xuất từ thói kiêu hãnh cùng những kết quả của nó, “sed propter amorem eius cui assentit”(nhưng được thúc đẩy bởi tình yêu của Đấng mà lý trí hoàn toàn khuất phục, ưng theo)[10] và muốn trở nên thân thiết hơn với người mình yêu: đây là chủ đích nền tảng của thần học. Nói cho cùng, đối với thánh Bônaventura, phải ưu tiên cho tình yêu chứ không phải hiểu biết.

Điểm sau hết, thánh Tôma và thánh Bônaventura đều xác định cùng đích của con người là niềm hạnh phúc viên mãn, nhưng hai vị đi theo những cách khác nhau. Đối với thánh Tôma, đích đến cuối cùng mà con người mong ước và quy hướng về đó là được nhìn thấy Thiên Chúa. Trong hành vi đơn giản ‘chiêm ngắm Thiên Chúa’ thì mọi vấn đề được giải quyết: chúng ta sẽ hạnh phúc và rồi chẳng cần thứ gì khác nữa. Nhưng thánh Bônaventura lại cho rằng cùng đích vận mạng con người là yêu mến Thiên Chúa, gặp gỡ Thiên Chúa, được nên một với Người trong tình yêu. Đối với ngài, đây là định nghĩa thoả mãn nhất về niềm hạnh phúc của con người.

Từ những dòng trên đây chúng ta cũng có thể nói rằng phạm trù ưu tiên trong tư tưởng của Tôma là chân lý, trong khi đó, phạm trù ưu tiên trong tư tưởng của thánh Bônaventura là thiện hảo. Sẽ là sai lầm nếu chúng ta cho rằng có một sự đối chọi trong hai hướng trả lời này. Đối với cả hai vị, chân lý cũng là thiện hảo và thiện hảo cũng là chân lý, chiêm ngắm Thiên Chúa cũng là yêu mến Thiên Chúa, và ngược lại, yêu mến Thiên Chúa chính là được nhìn ngắm Thiên Chúa. Thế nên, vấn đề ở đây chỉ là sự khác biệt trong lối giải thích về cùng một nhãn quan rất nền tảng nơi hai vị. Hai lối nhấn mạnh này sẽ dẫn tới việc hình thành những truyền thống khác nhau và những trường phái linh đạo khác nhau và cả hai cùng cho thấy hoa trái của đức tin: một đức tin, trong những cách diễn tả khác nhau.

Giờ đây chúng ta hãy trở lại với thánh Bônaventura. Rõ ràng thánh nhân đã đưa ra một điểm nhấn đặc biệt trong thần học của ngài, tôi chỉ xin đưa ra một ví dụ, được giải thích trên nền tảng đặc sủng dòng Phanxicô. Chàng nghèo thành Assisi, rút lui khỏi những tranh luận tri thức trong thời đại của ngài, cho thấy thánh nhân muốn dành trọn vẹn đời sống của mình cho tình yêu. Thánh Phanxicô là hình ảnh sống động của Đức Kitô, trong lòng yêu mến đối với Đức Kitô, và vì thế ngài đã làm cho hình ảnh của Thiên Chúa hiện diện sống động trong thời đại của ngài. Thánh Phanxicô không thuyết phục những người đương thời bằng lời nói, nhưng bằng chính đời sống của mình.

Trong tất cả các tác phẩm của thánh Bônaventura, kể cả những tác phẩm khoa học của ngài, chúng ta đều có thể nhận ra một nét linh đạo nào đó của thánh Phanxicô, nói cách khác, chúng ta thấy rằng tư tưởng của thánh Bônaventura thực sự khởi đi từ một cuộc hội ngộ với vị thánh nghèo thành Assisi. Tuy nhiên, để hiểu việc triển khai thực tiễn chủ đề thần học “ưu tiên cho tình yêu” này, chúng ta cũng phải biết đến một nguồn ảnh hưởng khác nữa, đó là các tác phẩm của một nhân vật mệnh danh là Pseudo-Dionysius, một thần học gia người Syria ở thế kỷ thứ VI, giấu tên dưới danh xưng Dionysius Areopagite. Khi lựa chọn danh xưng này, tác giả ngầm chỉ tới một nhân vật trong sách Công vụ Tông đồ (Cv 17,34). Nhân vật ẩn danh này tạo ra một nền thần học Phụng vụ, thần học huyền bí và đề cập rất nhiều đến các phẩm trật thiên thần. Các tác phẩm của tác giả này được chuyển dịch sang tiếng Latinh vào thế kỷ thứ IX. Vào thời của thánh Bônaventura, nghĩa là vào thế kỷ XIII, một truyền thống mới xuất hiện làm nảy sinh nhiều mối quan tâm về nhà thần học ẩn danh này, cũng như về những nhà thần học khác nữa cùng thời với ông ta. Cụ thể có hai điều đã cuốn hút sự quan tâm của Bônaventura:

1. Tác giả Pseudo-Dionysius nói về chín phẩm thiên thần, mà tên của các vị được tìm thấy trong Kinh Thánh và nhà thần học này sắp xếp theo một thứ tự rất riêng, từ phẩm trật thiên thần thấp nhất cho đến phẩm trật cao nhất là Seraphim. Thánh Bônaventura giải thích các phẩm trật thiên thần này là các bước trên con đường nhân loại trở về với Thiên Chúa. Vậy, các phẩm trật này có thể diễn tả hành trình của con người vươn tới sự hiệp thông với Thiên Chúa. Đối với thánh Bônaventura, không còn nghi ngờ gì nữa, ngài cho rằng thánh Phanxicô thuộc về phẩm trật Seraphim, là phẩm trật cao nhất, thuộc về đoàn các Seraphim, cụ thể thánh Phanxicô là ngọn lửa tình yêu thanh khiết. Và đây là điều mà các Anh Em Hèn Mọn phải cố gắng đạt được. Tuy vậy, thánh Bônaventura cũng biết rằng bước cuối cùng trong hành trình vươn đến Thiên Chúa không thể bị xen ngang bởi một trật tự pháp lý, nhưng vẫn luôn là một ân huệ đặc biệt của Thiên Chúa. Vì lý do này, cơ cấu tổ chức của dòng Anh Em Hèn Mọn khá đơn giản, có tính thực tiễn, nhưng vẫn giúp ích cho các thành viên tiến dần tới phẩm trật Seraphim với một tình yêu thanh khiết. Trước đây, tôi đã từng chia sẻ về sự tổng hợp giữa chủ nghĩa duy thực ôn hoà và lối sống Tin Mừng triệt để trong tư tưởng, hành động của thánh Bônaventura.

2. Tuy nhiên, thánh Bônaventura nhận thấy trong các tác phẩm của Pseudo-Dionysius một yếu tố khác, thậm chí còn quan trọng hơn nữa. Dù rằng đối với giáo phụ Augustinô thì trí hiểu (sự thâm hiểu), tức việc chiêm ngắm với trọn lý trí và con tim, là phạm trù cao nhất của sự hiểu biết, nhưng tác giả Pseudo-Dionysius lại đưa ra một bước khác cao hơn nữa: trong hành trình vươn lên Thiên Chúa, con người có thể đạt tới một điểm mà ở đó lý trí không còn nhìn thấy được nữa.

Nhưng, trong đêm tối của sự hiểu biết, thì tình yêu vẫn nhìn thấy. Tình yêu nhìn thấy cả những gì mà lý trí không thể nhận biết. Tình yêu vượt trên lý trí, nó nhìn thấy những gì sâu xa hơn, nó bước vào huyền nhiệm của Thiên Chúa một cách sâu sắc và mạnh mẽ. Thánh Bônaventura cảm thấy rất hứng thú với quan điểm này, kết hợp nó với linh đạo riêng của dòng Phanxicô. Chính trong đêm tối của thập giá, mà tình yêu đã xuất hiện trong những nét tỏ tường của nó, nơi mà lý trí không còn nhìn thấy nữa thì tình yêu vẫn thấu tỏ tất cả. Những lời cuối cùng trong tác phẩm Hành Trình Con Người Vươn Tới Đến Thiên Chúa có thể chỉ là một lối giải thích bóng bẩy, một cách diễn tả thái quá về lòng mộ mến đến độ trống rỗng cả nội dung. Nhưng nếu chúng ta đọc trong ánh sáng của thần học về thập giá của Bônaventura, thì tư tưởng ấy lại là một lối diễn tả sáng rõ và có tính thực tế của trường phái tâm linh dòng Phanxicô: “Nếu bạn muốn biết sự hiệp thông huyền nhiệm với Thiên Chúa diễn ra thế nào, hãy hỏi ân sủng, chứ đừng dựa vào lời chỉ dẫn, hãy hỏi lòng khát khao chứ đừng dựa vào trí hiểu, hãy hỏi những tiếng thì thầm của lời cầu nguyện thay vì bám víu vào học hành… hãy hỏi đêm tối chứ đừng hỏi sự rõ ràng, tường tận; đừng hỏi ánh sáng mà hãy hỏi ngọn lửa thiêu đốt tất cả và dẫn tới Thiên Chúa….”[11]

Tất cả những điều này vừa không ngược với sự thông hiểu vừa không ngược với lý trí: nó ngụ ý một bước tiến triển của lý trí nhưng có thể siêu vượt trên cả lý trí trong tình yêu của Đấng đã chịu đóng đinh. Với bước tiếp thu và chuyển biến quan điểm thần bí của tác giả Pseudo-Dionysius, thánh Bônaventura được xem là người đứng đầu của một trào lưu thần bí mới vĩ đại, đã củng cố và thanh tẩy tâm trí con người: đó là đỉnh cao huy hoàng trong lịch sử tâm linh của nhân loại.

Tuy thần học về thập giá nảy sinh từ cuộc tiếp xúc với tư tưởng của Pseudo-Dionysius và truyền thống tâm linh Phanxicô, nhưng chúng ta đừng quên rằng thánh Bônaventura cũng chia sẻ với thánh Phanxicô Assisi một tình yêu mãnh liệt dành cho muôn loài thụ tạo, chia sẻ cùng một niềm vui khi được chiêm ngắm vẻ đẹp công trình tạo dựng của Thiên Chúa. Về điểm này, tôi xin trích dẫn một câu trong chương thứ nhất của tác phẩm Hành Trình Của Con Người Vươn Tới Thiên Chúa: “Ai không thấy ánh hào quang của muôn loài thụ tạo, ấy là kẻ đui mù; Ai không thức tỉnh trước những tiếng hát vang reo hò, ấy là kẻ điếc lác; Ai không tán dương Thiên Chúa qua tất cả những công trình kỳ diệu ngay trước mắt, ấy là kẻ miệng câm; Ai không biết vươn tới nguyên nhân đệ nhất qua biết bao dấu hiệu như thế, ấy là một kẻ dại khờ” (I,15).

Toàn thể công trình tạo dựng đều cao rao về Thiên Chúa, nói lên sự thiện hảo, tuyệt mỹ, nói lên tình yêu bao la của Người. Đối với thánh Bônaventura, toàn thể cuộc đời chúng ta là một hành trình, một cuộc lữ hành vươn lên tới Thiên Chúa. Nhưng nếu chỉ với sức riêng của bản thân, chúng ta không thể leo lên tới Thiên Chúa. Chúng ta luôn cần Thiên Chúa đưa tay trợ giúp và kéo chúng ta lên với Người. Do vậy, cầu nguyện là hết sức cần thiết. Như thánh nhân đã nói, cầu nguyện là mẹ và là nguồn gốc của mọi hành động vươn tới Thiên Chúa - là hành động nâng chúng ta lên cao. Từ những điều đó, tôi xin kết luận bằng một lời cầu nguyện mà thánh Bônaventura đã khởi đầu trong tác phẩm “Hành Trình” của ngài. Chúng ta hãy cùng thưa lên: “Lạy Chúa xin dẫn dắt con trên đường lối Chúa, và con sẽ bước đi trong chân lý của Ngài. Nguyện cho hồn con luôn vui sướng trong niềm kính sợ Thánh Danh” (I,1).

 


[1] Epistula de tribus quaestionibus ad magistrum innominatum, in Opere di San Bonaventura. Introduzione generale, Roma 1990, p. 29.

[2] J.G.Bougerol, Bonaventura, in A.Vauchez (edited by), Storia dei santi e della santità cristiana. Vol. VI. L'epoca del rinnovamento evangelico, Milan 191, p. 91.

[3]La conoscenza di Cristo, q. 6, conclusione, in Opere di San Bonaventura. Opuscoli Teologici / 1,Rome 1993, p. 18.

[4] Hành Trình Của Con Người Vươn Tới Thiên Chúa, Dẫn Nhập, 2, in Opere di San Bonaventura. Opuscoli Teologici / 1, Rome 1993, p. 499.

[5]x. ibid., VII 6.

[6]Summa Theologiae, Ia, q. 1, art. 4.

[7]Breviloquium, Prologus, 5.

[8]Proemium in I Sent., q. 3.

[9]Letter of St Francis of Assisi to St Anthony of Padua.

[10]Proemium in I Sent., q. 2.

[11]Itinerarium mentis in Deum, VII, 6.

Catechesis.Net