• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

Lc 20,27-38: Thiên Chúa Là Thiên Chúa Của Kẻ Sống

Lm. FX. Vũ Phan Long, OFM.

 

Bản Văn Tin Mừng: Lc 20,27-38 [1]

27 Có mấy người thuộc nhóm Xa-đốc đến gặp Đức Giê-su. Nhóm này chủ trương không có sự sống lại. 28 Mấy người ấy hỏi Đức Giê-su: “Thưa Thầy, ông Mô-sê có viết cho chúng ta điều luật này: Nếu anh hay em của người nào chết đi, đã có vợ mà không có con, thì người ấy phải lấy nàng, để sinh con nối dòng cho anh hay em mình. 29 Vậy nhà kia có bảy anh em trai. Người anh cả lấy vợ, nhưng chưa có con thì đã chết. 30 Người thứ hai, 31 rồi người thứ ba đã lấy người vợ goá ấy. Cứ như vậy, bảy anh em đều chết đi mà không để lại đứa con nào. 32 Cuối cùng, người đàn bà ấy cũng chết. 33 Vậy trong ngày sống lại, người đàn bà ấy sẽ là vợ ai, vì cả bảy đều đã lấy nàng làm vợ?”.

34 Đức Giê-su đáp: “Con cái đời này cưới vợ lấy chồng, 35 chứ những ai được xét là đáng hưởng phúc đời sau và sống lại từ cõi chết, thì không cưới vợ cũng chẳng lấy chồng. 36 Quả thật, họ không thể chết nữa, vì được ngang hàng với các thiên thần. Họ là con cái Thiên Chúa, vì là con cái sự sống lại. 37 Còn về vấn đề kẻ chết trỗi dậy, thì chính ông Mô-sê cũng đã cho thấy trong đoạn văn nói về bụi gai, khi ông gọi Đức Chúa là Thiên Chúa của tổ phụ Áp-ra-ham,Thiên Chúa của tổ phụ I-xa-ác, và Thiên Chúa của tổ phụ Gia-cóp. 38 Mà Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống, vì đối với Người, tất cả đều đang sống”.

***

1.- Ngữ cảnh

Cho đến đây, chúng ta chưa hề nghe nói đến người Sadoc trong Tin Mừng Luca. Nay những người này đến gặp Đức Giêsu để điều tra về giáo huấn của Người. Họ đặt câu hỏi dựa trên “luật thế huynh” để xem Đức Giêsu nghĩ gì về việc kẻ chết sống lại. Nhưng trong giai thoại trước đó (Lc 20,20-26),[2] Đức Giêsu giải quyết vấn nạn kiểu “giải nghi” theo cách bất ngờ, khiến cho các kinh sư cũng phải thán phục. Gọi là “giải nghi”, vì ở đây câu hỏi được đặt ra không nhắm đến bản thân Đức Giêsu hoặc tương quan của Người với giới chức Giêrusalem. Câu hỏi chỉ mang tính lý thuyết, mà rất có thể thường được người Sadoc đặt ra trực tiếp cho người Pharisee.

Tác giả Luca lấy bản văn này (đặc biệt các câu 27-43a.37.38a) chủ yếu từ Tin Mừng Mc 12,18-27,[3] nhưng thỉnh thoảng hiệu chỉnh lại bằng tiếng Hy Lạp để cho trau chuốt hơn.

2.- Bố cục

Bản văn có thể chia thành ba phần:

     1) Mở đầu (20,27);

     2) Vấn nạn của nhóm Sadoc (20,28-33);

     3) Câu trả lời của Đức Giêsu (20,34-38):

          a) Lập luận của chính Đức Giêsu (câu 34-36),

          b) Nền tảng Kinh Thánh của sự sống lại (câu 37-38).

3.- Vài điểm chú giải

- Sadoc (27): Tên Hy Lạp “Saddoukaioi” (Saddouk trong Bản Kinh Thánh LXX) nói lên liên hệ với tên riêng Hippri “Sadôq” (2Sm 8,17; Ed 40,46; 43,19).[4] Con cháu của ông Sadôq được đặc ân là phục vụ Đền Thờ trong tư cách tư tế sau khi hồi hương từ đất lưu đày Babylon. Họ làm thành một đảng chính trị–tôn giáo trong Do Thái giáo kể từ thế kỷ II TCN đến khi Giêrusalem thất thủ vào năm 70 sau CN. Đa số thuộc về giới quý tộc tư tế ở Giêrusalem.

Đối lại với người Pharisee, họ có một cách giữ Luật tự do hơn; họ thích ứng dễ hơn với phong trào hy-hóa của dòng họ Sêlêukhô; họ cũng dễ thỏa hiệp với người Rôma hơn. Tuy nhiên, họ vẫn thuộc về giới lãnh đạo Do Thái giáo. Họ chỉ chấp nhận Bộ Ngũ Thư là bản văn mô phạm. Họ chuộng cách giải thích sát mặt chữ; cũng vì thế, họ có khuynh hướng bảo thủ về phụng vụ (không chấp nhận những quy định mới mà người Pharisee đưa vào, chẳng hạn các nghi thức ngày Lễ Xá Tội) cũng như về mặt giáo thuyết (họ thiên về duy vật, không chấp nhận có các thiên thần, phủ nhận sự sống lại).

- Phải lấy nàng, để sinh con nối dòng cho anh hay em mình (28): Loại hôn nhân này được gọi là “thế huynh” (Anh: levirate) do từ Latin “levir”, có nghĩa là “anh/em của chồng, anh/em rể”. Một hôn nhân như thế không bị coi là vi phạm lề luật Lv 18,16; 20,21,[5] vì người anh/em đã chết.

- Ngang hàng với các thiên thần (36): Từ ngữ “isangelos” do hai từ Hy Lạp “isos” [“ngang hàng; giống như”] + “angelos” [“thiên thần”] ghép lại với nhau.

4.- Ý nghĩa của đoạn văn

* Mở đầu (27)

Hết nhóm này đến nhóm khác, những nhóm có thế lực nhất, đến gặp Đức Giêsu để đặt ra cho Người những câu hỏi. Những người Sadoc cũng đến. Cho đến nay, Tin Mừng thứ III chưa hề nói đến phái này. Họ là những người giàu theo một tôn giáo truyền thống. Họ cộng tác với chính quyền, nên dân chúng không ưa họ. Các thượng tế đều thuộc phái này.

Tác giả Luca xác định ngay rằng, họ không tin vào sự sống lại. Quả thật, họ thường tranh cãi với người Pharisee về sự sống lại của kẻ chết. Người Pharisee tin vững vào sự sống lại, còn người Sadoc thì cực lực phủ nhận (là những người giàu, họ có thể thụ hưởng thiên đàng ngay tại trần gian này). Trên cái “phông” này, độc giả hiểu câu truyện họ kể cho Đức Giêsu.

* Vấn nạn của nhóm Sadoc (28-33)

Từ những gì Đức Giêsu nói, người Sadoc nhận ra rằng, Người đồng ý với phái Pharisee: Người tin vào cuộc sống vĩnh cửu. Thế là họ ngỏ lời với Đức Giêsu như với một vị thầy để Người dạy cho biết cách giải thích một quy định của Luật Moses. Họ đã tổng hợp Đnl 25,5 và St 38,8 để gợi lại quy định về những cuộc hôn nhân thế huynh.[6] Tập tục các cuộc hôn nhân này (một người anh/em rể phải sinh con nhờ kết hôn với người vợ góa của em/anh mình, hầu có con nối dõi cho người quá cố) rất phổ biến bên Cận Đông thời cổ (với người Átsua, Híttít, Canaan chẳng hạn; Có thể xem R 4,1-12).[7]

Dưới ánh sáng của quy định này, người Sadoc tạo ra một nố và hỏi Đức Giêsu để xem Người sẽ đưa ra câu trả lời nào, hoặc một câu trả lời hài hòa với việc họ phủ nhận sự sống lại của kẻ chết hoặc một câu trả lời hài hòa với niềm tin phổ biến hơn nơi dân gian về sự sống lại (theo người Pharisee và có thể người Êxêni). Nố đó như sau: Một người phụ nữ đã kết hôn với cả bảy người đàn ông, không chỉ về pháp lý, nhưng còn sống đúng theo Luật Moses. Vậy cứ cho đi là có việc kẻ chết sống lại, người Sadoc rất muốn biết là người phụ nữ ấy thuộc về ai. Bà không thể cùng một lúc thuộc về cả bảy ông; nhưng ta cũng không thể thấy ai trong số bảy ông có quyền trên bà hơn. Vấn đề dường như bế tắc, không có giải pháp. Câu truyện có ý nhắm cho thấy rằng sự sống lại của kẻ chết sẽ tạo ra những tình huống phi lý, lố bịch nữa, nên không thể tin là có sống lại được.

* Câu trả lời của Đức Giêsu (34-38)

Phần đầu của câu trả lời (câu 34-36) của Đức Giêsu là để đánh đổ tiền đề của người Sadoc cho rằng cuộc sống của thời sẽ đến là cuộc sống này nối dài. Người nhấn mạnh rằng hôn nhân là một định chế của “đời này”: bởi vì người ta sẽ chết, nên hôn nhân được thiết lập hầu nhân loại tồn tại được. Nhưng trong “đời kia”, khi người ta không chết nữa, họ “giống các thiên thần”, họ trở thành “con cái Thiên Chúa”“đạt được sự sống lại”, thì không còn chuyện cưới vợ lấy chồng nữa. Như thế, câu hỏi của người Sadoc cho thấy họ hiểu lầm.

Qua các câu 34-36, Đức Giêsu không giải thích Kinh Thánh, nhưng nhắm điều chỉnh ý tưởng sai lạc người Sadoc đã có về đời sau, Người cũng không giải thích giáo huấn của phái Pharisee về sự sống lại. Nhóm Sadoc đã hiểu lầm rằng cuộc sống tương lai chỉ là một nối tiếp cuộc sống trần thế; nhưng hoàn toàn không phải thế! Sự sống lại không phải chỉ là thức dậy từ ngôi mộ và lấy lại cuộc sống trước kia. Cuộc sống của chúng ta với Thiên Chúa hoàn toàn khác với cuộc sống hiện nay. Cuộc sống với Thiên Chúa sẽ như thế nào, chúng ta không biết. Điều này giống như một đứa bé còn đang ở trong lòng mẹ, nó không có một ý niệm nào về cuộc sống đang đến, thì chúng ta cũng chẳng thể hình dung ra cuộc sống sau này sẽ như thế nào.

Phần thứ hai của câu trả lời (câu 37-38) là một khẳng định về sự thật của sự sống lại. Đức Giêsu thêm một luận cứ lấy từ Ngũ Thư: Người nại đến bản văn Xh 3,2.6,[8] trong đó Đức Chúa (YHWH) hiện ra với Moses tại núi Khôrép, và tự xưng là Thiên Chúa của các tổ phụ đã chết từ lâu. Bởi vì Thiên Chúa là Thiên Chúa của kẻ sống, Thiên Chúa hẳn là đã giữ cho các tổ phụ Abraham, Isaác và Giacóp được sống bằng cách cho các ngài sống lại.

Thêm vào luận cứ nói về sự sống lại, tác giả nêu một luận cứ về sự bất tử ở câu 38b: “đối với Người, tất cả đều đang sống” (rất giống với công thức ở 2Mcb 7,1-9).[9] Thiên Chúa đã thông giao với loài người trước tiên không phải là nhờ các luật lệ, theo cách chung chung, không riêng tư với ai, nhưng Ngài đã ngỏ lời với tổ phụ Abraham, Isaác và Giacóp theo cách riêng tư và gắn kết. Lòng nhân lành của Ngài không chỉ tạm thời, nhưng vĩnh viễn; không quy phục sự chết, bởi vì là lòng nhân lành của Thiên Chúa toàn năng và tự nó có nghĩa là sự sống. Nếu không phải như thế, hẳn là Moses, và sau ngài là mọi người Do Thái khác, đã gọi Ngài là Thiên Chúa của kẻ chết!

Thật ra lập luận đến đây cũng đã đủ. Nhưng để có những đoạn văn minh nhiên nói về sự sống lại, chúng ta phải đi xa hơn, đến với sách Đanien và sách Khôn ngoan, trong đó có bàn đến niềm tin của người Do Thái vào cuộc sống bên kia cõi chết. Những người công chính đi vào trong “sheôl”, họ không hề hạnh phúc, cuộc sống của họ vẫn mang tính bất toàn. Xưa nay họ đã sống theo thánh ý Thiên Chúa, nên đời sống của họ kêu nài một phần thưởng, mong Thiên Chúa đến kéo linh hồn họ ra khỏi “sheôl”, để ban cho họ một đời sống mới hoàn hảo hơn. Đời sống này được ban cho họ vào ngày sống lại, họ có tồn tại ở bên kia cái chết là để sống lại. Thiên Chúa đã tạo thành con người để cho con người được sống đời đời. Chính do ma quỷ ghen tị mà cái chết đã đột nhập vào thế gian (x. Kn 2,23-24).[10] Tuy nhiên, hẳn là ý định của Thiên Chúa không thể nào lại bị triệt tiêu mãi mãi do sự can thiệp của ma quỷ. Vậy con người lại có quyền bất tử; và cách biểu lộ sự bất tử ra tốt đẹp nhất, là sự sống lại (x. Đn 12,2).[11]

+ Kết luận

Để biến giáo huấn của Đức Giêsu thành trò cười, người Sadoc đã tạo ra một câu truyện khiến chúng ta phải kinh ngạc, nhưng truyện rất có cơ sở vì phát xuất từ một giáo huấn luân lý hoàn toàn chính xác của Lề Luật. Tuy nhiên, câu truyện này chẳng những đã không làm cho Đức Giêsu phải lúng túng, mà còn cho Người cơ hội tuyên bố về sự sống lại, và như thế, Tin Mừng về Nước Thiên Chúa lại càng trở nên sáng tỏ.

Chúng ta có thể tưởng tượng ra chăng Thiên Chúa tạo ra người nam người nữ, ký kết giao ước với họ, hứa cho họ nhiều điều, bảo vệ họ khỏi kẻ thù hãm hại, trở thành bạn của họ, rồi bỗng dưng lại bỏ rơi họ và biến mất? Nếu Ngài làm như thế, Ngài chỉ đáng khinh mà thôi. Nhưng Đức Giêsu nói rằng, Thiên Chúa không phải là một Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là một Thiên Chúa của người sống. Mọi người nhận được sự sống từ nơi Ngài.

Một lần nữa, Tin Mừng này lại tỏ ra là Tin Mừng về sự sống. Nhưng Đấng nói vừa nhẹ nhàng vừa chắc chắn về sự bất tử dành cho các thánh sẽ sống lại trong Chúa (x. Ga 11,25-26)[12] cũng chứng tỏ rằng Người đang có nơi mình bí quyết của sự sống vĩnh cửu ấy.

5.- Gợi ý suy niệm

1. Đối với người Sadoc, Thiên Chúa là một vì Thiên Chúa của những quy định pháp lý và là một vì Thiên Chúa có quyền năng đã bị cạn kiệt khi tạo dựng thực tại trần gian như hiện có. Đấy là những tiền giả định mà Đức Giêsu không chấp nhận. Họ coi Thiên Chúa như là Đấng đã ban cho dân Israel một loạt những giới luật nhằm bảo đảm cho họ một cuộc sống tốt lành và trật tự trên mặt đất này. Ngược lại, đối với Đức Giêsu, Thiên Chúa trước khi là Thiên Chúa của các quy định, là Thiên Chúa của lòng nhân lành luôn chiếu cố đến từng con người, hướng dẫn, săn sóc từng con người. Thiên Chúa không liên hệ với con người trước tiên bằng luật lệ, nhưng bằng lòng nhân ái tỏ ra với các tổ phụ. Thiên Chúa không chỉ săn sóc các ngài trong một thời gian ngắn để rồi sau đó bỏ mặc cái ngài trong cái chết. Đã được Thiên Chúa cúi mình xuống trên mình với lòng nhân ái, con người mãi mãi được nhắm cho sống, bởi vì Thiên Chúa là Thiên Chúa của kẻ sống.

2. Đức Giêsu không mô tả cuộc sống tương lai; Người chỉ nói rằng trong cuộc sống tương lai, người ta không cưới vợ lấy chồng nữa, người ta sống như các thiên thần. Đức Giêsu không hạ cái màn xuống, không cho bất cứ cặp mắt phàm nhân nào được nhìn sang thế giới bên kia. Người không thỏa mãn óc tò mò của con người khi cho biết các chi tiết của đời sống tương lai, Người chỉ giúp con người chú ý tới nền tảng của đời sống ấy: về phía Thiên Chúa, đó là lòng nhân ái của Ngài đối với từng con người, tình yêu của Ngài đối với loài người và quyền năng của Ngài; về phía loài người, đó là quan niệm đúng đắn về Thiên Chúa, đức tin đặt nơi tình yêu và quyền năng của Ngài. Như vậy, cái nhìn của chúng ta không được nhắm tìm ra một phương diện nào đó của cuộc sống tương lai, nhưng là hướng đến Đấng ban tặng và đảm bảo cho đời sống này.

3. Bề ngoài, người Sadoc và Đức Giêsu nói về cùng một vì Thiên Chúa. Trong thực tế, họ quan niệm Thiên Chúa là một Đấng Tạo hóa và Nhà lập pháp lạnh lùng, đã nói tiếng nói cuối cùng khi bố trí thế giới hiện tại và khi ban Luật Moses. Đối với Đức Giêsu, Thiên Chúa không kéo con người ra từ hư vô để rồi lại đẩy nó rơi vào hư vô. Ai đã được Thiên Chúa gọi đi tới sự sống, thì được Ngài nhắm cho đạt tới sự sống đời đời. Đối với chúng ta, mọi sự tùy thuộc Thiên Chúa. Số phận chúng ta tùy thuộc Ngài là ai, và là ai đối với loài người.

4. Ngày hôm nay, niềm tin vào sự phục sinh dường như vẫn đang bị coi là chuyện lố bịch, nhưng các luận điểm đưa ra để phi bác thì khác, chẳng hạn: Tìm ra đâu chỗ cho vô số người như thế? Rồi họ sẽ làm gì?… Rốt cuộc các luận cứ đều tương tự vấn nạn của người Sadoc: người ta lấy điểm tựa là trí tưởng tượng của con người, chứ không quan tâm đến quyền năng và tình yêu của Thiên Chúa. Nếu mỗi người hiểu và tin chắc rằng, “đối với tôi, Ngài là Thiên Chúa của đời sống bất tử của tôi”, hẳn thế giới sẽ có một chứng từ trong sáng về Thiên Chúa.

5. Cầu nguyện cho người qua đời là việc chính đang, nhưng phải được hiểu đúng đắn, tức là hiểu phù hợp với niềm tin của chúng ta vào cuộc sống vĩnh cửu và vào sự hiệp thông các thánh. Các lời chúng ta cầu nguyện cho người quá cố được đặt nền tảng trên sự chắc chắn là sự sống lại của Đức Kitô đã gỡ hết mọi rào cản ngăn cách người sống với kẻ chết; bây giờ chỉ còn một gia đình duy nhất. Là những người còn đang sống, chúng ta giống như các em bé đang còn ở trong lòng mẹ chờ được sinh ra, còn những người qua đời thì đã vào trong cuộc sống mới của họ rồi, nhưng chúng ta được liên kết với họ. Điều này, chúng ta sống trong mỗi thánh lễ.

 

 

 

 


[1] Bản Kinh Thánh Việt ngữ của nhóm Phụng Vụ Các Giờ Kinh

[2] Lc 20,20-26: 20 Họ rình rập và sai một số người giả bộ công chính đến dò la, mong bắt quả tang Đức Giê-su lỡ lời, để nộp Người cho nhà chức trách có thẩm quyền là tổng trấn. 21 Những người này hỏi Đức Giê-su rằng: “Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy nói và dạy một cách thẳng thắn, không thiên vị ai, nhưng theo sự thật mà dạy đường lối của Thiên Chúa. 22 Vậy, chúng tôi có được phép nộp thuế cho Xê-da hay không?” 23 Nhưng Đức Giê-su thấu suốt lòng xảo trá của họ, nên Người nói: 24 “Cho tôi coi một quan tiền! Quan tiền này mang hình và danh hiệu của ai đây?” Họ đáp: “Của Xê-da”. 25 Người bảo họ: “Thế thì của Xê-da, trả về Xê-da; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa”. 26 Họ không tài nào bắt quả tang Người lỡ lời trước mặt dân; nghe câu trả lời của Người, họ ngạc nhiên và làm thinh luôn.

[3] Mc 12,18-27: 18 Có những người thuộc nhóm Xa-đốc đến gặp Đức Giê-su. Nhóm này chủ trương không có sự sống lại. Họ hỏi Người: 19 “Thưa Thầy, ông Mô-sê có viết cho chúng ta rằng: “Nếu anh hay em của người nào chết đi, để lại vợ mà không để lại con, thì người ấy phải lấy nàng, để sinh con nối dòng cho anh hay em mình”. 20 Vậy có bảy anh em trai. Người thứ nhất lấy vợ, nhưng chết đi mà không để lại một đứa con nối dòng. 21 Người thứ hai lấy bà đó, rồi cũng chết mà không để lại một đứa con nối dòng. Người thứ ba cũng vậy. 22 Cả bảy người đều không để lại một đứa con nối dòng. Sau cùng, người đàn bà cũng chết. 23 Trong ngày sống lại, khi họ sống lại, bà ấy sẽ là vợ của ai trong số họ? Vì bảy người đó đã lấy bà làm vợ”. 24 Đức Giê-su nói: “Chẳng phải vì không biết Kinh Thánh và quyền năng Thiên Chúa mà các ông lầm sao? 25 Quả vậy, khi người ta từ cõi chết sống lại, thì chẳng còn lấy vợ lấy chồng, nhưng sẽ giống như các thiên thần trên trời. 26 Còn về vấn đề kẻ chết trỗi dậy, các ông đã không đọc trong sách Mô-sê đoạn nói về bụi gai sao? Thiên Chúa phán với ông ấy thế nào? Người phán: Ta là Thiên Chúa của Áp-ra-ham, Thiên Chúa của I-xa-ác, và Thiên Chúa của Gia-cóp. 27 Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là của kẻ sống. Các ông lầm to!”.

[4] 2Sm 8,17: 17 Ông Xa-đốc, con ông A-khi-túp, và ông A-khi-me-léc con ông Ép-gia-tha, làm tư tế. Ông Xơ-ra-gia làm ký lục.

Ed 40,46; 43,19: 46 Còn phòng quay về phía bắc thì dành cho các tư tế chuyên lo phục vụ bàn thờ. Họ là con cái ông Xa-đốc thuộc dòng họ ông Lê-vi, những kẻ được đến gần ĐỨC CHÚA để phục vụ Người. 43 19 Ngươi hãy trao một con bò tơ làm hy lễ tạ tội cho các tư tế Lê-vi, thuộc dòng họ Xa-đốc, là những người đến gần Ta để phục vụ Ta, sấm ngôn của ĐỨC CHÚA là Chúa Thượng.

[5] Lv 18,16; 20,21: 16 Ngươi không được lột trần chỗ kín của chị em dâu ngươi: đó là chỗ kín của anh em ngươi. 20 21 Khi người đàn ông nào lấy chị dâu hay em dâu mình, thì đó là một điều nhơ nhớp; nó đã lột trần chỗ kín của anh em nó, chúng sẽ không có con cái.

[6] Đnl 25,5: 5 Khi có những anh em ở chung với nhau, và một trong những người đó chết mà không có con trai, thì vợ của người chết không được lấy một người xa lạ, ngoài gia đình; một người anh em chồng sẽ đến với nàng, lấy nàng làm vợ và chu toàn bổn phận của một người anh em chồng đối với nàng.

St 38,8: 8 Ông Giu-đa bảo Ô-nan: “Con hãy ăn ở với chị dâu con, hãy chu toàn nhiệm vụ của một người em chồng, và làm cho anh con có người nối dõi”.

[7] R 4,1-12: 1 Ông Bô-át lên cửa thành và ngồi ở đó. Và này, người bảo tồn dòng dõi mà ông Bô-át đã nói tới, đi ngang qua. Ông Bô-át nói: “Này ông ơi, mời ông đến và ngồi xuống đây”. Người ấy đến và ngồi xuống. 2 Ông Bô-át chọn lấy mười người trong số các kỳ mục của thành và nói: “Mời các ông ngồi lại đây”. Họ ngồi xuống. 3 Ông nói với người bảo tồn dòng dõi: “Bà Na-o-mi từ cánh đồng Mô-áp mới về, định bán thửa ruộng của người anh em chúng ta là Ê-li-me-léc. 4 Phần tôi, tôi nghĩ là cần phải báo cho ông biết rằng: trước mặt quý vị hiện diện ở đây và các kỳ mục trong dân, ông hãy tậu thửa ruộng ấy! Nếu ông muốn dùng quyền bảo tồn dòng dõi của ông, thì xin hãy dùng; bằng không thì xin tuyên bố cho tôi biết, vì ngoài ông ra, không ai có quyền bảo tồn dòng dõi; còn tôi thì chỉ đứng sau ông”. Người ấy nói: “Vâng, tôi sẽ dùng quyền bảo tồn đó”. 5 Ông Bô-át nói: “Ngày nào ông tậu ruộng chính tay bà Na-o-mi bán, thì lúc đó ông cũng phải lấy cả cô Rút người Mô-áp, vợ của người quá cố, để gia nghiệp người đó mãi mãi mang tên người đó”. 6 Người bảo tồn dòng dõi nói: “Thế thì tôi không thể dùng quyền bảo tồn đó được, để khỏi làm hại gia nghiệp của tôi. Xin ông thay tôi mà dùng quyền đó, vì tôi không thể dùng được”. 7 Theo phong tục thời xưa tại Ít-ra-en, khi có chuyện liên quan đến quyền bảo tồn hay việc đổi chác, để xác nhận việc đó, thì người này cởi dép trao cho người kia. Đó là cách chứng nhận tại Ít-ra-en. 8 Người bảo tồn dòng dõi nói với ông Bô-át: “Ông hãy tậu cho ông đi”, rồi người ấy cởi dép ra. 9 Ông Bô-át nói với các kỳ mục và toàn dân: “Hôm nay, xin quý vị làm chứng cho là tôi tậu từ tay bà Na-o-mi tất cả những gì thuộc về ông Ê-li-me-léc, tất cả những gì thuộc về Kin-giôn và Mác-lôn. 10 Và cả Rút người Mô-áp, vợ của Mác-lôn nữa, tôi cũng lấy làm vợ, để gia nghiệp người quá cố mãi mãi mang tên người đó, và để người đó khỏi bị xoá tên trong đám bà con họ hàng, cũng như trong số dân cư tụ họp tại cửa thành. Hôm nay, quý vị làm chứng cho điều đó”. 11 Toàn dân ở cửa thành và các kỳ mục đáp: “Chúng tôi xin làm chứng! Xin ĐỨC CHÚA cho người phụ nữ sắp vào nhà ông được nên giống như bà Ra-khen và bà Lê-a, cả hai bà này đã xây dựng nhà Ít-ra-en! Chúc ông được giàu có ở Ép-ra-tha! Chúc ông được nổi tiếng ở Bê-lem! 12 Chớ gì dòng dõi mà ĐỨC CHÚA sẽ ban cho ông, nhờ người thiếu phụ này, làm cho nhà của ông được nên giống như nhà của ông Pe-rét, là người con mà bà Ta-ma đã sinh cho ông Giu-đa!”.

[8] Xh 3,2.6: 2 Thiên sứ của ĐỨC CHÚA hiện ra với ông trong đám lửa từ giữa bụi cây. Ông Mô-sê nhìn thì thấy bụi cây cháy bừng, nhưng bụi cây không bị thiêu rụi. 6 Người lại phán: “Ta là Thiên Chúa của cha ngươi, Thiên Chúa của Áp-ra-ham, Thiên Chúa của I-xa-ác, Thiên Chúa của Gia-cóp”. Ông Mô-sê che mặt đi, vì sợ nhìn phải Thiên Chúa.

[9] 2Mcb 7,1-9: 1 Có bảy anh em bị bắt cùng với bà mẹ. Vua An-ti-ô-khô cho lấy roi và gân bò mà đánh họ, để bắt họ ăn thịt heo là thức ăn luật Mô-sê cấm. 2 Thay mặt cho anh em mình, một người lên tiếng nói: “Vua muốn tra hỏi chúng tôi cái gì? Vua muốn biết điều gì? Chúng tôi sẵn sàng thà chết chẳng thà vi phạm luật pháp của cha ông chúng tôi”. 3 Vua tức giận, ra lệnh nung một cái chảo lớn. 4 Nung xong, vua liền ra lệnh cắt lưỡi người vừa nói thay cho anh em, lột da đầu và chặt cụt chân tay của anh ngay trước mắt các anh em và bà mẹ. 5 Chặt chân tay anh rồi, vua truyền lệnh đưa anh còn đang thở thoi thóp đến lò lửa mà nướng. Khi khói trong chảo bốc lên, lan tỏa ra xa, bà mẹ và các anh em khích lệ nhau chết cho anh dũng. 6 Họ nói: “Đức Chúa là Thiên Chúa, Người thấy rõ, và chắc chắn người dủ lòng thương chúng ta, như lời ông Mô-sê nói trong bài ca của ông, để làm chứng cho mọi người rằng: ‘Đức Chúa sẽ dủ lòng thương hàng tôi tớ’”. 7 Người thứ nhất bị giết như thế rồi, chúng điệu người thứ hai đến chỗ hành hình. Sau khi lột da đầu và tóc của anh, chúng hỏi: “Mày có muốn ăn trước khi thân xác bị chặt ra từng mảnh không?” 8 Nhưng anh dùng tiếng mẹ đẻ trả lời rằng: “Không”. Vì thế, anh liền phải chịu các cực hình y như người thứ nhất. 9 Khi sắp trút hơi thở cuối cùng, anh nói: “Vua là một tên hung thần, vua khai trừ chúng tôi ra khỏi cuộc đời hiện tại, nhưng bởi lẽ chúng tôi chết vì Luật pháp của Vua vũ trụ, nên Người sẽ cho chúng tôi sống lại để hưởng sự sống đời đời”. 10 Sau người này, đến lượt người thứ ba bị tra tấn. Vừa được yêu cầu anh liền thè lưỡi, can đảm đưa tay ra, 11 và khẳng khái nói: “Tôi có được lưỡi này, tay này, là do Chúa Trời ban. Nhưng vì luật Chúa Trời, tôi coi khinh những thứ đó, và tôi hy vọng nhờ Chúa Trời, tôi sẽ lấy lại được”. 12 Nhà vua và quần thần phải sửng sốt vì lòng can đảm của người thanh niên đã dám coi thường đau khổ. 13 Người này chết rồi, người ta cũng tra tấn hành hạ người thứ tư như vậy. 14 Khi sắp tắt thở, anh nói như sau: “Thà chết vì tay người đời đang khi dựa vào lời Thiên Chúa hứa mà hy vọng sẽ được Người cho sống lại. Còn vua, vua sẽ không được sống lại để hưởng sự sống đâu”. 15 Sau đó, người ta điệu người thứ năm ra hành hạ. 16 Anh nhìn thẳng vào vua và nói: “Dù vua thuộc loài hư nát, vua lại có quyền trên người ta, vua muốn làm gì thì làm. Nhưng vua đừng tưởng Thiên Chúa đã bỏ rơi giống nòi chúng tôi. 17 Còn vua, hãy kiên nhẫn mà ngắm nhìn quyền năng cao cả của Người, xem Người sẽ hành tội vua và dòng giống vua thế nào?”. 18 Sau người này, người ta điệu người thứ sáu đến. Khi sắp chết anh nói: “Vua đừng có lừa dối mình mà chi! Quả thật, chúng tôi phải chịu cực hình như thế này cũng là tại chúng tôi, vì chúng tôi đắc tội với Thiên Chúa, nên mới gặp phải những điều quái gở này. 19 Còn vua, đừng tưởng rằng vua sẽ không bị trừng phạt, vì vua đã dám đứng lên chống lại Thiên Chúa”.

[10] x. Kn 2,23-24: 23 Quả thế, Thiên Chúa đã sáng tạo con người cho họ được trường tồn bất diệt. Họ được Người dựng nên làm hình ảnh của bản tính Người. 24 Nhưng chính vì quỷ dữ ganh tị mà cái chết đã xâm nhập thế gian. Những ai về phe nó đều phải nếm mùi cái chết.

[11] x. Đn 12,2: 2 “Trong số những kẻ an nghỉ trong bụi đất, nhiều người sẽ trỗi dậy: người thì để hưởng phúc trường sinh, kẻ thì để chịu ô nhục và bị ghê tởm muôn đời.

[12] x. Ga 11,25-26: 25 Đức Giê-su liền phán: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. 26 Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết. Chị có tin thế không?”.

 

Catechesis.Net