• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

Kinh Nguyện Chúa Giêsu

 

Kinh Nguyện Chúa Giêsu

Phan Tấn Thành

Trích “Đời sống tâm linh”, tập V, NXB Phương Đông, Tp HCM, 2017, trang 412-434

 

“Kinh nguyện Chúa Giêsu” là một lối thực hành cầu nguyện độc đáo của các Giáo Hội Đông Phương. Chúng tôi sẽ lần lượt trình bày bốn điểm: nguồn gốc; ý nghĩa; phương pháp thực hành; phê bình.

I. Nguồn gốc

Thật không dễ bàn về lịch sử của kinh nguyện Chúa Giêsu. Xét theo hình thức được phổ biến bên Tây-Âu thì nói được là mới mẻ, gắn với việc xuất bản quyển sách Philokalia vào cuối thế kỷ XVIII; nhưng nếu xét tới các động lực phát sinh thì phải đi ngược lên thời các sư phụ sa mạc hồi thế kỷ IV, nếu chưa muốn lùi lại đến thời của Chúa Giêsu.

Sở dĩ đã có nhiều ý kiến được nêu lên về nguồn gốc của kinh nguyện Chúa Giêsu là bởi vì kinh nguyện này mang nhiều hình thức đa dạng chứ không cố định. Chúng ta hãy theo dõi lịch sử của cuộc tranh luận này.

A. Những hình thức kinh nguyện Chúa Giêsu

Xét theo nguyên ngữ Hy-lạp, “kinh nguyện Chúa Giêsu” (eukhê Iêsou) có thể hiểu theo hai nghĩa:

1/ Lời cầu nguyện của đức Giêsu, nghĩa là những lời cầu nguyện của đức Giêsu khi còn ở trần thế này (chẳng hạn như: kinh nguyện trong Vườn Cây Dầu).

2/ Lời cầu nguyện hướng đến Chúa Giêsu, nghĩa là lời kêu cầu Chúa Giêsu. Đó là ý nghĩa được hiểu ở đây (prière à Jésus). Theo một nghĩa hẹp hơn nữa, đối với tác phẩm Philokalia “kinh nguyện Chúa Giêsu” (tiếng slavic: molitva Iiusova) là một thuật ngữ đặt tên cho công thức kêu cầu: “Lạy Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa, xin thương xót con là người tội lỗi”.

Tuy nhiên, dù giới hạn vào một công thức rõ ràng như vậy, các học giả đã đưa ra nhiều ý kiến khi bàn đến nguồn gốc của nó. Thực vậy, khi nghiên cứu công thức vừa nói, người ta đã đặt ra ít là ba câu hỏi.

- Một: Công thức khẩn cầu này luôn mang tính cách cố định, hay có thể uyển chuyển? Nếu uyển chuyển thì yếu tố nào là cốt yếu (cấu thành bản chất của nó, vì thế không thể thiếu), và yếu tố nào thứ yếu (có thể thêm bớt)?

- Hai: Kinh nguyện Chúa Giêsu ra đời trong khung cảnh nào? Kinh nguyện này dùng để làm gì?

- Ba: Kinh nguyện Chúa Giêsu được đọc như thế nào? lâm râm lặp đi lặp lại, hay đọc to tiếng? Việc niệm kinh có nhất thiết gắn liền với cử điệu thân thể không?

Tuy tách ra ba câu hỏi để phân tích vấn đề, nhưng thực sự cả ba đều liên kết với nhau. Chúng tôi sẽ lưu ý đến tất cả ba khía cạnh trong khi theo dõi nguồn gốc và sự tiến triển của kinh nguyện Chúa Giêsu, bắt đầu ngay từ Tân ước.

B. Những mầm mống của việc kêu cầu Chúa Giêsu trong Tân ước

Công thức hiện đang lưu hành “Lạy Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa, xin thương xót con là người tội lỗi” gồm bởi hai vế, trích từ các bản văn Tân ước:

1/ Vế thứ nhất (“lạy đức Giêsu Con Thiên Chúa hằng sống”) là một lời tuyên xưng đức tin độc đáo của các Kitô hữu: họ nhìn nhận rằng đức Giêsu không chỉ là một thiên sai, một ngôn sứ, nhưng là “Con Thiên Chúa hằng sống” (Rm 1,4; Gl 4,4; 2Cr 1,19,vv). Công thức tuyên xưng này gặp thấy nơi ông Simon Phêrô (Mt 16,16; xc Ga 6,69), nơi bà Marta (Ga 11,27). Theo thánh Phaolô, chúng ta cần Thánh Linh nâng đỡ thì mới có khả năng tuyên xưng như vậy (1Cr 12,3)

2/ Vế thứ hai (“xin thương xót con”) là một lời khẩn nài đã gặp thấy nhiều lần trong Cựu ước, hướng lên cùng Thiên Chúa. Thánh Luca đã thuật lại cho chúng ta lời nguyện của người thu thuế trong đền thờ như sau: “Lạy Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi” (Lc 18,13). Điều mới mẻ của Tân ước là hướng lời khẩn nguyện này về Đức Giêsu. Phúc âm đã thuật lại nhiều mẫu kêu cầu thốt lên từ miệng các bệnh nhân tuy chẳng liên kết với việc tuyên xưng đức tin, chẳng hạn như người mù ở Giêricô: “Lạy ông Giêsu, con vua Đavit, xin dủ lòng thương tôi!” (Mc 10,48; Mt 20, 30; xc. 9,27), hoặc những người mắc bệnh phong hủi: “Lạy Thầy Giêsu, xin dủ lòng thương tôi!” (xc. Lc 17,13).

Đó là nguồn gốc của Kinh nguyện Chúa Giêsu xét về từ ngữ. Nhưng chúng ta cần đi xa hơn để tìm hiểu những động lực đưa đến việc kêu cầu danh Chúa Giêsu.

C. Việc kêu cầu Chúa Giêsu nơi các đan sĩ tiên khởi

Xét về từ ngữ, kinh nguyện Chúa Giêsu gồm bởi hai vế: vế đầu là tuyên xưng đức tin; còn vế thứ hai thì mang tính cách khẩn nài. Xem ra mỗi vế có một khung cảnh riêng; kể từ lúc nào hai vế được liên kết với nhau?

Các học giả đã đưa ra nhiều ý kiến khác nhau. Chúng tôi xin trích lại ý kiến của cha Tomas Spidlik, đặt khung cảnh ra đời của kinh nguyện này nơi các đan sĩ trên sa mạc, từ thế kỷ V[1], được đánh dấu bằng ba động lực: (a) canh giữ con tim, (b) cầu nguyện liên tục, (c) tâm tình thống hối.

1/ Việc canh giữ con tim giả thiết sự chống trả các tà kiến. Theo gương của đức Giêsu trong cuộc chiến đấu với ma quỷ, ông Evagrius đã khuyến khích các đan sĩ hãy dùng các câu Kinh thánh để phản bác (antírresis) những lời dụ dỗ của ma quỷ. Nhằm mục tiêu đó, ông soạn ra một tác phẩm tựa đề Antirrétikos gồm 487 câu Kinh thánh được phân phối theo tám loại tà kiến để họ sử dụng. Tuy nhiên, việc học hỏi Kinh thánh cũng như sử dụng đúng thời đòi hỏi một trình độ học thức mà không phải mọi đan sĩ đều đạt được. Vì thế, một phương thế ngắn gọn hơn là kêu cầu danh Chúa Giêsu: Danh thánh này có hiệu lực xua đuổi hết mọi cuộc tấn công của ma quỷ. Trong tiểu sử của thánh Antôn (chương 7 và 10), thánh Athanasiô cho thấy Chúa Giêsu đã đứng bên cạnh nhà tu hành này để chiến đấu với ma quỷ.

2/ Sự cầu nguyện liên tục. Các đan sĩ có thói quen niệm một công thức ngắn, nhằm nuôi dưỡng việc kết hiệp tâm trí với Chúa. Lúc đầu, họ sử dụng nhiều công thức khác nhau, nhưng dần dần các đan sĩ ở Gaza tập trung vào hai công thức chính: “xin Chúa thương xót con”, và “xin Chúa giúp đỡ con”.

3/ Tâm tình thống hối. Hành trình tu đức đòi hỏi các đan sĩ phải chống trả các đam mê và thực tập các nhân đức, nhờ vậy họ được dứt bỏ sự quyến luyến với thọ tạo, đạt tới con tim trong trắng để chiêm ngắm Chúa. Trong bối cảnh này, công thức thống hối “xin Chúa thương xót con là kẻ tội lỗi” rất thích hợp để van xin ơn thống hối có khả năng lau sạch tội lỗi, thực hành đức khiêm nhường.

Đó là ba động lực chính đưa đến sự thành hình công thức kinh nguyện Chúa Giêsu: “Lạy Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa, xin thương xót con là người tội lỗi”. Chúng ta hãy theo dõi sự phát triển của các động lực này từ nguyên thuỷ đời đan tu cho đến phong trào Philokalia.

D. Những chặng tiến triển

1/ Ngoài những bộ sưu tập danh ngôn các sư phụ trên sa mạc (Apophthegmata), chúng ta có thể ghi nhận vài chặng tiến triển của kinh nguyện Chúa Giêsu như thế này. Trước hết, các đan sĩ được nhắn nhủ hãy luôn luôn nhớ đến Thiên Chúa (mnèmè Theou: memoria Dei). Nhờ việc luôn tưởng nhớ đến Chúa, chúng ta có thể yêu mến kết hiệp với Ngài, tìm cách tuân hành ý Ngài. Ngược lại, khi chúng ta không còn nghĩ tưởng đến Chúa thì những tư tưởng xấu xa sẽ len lỏi vào đầu óc của ta. Một phương thế để luôn nhớ đến Chúa là năng lặp lại những công thức cầu nguyện vắt tắt, như lời khuyên sau đây của cha Cassianus (Collationes X,10):

Đan sĩ nào muốn tiến đến sự tưởng nhớ Thiên Chúa cách liên tục thì hãy tập năng lặp đi lặp lại thầm thĩ trong lòng công thức mà tôi sắp truyền thụ, nhờ đó họ sẽ xua đuổi các tư tưởng rối loạn gây lên nhiều xao xuyến. Đây là điều mà tôi đã học được từ các vị lão thành và truyền thụ lại cho những ai thành thực muốn học hỏi. Để duy trì được việc tưởng nhớ Thiên Chúa cách liên tục, bạn hãy luôn luôn duy trì trong tâm trí của mình công thức sau đây: “Lạy Chúa Trời, xin tới giúp con; muôn lạy Chúa xin mau phù trợ” (Tv 69,2). Việc lựa chọn câu này trong toàn bộ Kinh thánh không phải là không có lý do. Nó biểu lộ tất cả những tâm tình tự nhiên của con người, và rất thích hợp cho hết mọi hoàn cảnh và mọi cơn cám dỗ. Công thức đó gói ghém lời khẩn nài Thiên Chúa chống lại hết mọi cơn hiểm nguy, lòng khiêm tốn của lời thú nhận chân thành, sự tỉnh thức phát sinh từ thái độ chú ý và kính sợ, sự ý thức về tính mỏng dòn của chúng ta, niềm tín thác sẽ được nhậm lời, lòng xác tín sẽ nhận được sự nâng đỡ trong hiện tại và tương lai. Ai không ngừng khẩn cầu Đấng Hộ phù thì cũng chắc chắn có Ngài luôn luôn hiện diện.

Cũng trong chiều hướng đó, thánh Điađocus giám mục Photicé (+k.474) dạy các môn đệ hãy năng nhớ đến Chúa Giêsu bằng những công thức kêu nài Ngài đến giúp đỡ, chẳng hạn như: “Lạy Chúa Giêsu”. Việc lặp lại lời kêu cầu Danh Chúa có khả năng làm cho con tim gắn chặt với Ngài, để van nài lòng lân tuất và sức mạnh để chống ma quỷ. Nhiều học giả cho rằng nguồn gốc kinh nguyện Chúa Giêsu bắt đầu từ thế kỷ V với giám mục Điađocus. Một thế kỷ sau, nơi tác phẩm của Barsanuphius và Gioan Gaza, ta thấy nhiều công thức dài hơn: “Lạy Chúa Giêsu Kitô, xin thương xót con!”, “Lạy Chúa Giêsu, xin giúp con”, “Lạy Thầy Giêsu, xin che chở con và giúp đỡ con là kẻ yếu đuối”.

2/ Với thánh Gioan Climacus chúng ta thấy sự móc nối việc kêu cầu Danh Chúa với nhịp thở để đạt tới hesychia: “Hesychia hệ tại thái độ liên tục thờ lạy Chúa, luôn hiện diện với Ngài, cùng với việc tưởng nhớ Chúa Giêsu gắn liền với hơi thở” (Scala XXVII). Tác giả khuyên ta hãy cầu nguyện vắn tắt ít lời (Scala XXVIII,5,10). Cách riêng thánh Climacus cũng nói đến việc kêu cầu Danh Thánh Giêsu có sức mạnh đánh tan ma quỷ (Scala XX,7).

Ông Hesychius viện phụ Batos (k. thế kỷ VIII-IX, cũng thuộc trường phái của núi Sinai như Climacus), đặt tên cho việc kêu cầu Chúa Giêsu hòa nhịp với hơi thở là “Kinh nguyện Chúa Giêsu”. Nhờ kinh nguyện này, một cuộc đối thoại diễn ra giữa con người với Chúa Kitô: ngài đến để dạy chúng ta biết ý muốn của Chúa.

3/ Kinh nguyện Chúa Giêsu được phát triển từ thế kỷ XIII và XIV trên núi Athos với trường phái hesychasmus (các tác giả tiêu biểu: Nicephorus, Maximus Kausohalyba, Theoleptus Philadelphia, Gregorius Sinaita). Việc niệm kinh đi kèm theo khung cảnh tâm-thể-lý: căn phòng yên tĩnh, ngồi trên ghế đẩu; kiểm soát hơi thở.

Cũng trong thế kỷ XIV, nảy lên những cuộc cuộc tranh luận giữa ông Barlaam và ông Gregorio Palamas (1296-1359) về nội dung thần học và cách thức thực hành của lối cầu nguyện này, như đã trình bày ở chương Bốn.

4/ Sau khi đạo lý của thánh Palamas được chấp nhận, phương pháp hesychasmus được phát triển không những trên núi Athos nhưng còn được truyền bá rộng rãi sang các nước Slav.

- Trên núi Athos, hai ông Callistus và Ignatius (thế kỷ XIV) viết một khảo luận bàn về phương pháp thực hành hesychasmus, với những điểm căn bản như sau: a/ một căn phòng tối, để tránh cho tâm trí khỏi bị xao lãng; b/ lặp lại kinh nguyện Chúa Giêsu theo nhịp hơi thở: hai phần của kinh nguyện được phối hợp với việc thở ra (phóng lên tới Chúa) và hít vào (hồi tâm lại); c/ mỗi ngày dành ra 3 tiếng rưỡi đồng hồ: 1 tiếng vào chiều tối; nửa tiếng sau kinh tối; 1 tiếng lúc thức dậy; 1 tiếng sau khi đọc kinh sáng. Sang thế kỷ XV, việc thực hành Kinh nguyện Chúa Giêsu bị xuống dốc, và được phục hồi vào thế kỷ XVII nhờ Nicodemus Aghiorita và Macarius khi xuất bản Philokalia.

- Bên Nga, Kinh nguyện Chúa Giêsu được cổ động từ thế kỷ XV nhờ Nil Sorsjki (1433-1508), và được đẩy mạnh nhờ cuộc canh tân tinh thần vào thế kỷ XIX dưới sự lãnh đạo của Paisij Velichkovskij (1722-1794), và tiếp tục nơi Philaret Moscova (1782-1867), Ignatij Brjanchaninov (1807-1867), Theofane (Feofan Zatvornik; 1815-1894), Ivan Kronstadt (1829-1909).

Như đã nói, Kinh nguyện Chúa Giêsu được truyền bá sang Tây phương nhờ tác phẩm “Ký sự một kẻ lữ hành”[2].

II. Ý nghĩa Thần học

Tuy chỉ là một lời khẩn nài ngắn ngủi, nhưng nếu lồng trong khung cảnh ra đời của nó, chúng ta thấy nó bao hàm nhiều ý nghĩa về đạo lý đức tin cũng như về việc sống kết hợp với Thiên Chúa, tóm lại ở ba điểm như sau đây: a) kêu cầu Danh Chúa; b) cầu nguyện liên lỉ; c) cầu nguyện toàn thân.

A. Kêu cầu Danh Chúa

Công thức quen thuộc của Kinh nguyện Chúa Giêsu hiện nay là “Lạy Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa, xin thương xót con là người tội lỗi[3]. Lịch sử Kinh nguyện này còn ghi nhận nhiều công thức khác nữa, tuy nhiên thành phần cốt yếu vẫn là việc kêu cầu Danh Chúa Giêsu: “Giêsu”, “Lạy Chúa Giêsu, “Lạy Đức Giêsu Kitô”.

Trong Hội thánh tiên khởi, người Kitô không chỉ được định nghĩa như là “kẻ tin vào Chúa Giêsu” mà còn như là “kẻ kêu cầu Danh Thánh” (Cv 9,14.21; Rm 10,12-14; 1Cr 1,2; 2.22). Việc kêu cầu Danh Thánh mang nhiều ý nghĩa. Trong văn hoá Do thái, danh tánh đồng nghĩa với căn cước của một người (xc. Xh 3,14). Vì thế vịnh gia thốt lên: “ơn phù trợ chúng tôi ở nơi Danh Chúa, là Đấng dựng nên đất trời” (Tv 123,8). Ngôn sứ Gioel đã viết “Kẻ nào kêu cầu Danh Chúa thì sẽ được cứu độ” (Gl 3,5). Dựa theo tư tưởng ấy, thánh Phêrô đã khẳng định vào lúc Hội thánh vừa khai sinh: “dưới gầm trời này, không có một danh nào khác đã được ban cho nhân loại để chúng ta nhờ vào danh đó (Giêsu) mà được cứu độ” (Cv 4,12). Chúng ta đừng nên quên rằng trong tiếng Hip-ri, “Giêsu” (Jehoshua) có nghĩa là “Thiên Chúa cứu độ”.

Các Kitô hữu tiên khởi không kêu cầu Danh Chúa Giêsu như một thứ bùa chú[4]. Lời kêu cầu mang tính cách tuyên xưng đức tin với lòng trìu mến: Danh Giêsu được đi kèm theo các tước hiệu ám chỉ chức năng của Người: “Kitô nghĩa là Mesia, Chúa, Con Thiên Chúa, Đấng Cứu thế” (Pl 2,9-11).

Ngoài ra các tín hữu cũng không quên lời Chúa dạy: “không phải bất cứ ai kêu cầu ‘Lạy Chúa, lạy Chúa!’ thì đương nhiên được vào Nước Trời đâu, nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha trên trời mới được vào mà thôi” (Mt 7,21). Bởi thế lời kêu cầu Danh Chúa mang tính cách khẩn nài, xin Ngài thương thanh luyện để xứng đáng được chiêm ngưỡng nhan Chúa. Đó cũng là ý nghĩa của vế thứ hai trong kinh nguyện: “xin thương xót con là kẻ tội lỗi”. Đan sĩ muốn bắt chước người thâu thuế nói trong dụ ngôn về hai người lên đền thờ cầu nguyện. Anh ta đứng đàng xa, không dám ngước mắt lên trời nhưng vừa đấm ngực vừa thưa rằng: “Lạy Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi”. Chính thái độ khiêm tốn đó đã giúp cho anh được nên công chính trước mặt Chúa (Lc 18,14). Lời cầu khẩn này biểu lộ tất cả tâm tình thống hối penthos, một hành vi cốt yếu của hành trình tu đức.

B. Cầu nguyện không ngừng

Tác giả sách “Ký sự của một kẻ lữ hành” đã giới thiệu “Kinh nguyện Chúa Giêsu như một phương thế hiệu nghiệm để thực hành lời truyền dạy trong Tân ước “hãy cầu nguyện không ngừng” (1Tx 5,17; xc Lc 21,36). Theo ông Evagrius, Tân ước không có chỗ nào truyền cho chúng ta phải làm việc không ngừng, phải ăn chay không ngừng; mà chỉ truyền dạy phải cầu nguyện không ngừng... Tâm trí mang sẵn khuynh hướng tự nhiên muốn cầu nguyện” (Praktikos 49).

Thực ra trải qua lịch sử Kitô giáo, mệnh lệnh “cầu nguyện không ngừng” đã được thực hiện bằng nhiều đường lối khác nhau.

1/ Nhóm messaliani áp dụng câu văn của thánh Phaolô theo nghĩa đen: các đan sĩ phải là những người cầu nguyện chuyên nghiệp, cầu nguyện liên miên suốt ngày, chứ không làm việc gì khác. (Danh xưng messaliani gốc bởi tiếng syriac có nghĩa là “kẻ cầu nguyện”, tương đương với euchitai trong tiếng Hy-lạp).

2/ Nhóm acemeti ở Constantinopolis giải thích bổn phận theo một nghĩa rộng hơn, đó là áp dụng cho cộng đoàn chứ không cho từng cá nhân. Vì thế họ chia ra thành từng phiên túc trực cầu nguyện, để ngày đêm luôn luôn có người hiện diện ở thánh đường. (Trong tiếng Hy-lạp, akoimêtai có nghĩa là: “những người không ngủ”).

3/ Thánh hoá các giờ. Hai nhóm kể trên hiểu bản văn theo nghĩa đen, và đưa đến nhiều lệch lạc trong việc cầu nguyện. Các giáo phụ giải thích câu văn theo nghĩa biểu tượng, và đưa ra nhiều phương pháp khác để thực hành:

- Phương pháp cổ điển nhất của phụng vụ là cầu nguyện vào ba thời khắc chính trong ngày, dựa theo tập tục đã có từ đạo Do thái: “sáng trưa chiều, con than sầu rên rỉ” (Tv 55,17-18; Đn 6,11.14). Nhiều cộng đoàn đan tu tổ chức bảy giờ cầu nguyện dựa theo câu thánh vịnh: “Con ca tụng Chúa bảy lần mỗi ngày” (Tv 118,164)[5].

- Cầu nguyện “tên lửa”. Nếu có người cho rằng cầu nguyện bảy lần một ngày đã là nhiều rồi, thì cũng có người cảm thấy vẫn chưa đủ. Dù sao, ngoài những dịp cầu nguyện cộng đoàn, nhiều đan sĩ còn tìm cách cầu nguyện tư riêng, cách riêng bằng các câu than thở vắn tắt, nhưng có thể lặp lại nhiều lần trong ngày, để nuôi dưỡng lòng sốt mến. Thánh Augustinô gọi là cầu nguyện “phóng lao” (hoặc bắn mũi tên: quodammodo iaculatas, iaculum). Các đan sĩ đã có thói quen năng lặp lại vài câu thánh vịnh, chẳng hạn: “Lạy Chúa Trời, xin tới giúp con, muôn lạy Chúa xin mau phù trợ” (Deus in adiutorium meum intende, Domine ad adiuvandum me festina, Tv 69,2). Một lời cầu khẩn vắn tắt nữa lấy từ phụng vụ là: “xin Chúa thương xót chúng con” (Kyrie eleison).

4/ Tinh thần cầu nguyện. Ong Origène chủ trương rằng cầu nguyện không hệ tại đọc kinh cho bằng kết hợp với Thiên Chúa nhờ lòng mến. Đó là điều mà thánh Phaolô đã từng khuyến khích: “dù ăn, dù uống, hay bất cứ làm việc gì, anh em hãy làm tất cả để tôn vinh Thiên Chúa” (1Cr 10,31); “anh em có làm gì, nói gì, thì hãy làm hay nói nhân danh Chúa Giêsu và nhờ Người mà cảm tạ Thiên Chúa Cha” (Cl 3,17). Bên Tây phương, thánh Augustinô cũng nói tương tự như vậy khi phân biệt “sự cầu nguyện” và “tinh thần cầu nguyện” (Ep.130 ad Probam).

Kinh nguyện Chúa Giêsu đáp ứng những điều kiện vừa nói:

- Nhờ công thức vắn tắt, người tín hữu có thể đọc bất cứ lúc nào và ở đâu, dù khi làm việc hay nghỉ ngơi, khi ăn uống hay khi đi đường.

- Sách “Ký sự một người lữ hành” kể lại rằng đương sự được lão phụ dạy đọc kinh nguyện ba ngàn lần mỗi ngày; sau khi đã quen rồi, anh trở lại bá cáo với lão phụ, và được tăng số lên đến sáu ngàn lần mỗi ngày; rồi đến mười hai ngàn lần mỗi ngày. Kinh nguyện Chúa Giêsu trở nên như hoà với hơi thở của anh, ngấm vào thân thể của anh.

- Tuy vậy, lão phụ cho anh biết rằng đó mới là giai đoạn một, nghĩa là còn chú trọng đến việc mấp máy lời kinh trên môi miệng. Cần làm sao để kinh nguyện từ miệng chạy xuống tim nữa, nhờ đó anh ta có thể sống trong “trạng thái cầu nguyện”.

Thiết tưởng đó cũng là điều mà ông Evagrius và Cassanianus muốn nói qua các thuật ngữ “cầu nguyện tinh ròng”, “cầu nguyện liên lỉ”, khi mà con người luôn hiện diện trước mặt Chúa, trong thái độ thinh lặng chiêm ngắm.

C. Cầu nguyện toàn thân

Khi bàn về các cấp độ cầu nguyện, chúng ta thấy rằng các sư phụ tóm vào ba cấp: đi từ sự cầu nguyện “thân xác”, lên cầu nguyện “trí tuệ” và sau cùng là cầu nguyện “thần khí” (hay “con tim”). Đan sĩ cần nhắm tới việc cầu nguyện “con tim” dưới sự hướng dẫn của Thánh Linh. Con tim (thể chất) được coi như “trụ sở” của thần khí.

Tuy nhiên, đồng thời phong trào philokalia cũng đề cao việc huy động toàn thân thể vào việc cầu nguyện: sự cầu nguyện con tim cũng kèm theo những tư thế của thân xác, từ kiểu ngồi cho đến việc hô hấp.

Trong khung cảnh đối chiếu phương pháp chiêm niệm giữa Kitô giáo và các tôn giáo An độ, không thiếu người muốn giới thiệu Kinh nguyện Chúa Giêsu như một mô hình của việc cầu nguyện tâm-sinh-lý so sánh với việc toạ thiền.

III. Thực hành

Thực vậy, việc niệm Kinh nguyện Chúa Giêsu thường kèm theo nhiều cử chỉ thân thể, tuy không nhất thiết gắn liền với một động tác nào nhất định. Chúng ta thử lượt qua vài hình thức chính.

1/ Đoạn văn trở thành cổ điển được gán cho Simeon Theologus (nhưng kỳ thực có lẽ là của Nicephorus ) mà chúng tôi đã trích ở chương Bốn. Tác giả mô tả vài khung cảnh khi niệm Danh Chúa Giêsu: trong một phòng yên tĩnh, ngồi trên một ghế đẩu thấp, áp râu vào ngực, đưa mắt xuống rốn, nín thở.

2/ Sách “Ký sự một người lữ hành” thì chú trọng nhiều hơn đến việc gắn liền việc niệm kinh với nhịp thở. Đương sự được mời đọc Kinh nguyện Chúa Giêsu theo năm nhịp đập của trái tim: a) nhịp một: Lạy Chúa; b) nhịp hai: Giêsu; c) nhịp ba: Kitô; nhịp bốn: xin thương xót; e) nhịp năm: con[6].

Có người giản lược vào hai nhịp thở: a) hít vào: Lạy Chúa Giêsu Con Thiên Chúa, đem Chúa vào con tim; b) thở ra: xin thương xót con là kẻ tội lỗi, trút hết tội lỗi của chúng ta nhờ vào lòng thương xót của Chúa.

3/ Đức cha Ignatij Brjancaninov (+1867) đã thâu thập những yếu tố tâm-vật-lý mà truyền thống Philokalia đã áp dụng, gồm bảy điểm sau đây[7]:

          - một xâu chuỗi (lestovka), tức là một dây thắt nút để đếm;

          - bái sâu hoặc phủ phục (metanie);

          - nhắm mắt;

          - đặt tay trái trên ngực, gần với trái tim, để dồn nỗ lực vào tâm điểm của con người;

          - căn phòng tối, để dễ tập trung chú ý;

          - một ghế đẩu thấp. (Đây là một trừ lệ trong truyền thống Đông phương, nơi mà lúc cầu nguyện người tín hữu chỉ được phép ngồi khi bệnh tật. Trái lại, phong trào philokalia khuyến khích ngồi bởi vì nó dễ tạo ra trạng thái yên tĩnh cho tâm trí. Ngoài ra, việc ngồi ở đây cũng gợi lên hình ảnh của người mù Gêricô ngồi bên vệ đường khi kêu xin Chúa Giêsu cứu chữa).

          - kiểm soát hơi thở. Tập nín thở và thờ nhè nhẹ sẽ giúp cho việc tập trung chú ý;

          - khăn thấm nước lạnh.

4/ Đức cha Theofane đã nhận xét rằng tất cả các phương thế đó không có ích lợi cho tất cả mọi người, và cần được một lão phụ chỉ dẫn. Nói chung, ngày nay, người ta tìm cách giải thích ý nghĩa biểu tượng của các yếu tố vừa kể: chúng ta giúp cho chúng ta dễ hồi tâm, tập trung chú ý, do ảnh hưởng của thân xác đối với tinh thần. Các thế ngồi, hô hấp không phải là thành phần cốt yếu của Kinh nguyện Chúa Giêsu. Điều quan trọng hơn cả là những tâm tình không thể nào thiếu trong việc cầu nguyện: khiêm nhường, thống hối, chú ý. Việc gắn liền hơi thở với Kinh nguyện muốn nêu bật rằng ta muốn cho Chúa Giêsu trở nên hơi thở và sức sống của ta.

IV. Phê bình

Trên đây chúng ta đã theo dõi nguồn gốc và sự tiến triển của Kinh nguyện Chúa Giêsu, cũng như ý nghĩa và cách thực hành. Trước khi kết thúc chương này, chúng ta cũng nên tìm hiểu những ý kiến phê bình phương pháp hesychasmus.

Ta có thể phê bình phương pháp hesychasmus từ nhiều góc độ. Dựa theo phương pháp hiện tượng luận đối chiếu, người ta có thể so sánh lối niệm Kinh Nguyện Chúa Giêsu với các phương pháp niệm kinh trong các tôn giáo Á châu (mantra, niệm Phật). Chúng tôi đã có dịp đề cập đến điểm này trong tập IV (trang 314-326). Ở đây, chúng tôi muốn xét đến việc thực hành Kinh nguyện Chúa Giêsu đặt trong bối cảnh của truyền thống thần học Kitô giáo, tóm lại ở ba điểm: đối chiếu với đời sống kinh nguyện, đối chiếu với đời sống tâm linh, đối chiếu với toàn thể ơn gọi Kitô hữu.

A. Kinh nguyện Chúa Giêsu và đời sống kinh nguyện

Kinh nguyện Chúa Giêsu không phải là tất cả kinh nguyện Kitô giáo: một đàng Kinh nguyện Chúa Giêsu không thay thế cho kinh nguyện phụng vụ; đàng khác, Kinh nguyện Chúa Giêsu đòi hỏi một sự tiến triển về đời sống cầu nguyện.

1/ Kinh nguyện Chúa Giêsu không thay thế kinh nguyện phụng vụ. Bên các Giáo Hội Đông phương, phụng vụ giữ vai trò trọng yếu, cách riêng là Thánh Thể. Việc cử hành phụng vụ long trọng muốn nêu bật tính cách cánh chung của Kitô giáo: cộng đoàn Giáo hội đang nếm hưởng phần nào hạnh phúc của các thánh nhân và thiên sứ được hầu cận và chiêm ngưỡng nhan Chúa.

Ngoài phụng vụ Thánh Thể, các đan sĩ còn tham dự vào phụng vụ giờ kinh. Điều đáng lưu ý, là bên Đông phương, không có sự phân biệt rõ rệt giữa “kinh nguyện công” và nguyện “tư”. Vì thế, không có gì khó khăn để nhìn nhận giá trị phụng vụ của Kinh nguyện Chúa Giêsu. Một cách cụ thể, nhiều đan sĩ (cách riêng các ẩn sĩ) đã niệm Kinh nguyện Chúa Giêsu thay cho các giờ kinh phụng vụ: 100 lần thay cho kinh chiều, 25 lần thay cho kinh tối, 100 lần thay cho kinh đêm, 300 lần thay cho kinh sáng[8]. Sự thay thế này cũng được áp dụng cho những người không biết chữ hoặc những người đau yếu bệnh tật.

2/ Tuy nhiên, chúng ta không được phép quên rằng việc thực hành Kinh nguyện Chúa Giêsu cũng có cấp độ, dựa theo ba cấp của việc cầu nguyện nói chung: từ việc đọc ngoài miệng (hoặc lâm râm, hoặc to tiếng, hoặc hát); tiến đến việc suy gẫm ý nghĩa lời kinh; cuối cùng thấm vào tim để tỏa lan ra khắp cuộc sống. Khi việc niệm Danh Chúa Giêsu trở nên nhịp tim đập thì có nghĩa là Chúa Giêsu trở nên lẽ sống của người tín hữu, như thánh Phaolô viết: “Tôi sống, nhưng không còn là tôi nữa, nhưng Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20).

Nói khác đi, Kinh nguyện Chúa Giêsu không thể chỉ giới hạn vào việc lặp đi lặp lại một công thức. Nó đòi hỏi một sự huấn luyện lâu dài về sự cầu nguyện: từ việc đọc kinh ngoài miệng, đến việc suy gẫm những lời kinh đọc; từ chỗ cầu nguyện bằng lời đến chỗ cầu nguyện không lời. Kinh nguyện Chúa Giêsu được gọi là “lời nguyện con tim” bởi vì không còn dùng lời nói hoặc ý niệm trong việc gặp gỡ Chúa, nhưng là xuống đến nơi thẳm sâu của mình để ở lại với Chúa.

B. Kinh nguyện Chúa Giêsu và đời sống tâm linh

Kinh nguyện Chúa Giêsu đòi hỏi một sự huấn luyện về sự cầu nguyện, và lại càng đòi hỏi sự huấn luyện về đời sống sống tâm linh nói chung. Thực ra có một sự liên hệ hỗ tương giữa hai bên, như phong trào hesychasmus muốn nêu bật: Kinh nguyện này giúp chúng ta đạt tới hesychia và đồng thời đòi hỏi chúng ta đã thủ đắc một mức độ hesychia nào đó.

1/ Mặc dù các đan sĩ có thể niệm kinh bất cứ ở đâu và lúc nào, nhưng họ cũng được khuyến khích hãy dành vài thời khắc trong ngày cho việc niệm kinh: ngồi yên, trong căn phòng tĩnh mịch, dồn chú ý vào con tim. Những hoàn cảnh này chắc chắn sẽ tạo ra một thứ yên tĩnh trong toàn thân con người.

2/ Đối lại, việc thực hành hesychasmus đòi hỏi một tiến trình tu đức cam go, cốt để dập tắt các đam mê dục vọng, cũng như thái độ tỉnh thức chú ý, tức là tiến trình khổ chế (praxis) đã được bàn trong chương trước.

Dù sao, chúng ta cũng đừng nên quên rằng Kinh nguyện Chúa Giêsu là một lời khẩn nài thương xót. Có lẽ các thánh nhân trên trời sẽ không khẩn nài xin ơn tha thứ nữa; còn những tín hữu lữ hành như chúng ta thì luôn luôn cần van xin lòng thương xót tha thứ. Kinh nguyện Chúa Giêsu bắt nguồn từ tâm tình khiêm tốn thống hối, và được nuôi dưỡng bằng tâm tình đó.

C. Kinh nguyện Chúa Giêsu và đời sống đạo

Kinh nguyện Chúa Giêsu giúp chúng ta duy trì tình trạng cầu nguyện, luôn sống kết hiệp với Thiên Chúa. Kinh nguyện Chúa Giêsu giúp chúng ta chú trọng đến “con tim” trong đời sống: chúng ta đừng để cho tâm trí bị quyến rũ bởi những vẻ hào nhoáng bên ngoài, nhưng hãy đi tìm điều cần thiết duy nhất.

Vài tác giả nói đến những cảm nghiệm đặc biệt có thể nhận được do việc niệm Kinh nguyện Chúa Giêsu (sức nóng, ánh sáng). Tuy nhiên, đó không phải là công hiệu trực tiếp. Những hoa trái của Thánh Linh không hẳn là cảm giác lâng lâng, nhưng là “bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hoà, tiết độ” (Gl 5, 22-23). Tác giả cuốn “Ký sự một kẻ lữ hành” thuật lại như sau: “Nếu ai xúc phạm đến tôi, thì tôi chỉ cần nhớ đến sự êm ái của kinh nguyện Chúa Giêsu: thế là mọi sỉ nhục và giận hờn đều tan biến hết. Tôi chẳng còn bận tâm hoặc tha thiết gì nữa hết”.

Thực vậy, nói cho cùng, khi trở về với con tim, chúng sẽ gặp gỡ Thiên Chúa, không phải một Thiên Chúa như là Hữu thể Tuyệt đối, nhưng là Thiên Chúa Tình Yêu. Khi con tim chúng ta được thanh luyện để không còn bị tính ích kỷ (ái kỷ: philautia) khống chế, thì chúng ta sẽ được tràn ngập bởi Tình Yêu lân tuất, và nhờ đó con tim chúng ta cũng mở rộng giống như Tình Yêu đó. Đoạn văn sau đây của thánh Isaac Ninive giải thích về “con tim thanh tịnh” có thể giúp ta hiểu được điều ấy[9]:

Nói tóm lại, thanh tịnh là gì? Có nghĩa là con tim đồng cảm với vạn vật. Con tim đồng cảm là gì? Đó là ngọn lửa cháy bừng hướng về muôn loài, loài người, chim chóc, động vật, ma quỷ, đến hết mọi vật. Mỗi khi nghĩ đến hay trông nhìn các vật, con người cảm thấy cặp mắt đẵm lệ vì lòng cảm thông trào dâng trong con tim. Con tim của họ trở nên hiền dịu, và xót xa mỗi khi thấy bất cứ thọ tạo nào còn bị thiệt thòi hay thống khổ. Vì thế lời cầu của họ, chan hoà với nước mắt, bao trùm cả những loài vô tri giác cũng như những kẻ thù của chân lý, những kẻ gây ra đau khổ cho mình, để xin Chúa dủ thương gìn giữ và thanh luyện tất cả. Họ cầu nguyện cho loài ma quỷ nữa, do lòng trắc ẩn thương xót đối với chúng. Bạn cho biết khi nào một người đạt tới trình độ trái tim thanh tịnh không? Khi nào mà họ coi tất cả mọi người đều tốt lành, không còn thấy ai bẩn thỉu nhơ nhớp nữa. Vì thế, tôi muốn khuyên bạn một điều: bạn hãy để đặt lòng lân tuất của Chúa trên đĩa cân của bạn, làm thế nào để bạn hoà đồng được với lòng lân tuất mà Chúa dành cho hết mọi người.

 


[1]Spidlik II, chương 10, trang 402-429; xc. M. Brunini, sách đã dẫn trang 124-177.

[2]Trong số những tác phẩm tiên phong giới thiệu lịch sử và ý nghĩa của Kinh nguyện Chúa Giêsu phải kể đến: I. Hausherr, Noms du Christ et voies d’oraison, Rome 1960. Un moine de l’Eglise d’Orient (Lev Gillet), La prière de Jesus, Chevretogne 1947. E. Behr-Sigel, La prière de Jésus ou le Mystère de la spiritualité monastique orthodoxe, in “Dieu vivant” n.8 (1947) pp.69-94.

[3] Kinh nguyện này cũng được nhắc đến trong Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo số 2666-2668; xc.số 2616:”Jesus Christ, Fils de Dieu, Seigneur, aie pitié de moi, pécheur”; “Lord Jesus Christ, Son of God, have mercy on me, a sinner”..

[4]Cũng nên biết rằng, các Kitô hữu không những “kêu cầu Danh Chúa Giêsu”, mà còn cầu xin Chúa Cha “nhân danh Chúa Giêsu” (Ga 14,13-14; 16,23-24)

[5]Xc. Về Nguồn, tập II trang 217; tập III trang 301; tập IV trang 709-711.

[6]Nên biết là trong tiếng Hy-lạp, kinh này chỉ có 5 từ: Kyrie Iesou Xhriste, eléeson me.

[7]O molitve Iisusovoj, S.Petersburg 1867 (dịch sang tiếng Pháp: Approches de la prière de Jésus, Bellefontaine 1983), xc. Spidlik II, trang 415-426.

[8]Spidlik II, trang 413.

[9]Isaac Niniveh, Hom.74, trích dẫn ở Placide Deseille, La spiritualità ortodossa e la Filocalia, Borla Roma 2000, tr.163.

Catechesis.Net