• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

Lc 16,19-31: Cuộc Sống Trần Thế Không Phải Là Tất Cả

Lm. FX. Vũ Phan Long, OFM.

 

Bản Văn Tin Mừng: Lc 16,19-31 [1]

19 “Có một ông nhà giàu kia, mặc toàn lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đình. 20 Lại có một người nghèo khó tên là La-da-rô, mụn nhọt đầy mình, nằm trước cổng ông nhà giàu, 21 thèm được những thứ trên bàn ăn của ông ấy rớt xuống mà ăn cho no. Lại thêm mấy con chó cứ đến liếm ghẻ chốc anh ta. 22 Thế rồi người nghèo này chết, và được thiên thần đem vào lòng ông Áp-ra-ham. Ông nhà giàu cũng chết, và người ta đem chôn.

23 “Dưới âm phủ, đang khi chịu cực hình, ông ta ngước mắt lên, thấy tổ phụ Áp-ra-ham ở tận đàng xa, và thấy anh La-da-rô trong lòng tổ phụ. 24 Bấy giờ ông ta kêu lên: ‘Lạy tổ phụ Áp-ra-ham, xin thương xót con, và sai anh La-da-rô nhúng đầu ngón tay vào nước, nhỏ trên lưỡi con cho mát; vì ở đây con bị lửa thiêu đốt khổ lắm!’ 25 Ông Áp-ra-ham đáp: ‘Con ơi, hãy nhớ lại: suốt đời con, con đã nhận phần phước của con rồi; còn La-da-rô suốt một đời chịu toàn những bất hạnh. Bây giờ, La-da-rô được an ủi nơi đây, còn con thì phải chịu khốn khổ. 26 Hơn nữa, giữa chúng ta đây và các con đã có một vực thẳm lớn, đến nỗi bên này muốn qua bên các con cũng không được, mà bên đó có qua bên chúng ta đây cũng không được’.

27 “Ông nhà giàu nói: ‘Lạy tổ phụ, vậy thì con xin tổ phụ sai anh La-da-rô đến nhà cha con, 28 vì con hiện còn năm người anh em nữa. Xin sai anh đến cảnh cáo họ, kẻo họ lại cũng sa vào chốn cực hình này!’ 29 Ông Áp-ra-ham đáp: ‘Chúng đã có Mô-sê và các Ngôn Sứ, thì chúng cứ nghe lời các vị đó’. 30 Ông nhà giàu nói: ‘Thưa tổ phụ Áp-ra-ham, họ không chịu nghe đâu, nhưng nếu có người từ cõi chết đến với họ, thì họ sẽ ăn năn sám hối’. 31 Ông Áp-ra-ham đáp: ‘Mô-sê và các Ngôn Sứ mà họ còn chẳng chịu nghe, thì người chết có sống lại, họ cũng chẳng chịu tin’”.

***

1.- Ngữ cảnh

Tại đoạn Lc 16,14-18, tác giả đã mô tả người Pharisee là “vốn ham hố tiền bạc”.[2] Lời mô tả này chủ ý được ghi vào cho khó nghe, bởi vì là một nhận xét bất thường, không có chỗ nào trong Tin Mừng thứ III hay Công Vụ Tông Đồ sử dụng. Đức Giêsu than trách rằng, điều răn quan trọng nhất, yêu thương người thân cận như chính mình, đã phải hy sinh cho việc giữ lấy của cải riêng, và lòng yêu thương đối với chính mình, cho dù phải hy sinh người thân cận, đã được ưa chuộng hơn – và điều này lại rõ ràng nơi những người Pharisee đạo đức!

Những câu nói về sự ham hố tiền bạc dễ dàng tuôn ra từ dụ ngôn trước đó nói về việc sử dụng của cải cách bất chính (Lc 16,1-8) và từ những bài học về việc lạm dụng của cải (Lc 16,9-13).[3] Vậy bài dụ ngôn Lc 16,19-31 là phần nối tiếp những nhận định lâu dài của tác giả Luca về việc sử dụng không đúng đắn các của cải (kể từ bài Người con hoang đàng). Bài dụ ngôn hôm nay giúp làm sáng tỏ hoàn cảnh này.

Người Pharisee chế nhạo Đức Giêsu khi nghe dụ ngôn của Người đề cập đến tiền bạc; bây giờ, bằng ngôn ngữ rõ ràng và mạnh mẽ, Đức Giêsu biện luận về cách sử dụng đúng đắn các của cải.

Những lời Đức Giêsu (Lc 16,15-18) tiếp theo lời tác giả giới thiệu người Pharisee ở câu 14 tập trung vào những gì Đức Giêsu cùng chia sẻ với cử tọa: hết sức tôn trọng các giáo huấn của Cựu Ước; chỉ có một con đường duy nhất đưa vào Nước Trời (Lc 16,16), đó là tuân giữ các giáo huấn của Thiên Chúa, và ở đây là giáo huấn liên hệ đến việc sử dụng đúng đắn các của cải. Lề Luật nói về điểm này sẽ không bao giờ qua đi, nhưng luôn hướng dẫn các chọn lựa của con người (Lc 16,17). Điều duy nhất Đức Giêsu thêm vào các giáo huấn đáng kính của Thiên Chúa là làm sáng tỏ cách người Do Thái hiểu Luật Moses (xc. câu 18 như một ví dụ về cách Đức Giêsu làm sáng tỏ Lề Luật). Người Kitô hữu, trong khi vẫn nhìn nhận giá trị của Luật Cựu Ước, lại sống ý muốn của Thiên Chúa theo cách hiểu của Đức Giêsu, là Đấng Cứu thế, là vị Hướng Đạo và Đấng soi sáng mình.

Vì không có một từ hay một câu nào để nối dụ ngôn với các câu trước, ta có thể hiểu rằng dụ ngôn thuộc về những câu đi trước nó.

2.- Bố cục

Bản văn có thể chia thành hai phần:

     1/. Hoàn cảnh của ông nhà giàu và Lazaro (16,19-22);

     2/. Cuộc đối thoại (16,23-31):

          a) Phần một: Cuộc sống dưới ánh sáng của cái chết (câu 23-26);

          b) Phần hai: Sứ điệp cho “năm người anh em” và cho các môn đệ Đức Giêsu: lắng nghe Lời Chúa (câu 27-31).

3.- Vài điểm chú giải

- Mặc toàn… (19): Từ “Enedidysketo”, ở thì vị hoàn của động từ “endidysko”, có nghĩa là “mặc”, có ý cho hiểu đây là một hành động xảy ra thường xuyên.

- Lụa là gấm vóc (19): Dịch sát là “gấm tía và vải lanh mịn”. Theo ngôn ngữ của Cựu Ước (Cn 31,22; 1 Mcb 8,14),[4] ta hiểu ông nhà giàu sống như một ông vua.

- Lazaro (20): Do bởi từ Hippri “’El‘àzàr”, có nghĩa là “Thiên Chúa giúp đỡ”.

- Được thiên thần đem (22): Do bởi vế sau nói về ông nhà giàu “cũng chết, và người ta đem chôn”, tức là linh đình và long trọng, ta hiểu anh Lazaro không được loài người an táng, nên đã được các nhân vật thiên quốc đem đi.

- Anh Lazaro trong lòng tổ phụ (23): Đây là vị trí danh dự khi người ta được dự tiệc đồng bàn với Abraham tại bữa tiệc thiên sai (Lc 13,28-29; x. Ga 13,22).[5]

- Âm phủ (23): Từ ngữ “(h)adès” lấy từ thế giới Hy Lạp, để mô tả cuộc sống của người ta sau cái chết. “Hadès” là tên của vị thần Hy Lạp cai trị âm phủ, và được dùng để chỉ nơi người ta không thể nhìn thấy, do con chữ alpha có nghĩa là thiếu mất đứng trước ngữ căn của động từ “nhìn thấy”. Đối với người Hy Lạp không tin có sự sống lại từ cõi chết, dù chấp nhận có sự bất tử, linh hồn của người chết được mô tả là đi lang thang trong một xứ sở không có mặt trời, trong một hình dạng bất toàn, như một cái bóng.

- Ông ta ngước mắt nhìn lên (23): Ông đang “ở dưới”, tượng trưng cho tình trạng đau khổ, nhục nhã và thiếu thốn mà ông không tự giải quyết được.

- Lòng tổ phụ (23): Biểu tượng người Do Thái dùng để nói về tình trạng sống rất thân tình và rất được ao ước, khi đó hai con người kết hợp với nhau. Công thức này tương tự với công thức “lòng kề lòng”.

- Lazaro được an ủi (25): Hình thái bị động thay tên Thiên Chúa: “Thiên Chúa an ủi” Lazaro.

- Đã có một vực thẳm lớn (26): Dịch sát là “đã cắt ngang định sẵn một vực thẳm”.[6] Đây là hình thái bị động thay tên Thiên Chúa: “Thiên Chúa đã định sẵn một vực thẳm”.

- Chúng đã có Moses và các Ngôn sứ (29): “Moses và các ngôn sứ” là tên gọi bộ Kinh Thánh Do Thái (tức Cựu Ước). Tổ phụ Abraham khẳng định rằng, sứ điệp nòng cốt của Kinh Thánh Do Thái vẫn còn là một cẩm nang có giá trị để hướng dẫn anh em ông nhà giàu.

4.- Ý nghĩa của bản văn

* Hoàn cảnh của ông nhà giàu và Lazaro (19-22)

Ông nhà giàu không có tên, nhưng lại rất giàu; còn Lazaro chỉ có một sự giàu có, đó là cái tên. Hai người không có tương quan gì với nhau cả.

Ông nhà giàu không làm điều gì xấu về luân lý cả; ông chưa hề từ chối Lazaro một điều gì, vì Lazaro cũng chưa xin gì cả. Bản văn chỉ nói rằng ông có một chương trình sống như chương trình một ông nhà giàu khác đã phác ra, nhưng đã không thể thực hiện trọn vẹn vì cái chết đến sớm: “Cứ nghỉ ngơi, cứ ăn uống vui chơi cho đã” (x. Lc 12,19). Y phục thường xuyên của ông chính là lụa là gấm vóc: mỗi ngày ông đều mặc “gấm tía và vải lanh mịn”, chứ không chỉ vào một số ngày đặc biệt. “Gấm tía” rất đắt, nên chỉ giới thượng lưu vương giả mới dám dùng. “Vải lanh mịn” cũng là thứ hàng hiếm, cho dù là ngay tại Roma. Thế mà ông nhà giàu mặc mỗi ngày! Thường mỗi gia đình có một bữa ăn chính mỗi ngày; còn trong nhà của ông nhà giàu, bữa ăn chính này, mỗi ngày, lại là một yến tiệc. Chắc chắn ông nhà giàu không ăn mặc và ăn uống sang trọng hào nhoáng như thế cho riêng ông; Ông phải có các khách mời. Ông đã sống như một ông vua.

Các thính giả có thể khó chịu vì bức tranh này, vì dường như “bôi bác” người nghèo. Nhưng Đức Giêsu sắp chuyển sang vấn đề cách thức sử dụng của cải, và lý do vì sao của cải không cứu được mà lại tiêu diệt người chủ. Chính bài học hệ trọng này cho chúng ta hiểu vì sao Đức Giêsu giới thiệu quá chi tiết hình ảnh ông nhà giàu, một hình ảnh ở mức độ nào đó đang có trong mỗi một người, ở dạng hiện thực hay ở dạng nguyện ước.

Thế rồi Đức Giêsu đưa ra một hình ảnh đối ngược tối đa với ông nhà giàu: một người nghèo mạt. Bản văn không nói là anh này sống đúng đắn về luân lý. Anh có một tên, “Lazaro” có nghĩa là “Thiên Chúa giúp đỡ”, một cái tên có ý nghĩa đối với “những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù” (x. Lc 14,13.21). Lazaro đã nghèo khó mà còn lại bị mụn nhọt đầy mình. Phải chăng Thiên Chúa sẽ giúp đỡ Lazaro qua trung gian ông nhà giàu? Anh không thể đi lang thang đây đó mà xin ăn. Lazaro cần có bạn bè để giúp anh tìm được thức ăn. Họ đã bỏ anh nằm trước cổng nhà ông nhà giàu, một vị trí mà một người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù, người không được mời, có thể ở gần chủ nhà nhất. Ông chủ và các khách mời không thể nào không biết có anh này ở ngoài cổng, và quả thật, ông nhà giàu đã gọi tên anh khi anh đang ở trong lòng tổ phụ Abraham.

Lazaro đói, anh thèm được ăn những thứ thừa thãi trên bàn người giàu và các thực khách rơi xuống. Rất có thể mấy con chó dưới gầm bàn được hưởng những thứ này. Mà nếu vậy, hẳn là Lazaro mong được không phải ở giữa những thực khách, mà là ở giữa những con chó. Chỉ có mấy con chó hoang đến liếm ghẻ chốc của anh. Phải chăng chúng săn sóc anh? Nếu thế, ông nhà giàu không giúp đỡ anh bằng mấy con chó. Nhưng cũng có thể hiểu việc mấy con chó đến liếm mụn nhọt cho anh như là một tình trạng bị bỏ rơi, không được ai giúp đỡ, mà còn bị đàn vật tấn công nữa.

Bức tranh Đức Giêsu phác ra kết thúc tại điểm này: đây là một “kết thúc mở”. Tình trạng mâu thuẫn đã rõ. Đức Giêsu không mô tả thêm gì; điều này có nghĩa là bao lâu hai nhân vật trên còn sống, không có gì thay đổi cả: mỗi người cứ tiếp tục như thế cho đến chết. Dù sao, tác giả Luca không hề xác định rằng: ông nhà giàu xấu xa, hay Lazaro là điển hình của người tốt. Đấy là những vấn đề nằm ngoài bản văn. Tác giả chỉ mô tả cuộc sống của hai bên: một bên thì ăn tiệc, còn bên kia thì ăn xin; một bên thì ăn mặc sang trọng, còn bên kia thì gần như trần truồng. Đây là hai kiểu mẫu song đối đang đứng trước mặt nhau, nhưng không có đối thoại. Mặc dù có sự gần kề thể lý hằng ngày, dụ ngôn lại cho thấy sự xa cách là có thật. Đàng khác, sự kiện họ không nói với nhau là một yếu tố không phải không đáng kể, nhất là trong một dụ ngôn kết thúc bằng việc kêu gọi lắng nghe (Lc 16,29.31).

* Phần một của đối thoại: Cuộc sống dưới ánh sáng của cái chết (23-26)

Nhưng cái tên “Lazaro”, có nghĩa là “Thiên Chúa giúp đỡ”, được Đức Giêsu cố tình gán cho anh, là để chúng ta hiểu rằng, cái tên của anh phù hợp với hoàn cảnh của anh: Khi còn sống, anh đã không được người nào giúp đỡ; sau khi chết, anh đã được Thiên Chúa an ủi.

Đứng trước cái chết, ông nhà giàu và anh nhà nghèo bình đẳng. Cái chết chiếu cố đến cả hai người. Nhưng tại điểm này, số phận của họ đảo ngược. Bản văn không nói gì về phán xét, nhưng chỉ ghi nhận sự đảo lộn các số phận, đồng thời nói đến một tình trạng bất khả truyền thông giữa hai bên. Những gì được nói ở đây về cuộc sống sau cái chết không phải là một mô tả chính xác về cuộc sống ấy, và cũng không hề có ý phác ra một địa lý của thế giới bên kia gồm “những vùng” hoặc “những tầng”. Nếu Đức Giêsu chọn nói về đau khổ dành cho những kẻ tội lỗi trong cuộc sống sau cái chết, Người thường vận dụng kinh nghiệm của các cư dân từ một thành phố qua hình ảnh một ngọn lửa cháy mãi trên một đống rác, liên tục cháy ngày đêm để thiêu đốt rác rưởi của thành ấy (x. Mc 9,48; x. Is 66,24).[7]

Các hình ảnh này chỉ muốn diễn tả sự khác biệt tận căn trong thế giới bên kia của đời sống một người đã rất giàu có và đời sống của một người đã hết sức nghèo túng. Lazaro được đưa vào lòng tổ phụ Abraham. Abraham, bạn của Thiên Chúa và tổ phụ của dân Israel, được coi như người chủ tọa bữa tiệc mừng trong thế giới ấy (x. Mt 8,11).[8] Lazaro, đã từng nằm vạ vật bẩn thỉu trước cổng và chỉ có bầy chó làm bạn, nay nhận được một chỗ danh dự bên cạnh tổ phụ Abraham, trong sự hiệp thông thân tình và tin tưởng với ngài (x. Ga 13,23).[9] Còn ông nhà giàu, trước đây ông ăn mặc tinh tế và xa hoa, thì nay chỉ có lửa bao quanh ông, khiến ông rất đau đớn. Trước kia, ông luôn có sẵn những thức ăn thơm ngon và thức uống ê hề, bây giờ ông phải xin một giọt nước. Trước đây, trong cuộc sống trần gian, Lazaro đói khát mong ước được ăn những thứ thừa từ bàn chủ rơi xuống, nhưng không được, bây giờ ông nhà giàu xin Lazaro đưa ngón tay nhúng nước rồi nhỏ cho ông một giọt nước mà cũng không được nhận. Trong cuộc sống trần gian, ông đã biết và chỉ quan tâm đến thú vui, tận hưởng sự thoải mái, sự xa hoa và những thứ tinh tế. Với của cải vốn có, ông có thể cho phép mình có mọi sự. Nhưng cách thức sử dụng của cải và tiêu xài cho cuộc sống của mình, đã đẩy ông vào một tình cảnh mà trong đó ông phải chịu đau đớn và dày vò, nhung nhớ và nguyện ước không nguôi; chính ông tự tách khỏi sự hiệp thông với tổ phụ Abraham và với Thiên Chúa.

Tác giả không giải thích trong bài dụ ngôn vì sao ông nhà giàu phải chịu đau khổ, còn Lazaro thì thoát khỏi đau khổ. Các hoàn cảnh sau cái chết của họ chỉ được hiểu ngầm trong bài Tin Mừng là xứng đáng với họ. Tổ phụ Abraham không nói rằng: vì ông nhà giàu có của cải trên trần gian, nên bây giờ phải chịu đau khổ; ngài chỉ muốn khẳng định rằng: ông ấy đã có của cải ở trần gian, nhưng sự giàu có không theo ông vào âm phủ được. Chúng ta hiểu rằng, đời sống trước đây trên trần gian phải chịu trách nhiệm và là nguyên nhân của những tình cảnh sau cái chết.

Lời ông nhà giàu kêu “lạy cha Abraham (của con)” xin giúp đỡ, và lời tổ phụ Abraham nói “con (của ta)” để từ chối, cho chúng ta hiểu mối tương quan thân thương này vẫn không chặn được các ngọn lửa và cơn khát nơi âm phủ. Nhưng lời kêu cứu của ông cũng cho chúng ta hiểu rằng, có một dây liên kết cốt thiết giữa ông và Lazaro; mặc dù có những khác biệt lớn lao giữa hai người, họ vẫn là anh em gần gũi và phải yêu thương nhau. Thế nhưng bây giờ, “giữa chúng ta đây và các con đã có một vực thẳm lớn, đến nỗi bên này muốn qua bên các con cũng không được, mà bên đó có qua bên chúng ta đây cũng không được” (câu 26), nghĩa là không thể thay đổi phần thưởng hay hình phạt nữa, khi mà cuộc sống đã chấm dứt. Mối quan tâm của ông nhà giàu cho số phận của năm người anh em sau này gợi lên ý nghĩa rằng: sau khi chết, không còn có thể thay đổi được nữa.

Chúng ta ghi nhận rằng, không phải là Lazaro đã lập luận để trả lời cho ông nhà giàu, mà là tổ phụ Abraham, tức Nguồn Mạch của Do Thái giáo. Rất hợp lý trong câu chuyên này, là chính người cha (Abraham) của tất cả mọi con dân Israel giải thích cho họ hiểu được rằng, vì sao Lazaro không thể giúp gì cho ông nhà giàu.

Lý do thứ nhất: ông nhà giàu đã có các thứ tốt lành khi còn sống ở trần gian; còn Lazaro thì chỉ toàn gặp bất hạnh. Bây giờ ông nhà giàu phải đau khổ, còn Lazaro được an ủi. Điểm nhắm trong lời nói của tổ phụ Abraham là cung cấp lý do vì sao đau khổ của ông nhà giàu không thể chấm dứt: do sống trong tình trạng bị dày vò lúc này, ông phải nhớ lại trước đây ông đã có các thứ tốt lành trong cuộc sống trần gian và nhớ là bây giờ ông phải chịu đau khổ. Bên kia, Lazaro không bị buộc phải từ bỏ tình trạng hạnh phúc của anh; anh đã phải chịu đau khổ suốt đời trên trần gian, nên nay anh được an ủi. Lời của tổ phụ Abraham chỉ nhắm giải thích một điều: không phải vì sao mỗi người đang ở nơi họ đang ở, nhưng vì sao không thể yêu cầu Lazaro giúp đỡ ông nhà giàu.

Lý do thứ hai: theo quan niệm về âm phủ nói trên, có một sự ngăn cách không thể vượt qua giữa cái tốt và cái xấu: “giữa chúng ta đây và các con”, tổ phụ Abraham kể cả chính ngài vào đó. Vậy, sự ngăn cách này do một Đấng Khác quy định bất di bất dịch, chứ không do bất cứ thụ tạo nào. Tình trạng bất khả thông thương này chấm dứt mọi tranh luận về việc Lazaro giúp đỡ ông nhà giàu.

* Phần hai của đối thoại: Sứ điệp cho “năm người anh em” và cho các môn đệ Đức Giêsu: lắng nghe Lời Chúa (27-31)

Ông nhà giàu nhìn nhận rằng, chính lối sống của ông trước đây trên trần gian đã đưa ông đến tình trạng này. Do đó, ông mong muốn là những anh em của ông được nhắc nhở cần phải thay đổi đời sống để khỏi rơi vào số phận đau đớn như ông. Rất có thể những người này đang sống dưới một mái nhà với ông, nên ông biết rõ lối sống của họ.

Cách thức thực hiện điều này, như ông đề nghị, là gửi Lazaro về khuyến cáo các anh em ông về mối nguy hiểm đáng sợ đang ở trước mắt. Tổ phụ Abraham trả lời: “Chúng đã có Moses và các Ngôn sứ, thì chúng cứ nghe lời các vị đó”. “Moses và các Ngôn sứ” là tên gọi bộ Kinh Thánh. Như thế, muốn tránh được lộ trình đưa đến số phận đau đớn thì hãy lắng nghe Lời Chúa. Từ đó, chúng ta hiểu rằng, trong khi còn sống trần gian, ông nhà giàu đã không lắng nghe, tức không vâng theo “Moses và các Ngôn sứ”, Lời Chúa, với luật căn bản là mến Chúa yêu người.

Nhờ trung gian của Kinh Thánh, Thiên Chúa truyền đạt cho chúng ta biết ý muốn của Ngài. Ngài đã ban những quy luật sống đúng đắn để đưa chúng ta đến đích. Ý muốn của Thiên Chúa không hề khó tuân giữ, như sách Đệ Nhị Luật đã khẳng định: “Quả thế, mệnh lệnh tôi truyền cho anh em hôm nay đây, không vượt quá sức lực hay ngoài tầm tay anh em. Mệnh lệnh đó không ở trên trời […]. Mệnh lệnh đó cũng không ở bên kia biển […]. Thật vậy, lời đó ở rất gần anh em, ngay trong miệng, trong lòng anh em, để anh em đem ra thực hành” (Đnl 30,11-14). Trong Kinh Thánh, có những chỗ nói rõ ràng về trách nhiệm xã hội đối với những người nghèo. Nay chúng ta có thể giải thích rõ ràng nhất bức tranh Đức Giêsu đã vẽ ra trong bốn câu đầu của dụ ngôn: Ông nhà giàu đã bỏ qua ý muốn của Thiên Chúa, không quan tâm đến Thiên Chúa, đã chỉ tìm kiếm tiện nghi và thú vui cho riêng mình. Do đó, ông đã phải đi đến đau khổ hiện tại.

Ông nhà giàu không phủ nhận tính đúng đắn của lời tổ phụ Abraham nói; nhưng ông nghĩ rằng, anh em ông sẽ vâng theo Lời Thiên Chúa hơn nếu như có người, như Lazaro, từ cõi chết trở về truyền đạt sứ điệp Moses. Chắc chắn, anh Lazaro không có gì hơn Moses để mà nói; nhưng giá trị của anh hệ tại ở chỗ, anh có thể làm chứng về thế giới âm phủ. Nhưng câu trả lời của tổ phụ Abraham là một lời bình luận về trái tim con người. Nếu người ta không muốn vâng nghe Moses và các ngôn sứ, thì người từ cõi chết trở về cũng chẳng lay chuyển được lòng dạ của họ. Lời tổ phụ Abraham phân tích một con tim sống trong tội lỗi rất có thế giá: bài dụ ngôn nhắm điều này, nên đã kết thúc ở đây với nhận xét của tổ phụ Abraham. Thật khó mà đưa trái tim con người đến chỗ hoán cải!

+ Kết luận

Trong bài dụ ngôn, Đức Giêsu cho thấy một cuộc đảo lộn tình thế và nguyên nhân của cuộc đảo lộn này. Những gì Đức Giêsu loan báo ở đây là nhắm ban cho các “anh em” (câu 28) ông nhà giàu một lời giáo huấn và khuyến cáo, để họ khỏi mất linh hồn vì những thú vui do của cải giàu sang, trái lại biết nghiêm túc tìm thánh ý Thiên Chúa. Đồng thời, những lời này của Đức Giêsu cũng là một sự an ủi cho người nghèo, vì tuy trên trần gian họ phải sống trong số kiếp đau thương, nhưng họ vẫn có thể hoàn toàn cậy trông vào sự nhân lành của Thiên Chúa.

Đức Giêsu mạnh mẽ loan báo rằng, cuộc sống trần gian không phải là tất cả và các hoàn cảnh hiện thời trong cuộc đời không đơn giản được lặp lại sau cái chết. Ai không nhìn sang bên kia cuộc sống trần thế và niềm vui sống, thì sau cái chết sẽ phải gặp một chuyện kinh ngạc đau đớn. Đối với mọi người, giàu hay nghèo, cần phải quy hướng cuộc sống mình về ý muốn của Thiên Chúa. Đây là con đường duy nhất để tránh được diệt vong và đạt được sự hiệp thông vĩnh cửu với Thiên Chúa.

Còn có một hướng suy nghĩ khác: sau khoảng 50 năm Đức Giêsu ban dụ ngôn này, phải chăng tác giả Luca muốn ám chỉ rằng, người ta cũng sẽ không nghe Đức Giêsu, Đấng đã sống lại từ cõi chết? Sách Công Vụ Tông Đồ đã nêu lên nhiều bằng chứng về sự “không nghe” này. Nếu hiểu như thế, bài dụ ngôn cũng có sức quy chiếu về Đức Giêsu.

5.- Gợi ý suy niệm

1/. Hai người ở cách nhau có ít bước, thế mà dường như không gặp nhau. Lazaro cứ việc nằm vất vưởng đau bệnh trước cửa; ông nhà giàu biết anh, nhưng sống như không hề có Lazaro. Khi người ta tin tưởng vào tiện nghi, vào của cải, vào sự “phát triển”, người ta trở thành đui mù, không thấy người khác với các nhu cầu của họ. Sau này, ông nhà giàu không hề biện minh: Tôi không gây rắc rối gì cho Lazaro. Tôi tôn trọng quyền tự do của anh. Anh ta đâu có hề xin tôi điều gì! Nhưng ông biết mình đã sai khi không sống những điều Lời Chúa dạy.

2/. Ông nhà giàu có tất cả mọi sự trên đời và dường như ông đã đạt được mục tiêu của cuộc đời. Nhưng chính cái chết cho hiểu rằng, cuộc sống trần gian không phải là tất cả. Phải sống cuộc sống trần gian, phải sử dụng của cải vật chất thế nào, để sau khi chết, người ta đạt được cuộc sống viên mãn. Dĩ nhiên, Đức Giêsu không muốn nói đến một vài sai lỗi nhất thời; Người dạy chúng ta về giá trị của chọn lựa căn bản: có những chọn lựa trong cuộc sống hôm nay rất hệ trọng, bởi vì liên hệ đến cuộc sống vĩnh cửu sau cái chết.

3/. Ông nhà giàu chết và phải chịu cực hình. Điều này không có nghĩa là do bởi nguyên nhân ông có của cải trong cuộc sống trần gian, mà dứt khoát ông bị hành hạ trong thế giới bên kia. Nếu ông bị đau đớn là vì ông đã không biết sử dụng của cải cho khôn khéo, như đã được nói đến ở Lc 9,14-15. Hôm nay, chúng ta cũng được mời gọi xem xét lại bản thân, có chăng khả năng thấy nơi mỗi con người và nơi các nhóm người và các dân tộc, một Lazaro nghèo khó đang ở trước cửa nhà chúng ta. Chúng ta có nhận ra được những nhu cầu của họ chăng? Chúng ta đã và sẽ làm gì cho họ?

4/. Sau khi chết, không còn có thể thay đổi được số phận nữa. Chính vì thế, Đức Giêsu đã ra sức thúc bách người ta “thay đổi ngay bây giờ”. Không có một giáo huấn nào của Tân Ước cho thấy là chúng ta còn có thể hoán cải sau khi chết. Lời Chúa có đó để hướng dẫn chúng ta đạt được cứu cánh cho cuộc đời của mình. Muốn lắng nghe Lời Chúa, chúng ta phải có con tim sẵn sàng và rộng mở. Nếu con tim đã trở nên đui mù và chai cứng vì ích kỷ, không quan tâm đến Thiên Chúa và người thân cận, thì các phép lạ và các sứ giả từ bên kia thế giới trở về cũng chẳng giúp lay tỉnh được.

5/. Điều mà bài dụ ngôn lên án, đó là không biết nhận ra tình trạng của bản thân để thay đổi. Có một cuộc đời để đáp lại các tiếng gọi, và có một lúc cuối cùng vẫn còn có thể làm được điều gì đó. Người tử tội gian phi trên đồi Golgotha đã có sự khôn ngoan đúng lúc. Trong một thoáng chốc, anh đã biết sử dụng Lời như một cái kềm để nhổ các cây đinh trong cuộc sống gian ác của anh và nắm bắt được thiên đàng: “Giêsu ơi, xin nhớ đến tôi” (Lc 23,43).

 

 

 

 


[1] Bản Việt ngữ của nhóm Phụng Vụ Các Giờ Kinh

[2] Lc 16,14-18: 14 Người Pha-ri-sêu vốn ham hố tiền bạc, nên nghe các điều ấy, thì cười nhạo Đức Giê-su. 15 Người bảo họ: “Các ông là những kẻ làm ra bộ công chính trước mặt người đời, nhưng Thiên Chúa thấu biết lòng các ông, bởi vì điều cao trọng đối với người đời lại là điều ghê tởm trước mặt Thiên Chúa. 16 “Cho đến thời ông Gio-an, thì có Lề Luật và các ngôn sứ; còn từ thời đó, thì Tin Mừng Nước Thiên Chúa được loan báo, và ai cũng dùng sức mạnh mà vào. 17 “Trời đất qua đi còn dễ hơn là một cái phết của Lề Luật rụng mất. 18 “Bất cứ ai rẫy vợ mà cưới vợ khác là phạm tội ngoại tình; và ai cưới người đàn bà bị chồng rẫy, thì cũng phạm tội ngoại tình.

[3] Xc. Biết khôn ngoan tiên liệu: http://catechesis.net/index.php/thanh-kinh/tan-uoc/cac-sach-tin-mung/tm-luca/3643-lc-16-1-13-biet-khon-ngoan-tien-lieu

[4] Cn 31,22: 22 Nàng tự tay làm lấy chăn mền, nàng mặc toàn vải gai, vải tía.

1Mcb 8,14: 14 Dầu vậy, không một ai trong họ đã đội vương miện hay mặc cẩm bào để được vinh hoa phú quý.

[5] Lc 13,28-29: 28 “Bấy giờ anh em sẽ khóc lóc nghiến răng, khi thấy các ông Áp-ra-ham, I-xa-ác và Gia-cóp cùng tất cả các ngôn sứ được ở trong Nước Thiên Chúa, còn mình lại bị đuổi ra ngoài. 29 Thiên hạ sẽ từ đông tây nam bắc đến dự tiệc trong Nước Thiên Chúa.

x. Ga 13,22: 22 Các môn đệ nhìn nhau, phân vân không biết Người nói về ai.

[6] Kinh Thánh, bản dịch của Nguyễn Thế Thuấn.

[7] x. Mc 9,48: 48 nơi giòi bọ không hề chết và lửa không hề tắt.

x. Is 66,24: 24 Và khi ra về, mọi người sẽ thấy xác những kẻ phản loạn chống lại Ta, vì giòi bọ rúc rỉa chúng sẽ không chết, lửa thiêu đốt chúng sẽ không tàn lụi. Chúng sẽ là đồ ghê tởm cho mọi người phàm.

[8] x. Mt 8,11: 11 Tôi nói cho các ông hay: Từ phương đông phương tây, nhiều người sẽ đến dự tiệc cùng các tổ phụ Áp-ra-ham, I-xa-ác và Gia-cóp trong Nước Trời.

[9] x. Ga 13,23: 23 Trong số các môn đệ, có một người được Đức Giê-su thương mến. Ông đang dùng bữa, đầu tựa vào lòng Đức Giê-su.

 

 

 

 

 

 

 

Catechesis.Net