• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

Giao Uớc Mới Trong Thư Gởi Tín Hữu Hebrews, Hr 8,6-13

 

GIAO UỚC MỚI TRONG THƯ GỞI TÍN HỮU HEBREWS

Hr 8,6-13

Môn sinh Tôma,

Soạn lại từ tài liệu thần học của Học Viện Đaminh

Dẫn nhập

Tác giả thư Hebrews đã nói một cách mộc mạc và xác quyết rằng giao ước cũ đã lỗ thời và rằng độc giả không còn phải chịu sự chi phối của nó nữa. Vấn đề đặt ra là: Tại sao giao ước cũ trở nên lỗ thời? Giao Ước Mới ở đây là gì? có gì khác biệt giữa Giao Ước Mới và giao ước cũ? Đâu là vai trò của Giao Ước Mới trong thư Hebrews? Bài viết này lần lượt đi tìm hiểu cho những vấn đề được đặt ra ở đây.

1. Bối cảnh và cấu trúc[1]

a. Bối cảnh

Đoạn văn Hr 8,1-13 nằm trong đoạn văn lớn từ 7,1 – 10,39. Toàn bộ đoạn văn này diễn tả trọn vẹn sứ điệp: Một Tư Tế Khác giống Men-ki-sê-dê. Hebrews chương 8 triển khai tính cách trổi vượt của Đức Ki-tô bằng cách mô tả tính chất trổi vượt của Giao Uớc Mới hơn giao uớc cũ. Tác giả đã giải thích sự trổi vượt của Đức Ki-tô khi so sánh với chức tư tế trong Cựu Ước ở chương 7. Khái niệm này được kết luận trong đoạn 8, 1-6, và rồi được mở rộng, khi điểm quy chiếu này hướng ra ngoài từ Thượng Tế tới Giao Ước xét như là một tổng thể.

b. Cấu trúc

Thư Hebrews chương 8 là một cặp tương phản, trước tiên là kết luận sự tương phản giữa Đức Ki-tô và Thượng Tế trong Cựu Ước (1-6), và kế đó là tương phản Giao Ước Mới của Đức Ki-tô với giao ước cũ do các tư tế làm trung gian (7-13). Vì thế, đoạn văn 8,6-13 có cấu trúc như sau:

Hebrews 8,6-13

Sự Trổi Vượt Giao Ước Mới đối với Giao Ước Cũ

(Hr 8,6)

sự tương phản của hai giao ước
Hebrews 8,7-9 Hebrews 8,10-13
Những Khuyết Điểm của Giao Ước Cũ Những nét nổi bật của Giao Ước Mới
  1. 2. Phân tích bản văn

Đoạn văn 8,1-6 giới thiệu chủ đề nền tảng của phần trọng tâm trong thư Hebrews, cho tới 10,18, chủ đề về hy lễ Thượng Tế của Đức Ki-tô. Chủ đề này kết thúc bằng việc đưa ra một chủ đề khác, Giao Ước Mới và những lời hứa của giao ước. Giao Ước Mới giờ đây được triển khai bằng việc tác giả trích dẫn đoạn văn của Gr 31,31-34. Ở bối cảnh nguyên thủy của nó, đoạn văn Gr được làm thành một chuỗi các lời sấm, Gr 30 – 33, để cho thấy niềm hy vọng đối với dân Ít-ra-en trong thời kỳ lưu đầy rằng Thiên Chúa sẽ đưa họ trở về quê hương xứ sở. Ở đó họ sẽ phục vụ “Đức Chúa là Thiên Chúa của họ cũng như Đa-vid sẽ là vua”, và nỗi tang tóc họ sẽ được biến thành niềm vui, đồng thời nỗi sầu thương sẽ được an ủi vui mừng. Trong cộng đoàn Qumran, lời hứa này được hiểu như là lời tiên báo một cộng đoàn giao ước cánh chung của riêng họ. Mặc dù bản văn này không trích ở chỗ khác trong Tân Ước, nhưng các tín hữu thời sơ khai cũng tự xem mình là những thành viên của giao ước mới, cánh chung.

Việc trích dẫn Gr cho thấy vai trò quan trọng khi trình bày chủ đề Ki-tô học trong thư Hebrews. Bề ngoài, nó có vẻ mang tính chất tiêu cực, khi đưa ra một câu giới thiệu và kết luận: 7 và 13. Lời hứa của Giao Uớc Mới, giống như lời sấm về một tư tế vĩnh cửu, cho thấy rằng giao uớc cũ, giống như Lề Luật cũ và chức tư tế cũ, cần phải được bãi bỏ. Tuy nhiên, nếu chỉ xem bản văn này như là một sự phê bình giao uớc cũ và hệ thống phụng tự của nó thì quả thật là sai sót.

Một cách tích cực hơn, bản văn này bổ sung cho điều mà những “lời hứa tốt đẹp hơn” đề cập trong câu 6. Giao ước này không chỉ là một giao ước mới lập lại hình thức và chức năng của cái cũ, lỗ thời (c.8-9), mà còn khác nhau cả về phẩm chất ở hai khía cạnh. Thứ nhất, giao ước này được đặt trong tâm hồn chứ không khắc trên bia đá (c.10-11). Thứ hai, giao ước này tha thứ những điều bất chính mà con người gây ra (c.12). Chính điểm đáng chú ý này cho thấy một sự kết nối quan trọng giữa những chủ đề giao ước và chức tư tế. Hai nét nổi bật này được làm rõ từ việc lập lại phần kết của câu trích dẫn khi kết luận phần trình bày hoạt động có tính cách tư tế của Đức Ki-tô ở 10,16-17.

Luận cứ theo sau, giữa việc trích dẫn nguyên văn và việc trích dẫn mới ở chương 10, khảo sát tỉ mỉ những “lời hứa tốt đẹp hơn” của Giao Ước Mới. Việc suy tư chủ đề của lời trích dẫn này bằng sự tương phản giữa hy lễ cũ (9, 1-10) và hy lễ mới (9, 11-14) được thiết lập để tha tội. Do đó, tác giả xem sự nối kết giữa hy lễ và giao ước, bằng việc giải thích cái chết của Đức Ki-tô như là một biến cố khai mở giao ước. Cuối cùng, luận cứ này sẽ cho rằng chiều kích siêu thăng hay trổi vượt về cái chết của Đức Ki-tô (9,22-28) có liên hệ mật thiết tới tính nội tại nhân loại của chiều kích sự chết.

Chính vì vậy, đoạn trích quan trọng từ Gr liên quan tới chủ đề Giao Ước Mới có hiệu quả là ơn tha tội và khai mở bước ngoặc quan trọng cho luận cứ theo sau. Đồng thời, nó cho thấy các yếu tố của khía cạnh tương phản sẽ được xen kẽ bằng sự phân tách giữa trời và đất, điều đã được trình bày ở những câu giới thiệu (8, 1-6). Đặc biệt, sự tương phản giữa ngoại tại và nội tại được đề cập ở c. 10-11 sẽ là một yếu tố quan trọng để nối kết kết giữa hai cực lưỡng phân cơ bản giữa trời - đất. Đến lượt, sự nối kết ấy là điểm cốt yếu để giải thích cái chết của Đức Ki-tô xét như là một hiến lễ vốn hoàn tất trọn vẹn giao ước được hứa bởi Giê-rê-mi-a.[2]

3. Giao Ước Mới

a. Cách dùng của hạn từ diaqhkh

Hạn từ giao ước diaqhkh khi được dùng trong văn chương Kinh Thánh có những cách dùng khác nhau. Trong bản LXX, nó được dùng để mô tả sự thỏa thuận hay thương lượng giữa hai người, chẳng hạn như St 21,27.32, ông Abraham và Abimelech thực hiện một sự thỏa thuận với nhau. Hạn từ này còn được dùng để ám chỉ sự thỏa thuận hay sự thiết lập giữa vua và dân, chẳng hạn như vua Xít-ki-gia-hu với dân (Gr 34,8). Nhưng ở đây, hạn từ này muốn nói tới là giao ước giữa Thiên Chúa và dân của Người. Trong tất cả cách dùng này, mối tương quang giữa hai phía giữ một vai trò cốt yếu khi quyết định bản chất và ý nghĩa của giao ước, và khía cạnh đặc biệt quan trọng của mối tương quan ấy là liệu hai phía đều bình đẳng với nhau hay bên này phải phụ thuộc bên kia. Trong trường hợp giao ước giữa Thiên Chúa và dân của Người, dân luôn giữ vai trò phụ thuộc. Khi Thiên Chúa ký kết giao ước với dân của người, thì có những ích lợi và trách nhiệm được đặt cho cả hai phía. Tuy nhiên, chiếu theo khung của bản chúc thư, những điều khoản của giao ước chỉ một mình Thiên Chúa tuyên bố và không thể thương thuyết, và ở vài trường hợp thậm chí việc hoàn trọn giao ước chỉ có một bên, phụ thuộc chủ yếu vào sự đề xướng của Thiên Chúa, bên cạnh sự trung thành từ phía con người.[3]

Ở Tân Ước, hạn từ diaqhkhđược sử dụng 33 lần, trong đó 17 lần ở thư Hebrews. Cả ý niệm về giao ước và chúc thư (will, testament) được diễn tả trong Tân Ước khi dùng diaqhkh. Ví dụ, Gl 3,15 và Hr 9,16 dùng diaqhkhđể mô tả bản chúc thư, nhưng ở Rm 9,4 và Hr 9,20 dùng hạn từ này để ám chỉ giao ước. Do đó, nếu chỉ dựa trên thuật ngữ, thì thật khó mà có thể quyết định liệu tác giả Tân Ước muốn ám chỉ tới chúc thư hay là giao ước khi sử dụng hạn từ diaqh,kh. Nhưng, có một vài dấu hiệu cho thấy rằng thư Hebrews đang truyển tải một khái niệm có sự móc nối chặt chẽ với các yêu tố của cả giao ước lẫn chúc thư khi sử dụng cụm từ kainh diaqhkh (Hr 9,15-22).[4]

b. Tính trổi vượt của Giao Ước Mới

Hạn từ déở đầu c.6 được tiên liệu trước bởi hạn từ méntrong c. 4: “Vậy, giả như…nhưng hiện nay, Người đạt được một tác vụ cao trọng hơn nhiều”. Có một sự hợp lý rất đặc biệt ở đây. Điều này cho thấy mối tương quan giữa tính trổi vượt của Giao Ước Mới và sự củng cố bằng những lời hứa cũng như tác vụ của Đức Ki-tô. Tác vụ của Đức Ki-tô cao trọng hơn bởi vì Người là đấng trung gian của một giao ước tốt đẹp hơn, và giao ước này tốt hơn vì nó được đặt trên những lời hứa tốt đẹp hơn. Câu 6 cho thấy sự tương phản tập trung ở tác vụ tư tế của Đức Ki-tô khi so sánh với tác vụ của các tế Lê-vi trước đó. Tác vụ của Đức Ki-tô có tính chất “tốt hơn” tác vụ của các tư tế Lê-vi vì phục vụ trong “cung thánh và lều trại thật do Thiên Chúa”. Tác vụ tư tế trổi vượt của Đức Ki-tô không chỉ là điểm nền tảng trong 5 câu đầu của chương 8, mà chủ đề về tác vụ cao trọng này được duy trì xuyên suốt cả chương qua việc ráp nối cách hợp lý về sứ vụ của Đức Giê-su, đó là Giao Ước Mới. Vì thế, ngay đầu c. 6, chủ đề về sự trổi vượt của chức tư tế nơi Đức Giê-su được mau mắn giải thích lý do nền tảng của sự trổi vượt này là: Giao Ước Mới và tốt đẹp hơn.

Bản văn cho thấy tác vụ trổi vượt của Đức Ki-tô hơn tác vụ của các Lê-vi đến mức Giao Ước Mới trổi vượt hơn giao ước cũ. Ngôn ngữ được sử dụng trong c. 6 được nhắc lại ở Hr. 1,4. Hai câu này không chỉ giống nhau ở cấu trúc – sử dụng cùng một đại từ quan hệ – mà còn giống nhau ở từ vựng – bằng việc sử dụng cả hạn từ kreittwnlẫn diaforwteraj. Ở cả hai mệnh đề này, tác giả đã sử dụng lối so sánh hơn, để nếu người đọc đón nhận bản tính trổi vượt của yếu tố thứ nhất, tức Người Con (1,4) hay Giao Ước Mới (8,6), thì họ sẽ đón nhận bản tính trổi vượt ở yếu tố thứ hai, tức là những phẩm chất riêng của Đức Ki-tô (1 – 7) hay tác vụ của Đức Ki-tô (8 – 10).

“Trung gian một giao ước tốt đẹp hơn” chính là trọng tâm của tác vụ tư tế trổi vượt của Đức Giê-su. Danh từ mesithjđược dùng ba lần trong thư Hebrews (8,6; 9,15;12,24) và động từ mesiteuwđược dùng một lần ở (6,17). Việc tác giả thư Hebrews xem Đức kilà trung gian của Giao Ước Mới bởi vì người có sứ vụ đưa hai phía lại gần nhau, Thiên Chúa và Dân của Người. Đức Giê-su đại diện Thiên Chúa trước Dân bằng việc thiết lập tương quan với Thiên Chúa dựa trên Giao Ước Mới của Người, và Người đại diện Dân trước Thiên Chúa bằng việc chuyển cầu cho họ bằng vai trò tư tế của Người theo những điều khoản của Giao Ước Mới. Đức Giê-su không thực hiện vai trò trung gian theo nghĩa là nối kết hai phía lại với nhau để tìm ra một thỏa hiệp. Ngược lại, vai trò của người là để đại diện hai phía xét vì hai phía này tương tác với nhau dựa trên giao ước của mình, một giao ước mà cả hai đã thỏa thuận, nhưng được một mình Thiên Chúa khởi xướng và hoàn thành.

Vai trò trung gian Giao Ước Mới của Đức Giê-su thật cần thiết bởi vì giao ước cũ đã lỗ thời, hay ít ra, Giao Ước Mới tốt đẹp hơn giao ước cũ, vì nó đặt trên lời hứa tốt đẹp hơn. Vấn đề đặt ra là những lời hứa này gồm nhũng gì. Để có thể xác định được, thì điều cần thiết là phải xác định giao ước cũ ở đây muốn ảm chỉ điều gì. Giao ước cũ ở đây được tác giả ám chỉ tới giao ước được lập với Mô-sê và Ít-ra-en trong suốt thời xuất hành. Việc tác giả trích dẫn Gr cũng cho thấy rõ rằng giao ước cũ đang được so sánh với Giao Ước Mới, “không như giao ước Ta đã lập…”. Bằng việc xác định giao ước cũ, thì việc so sánh những lời hứa để củng cố nơi mỗi giao ước là điều khả thể. Tuy nhiên, duy những lời hứa đặc biệt liên hệ tới Giao Ước Mới ở thư Hebrews là những lời hứa hình thành nên chính giao ước. Có ba lời hứa chính được phác họa trong 8, 10-12:

-    Trước hết, Đức Chúa sẽ khắc ghi Lề Luật trong tâm khảm của dân. Điểm độc nhất vô nhị ở đây, so với giao ước cũ, là ở Giao Ước Mới mới được hoàn tất như thế nào và bởi ai – bởi chính Thiên Chúa, bên cạnh nỗ lực của con người. Ở giao ước cũ, việc đồng hóa các yếu tố của giao ước cũ là trách nhiệm của dân, trong khi ở Giao Ước Mới, trách nhiệm thuộc chỉ một mình Thiên Chúa. Khi thiết lập Giao Ước Mới, Thiên Chúa làm, ở một vài khía cạnh nào đó, điều mà dân hẳn đã làm ở cái cũ, và đây là một phần của sự khác biệt giữa giao ước vốn được tiếp nhận trong Hebrews xét như là một dấu hiệu về tính trổi vượt của cái mới. Điều này còn có thể bắt gặp ở 8,2 khi nói đến tương quan giữa hai thánh điện, bằng chính Thiên Chúa dựng nên lều thánh.

-    Lời hứa thứ hai là Đức Chúa sẽ là Thiên Chúa của dân, và họ sẽ dân của người.

-    Lời hứa thứ ba là sẽ không còn dạy cho dân biết Đức Chúa, vì mọi người đã biết Đức Chúa rồi, và Đức Chúa đã bỏ qua và tha hết tội cho dân.[5]

Những lời hứa này, hình thành nền tảng của Giao Ước Mới, cho thấy hai sự khác biệt giữa Giao Ước Mới và giao ước cũ: (1) Thiên Chúa, thay vì dân, sẽ tiếp nhận luật của Người; (2) sự tha thứ sẽ mang lại sự biến đổi tận căn, bởi vì nhờ biết Đức Chúa là Đấng phổ quát giữa dân Người, và vì thế, việc dạy đồng bào mình để biết Đức Chúa không còn cần thiết nữa.

c. Thay thế giao ước cũ

Luận cứ chính yếu mà tác giả đưa ra rằng Giao Ước Mới trổi vượt hơn giao ước cũ còn được diễn tả là ngay cả trong suốt thời của giao ước cũ, Đức Chúa (c.8) đã tiên liệu việc xuất hiện của Giao Ước Mới. Bằng cách này, tác giả không chỉ nói đến bản chất trổi vượt của Giao Ước Mới, mà còn nói đến sự thất bại của giao ước cũ. Sự thất bại của giao ước cũ, tức là giao ước được thiết lập trên núi Xi-nai và dân Ít-ra-en, là luận điểm nền tảng trong thư Hebrews, và đối với tác giả, việc không nhân ra sự thất bại của giao ước cũ là một trong những vấn đề chính của độc giả. Nếu thư Hebrews là để hoàn thành mục đích giúp đỡ các độc giả tháo gỡ những ràng buộc nơi họ và chấm dứt việc bám vào giao ước cũ, thì chắc chắn điều này sẽ thành công khi thuyết phục họ rằng giao ước cũ không hoàn hảo và đã trở nên lỗ thời bởi một giao ước mới tốt hơn.

Ở c.7, tác giả nói rằng giao ước thứ nhất không “có gì đáng chê trách”, một trong những cách nói giảm về sự thấp kém của giao ước cũ, cùng với c. 13. Hạn từ a;memptojkhi được dùng để mô tả một vật không có sinh hồn, ám chỉ điều gì đó hoàn thiện trong cùng loại của nó. Bởi vậy, điều tác giả nói ở đây đơn thuần chỉ là giao ước thứ nhất chưa hoàn thiện. Sự hoàn thiện là một chủ đề quan trọng trong thư Hebrews, một phẩm chất được áp dụng cho Đức Giê-su (5,9), là những kết quả của chức tư tế nơi Đức Giê-su (7,11), lều do Thiên Chúa làm ra (9,11). Đã hơn một lần tác giả nói rằng sự thành công hoặc hiệu quả của giao ước cũ thì ít hoàn thiện hơn (7,11; 9,9; 10,1), ít ra theo điều mà Đức Giê-su Ki-tô sẽ hoàn thanh liên quan tới Giao Ước Mới. Do đó, việc sử dụng hạn từ a;memptoj ở c. 7 có liên quan tới những câu khác diễn tả sự giới hạn của giao ước cũ.[6]

Khi Đức Giê-su, trong đêm bị phản bội, đã trao cho các môn đệ chén rượu và nói: “Đây là máu giao ước của thầy, đổ ra vì muôn người” (Mc 14,24), thì bối cảnh cuộc vượt qua trong tình tiết này chắc hẳn đã làm cho các môn đệ nhớ lại những lời của người với “máu giao ước” mà Thiên Chúa đã thiết lập cho dân Người là Ít-ra-en trong thời Mô-sê dựa trên Thập Điều (Xh 24,8). Chúng ta không thể nghi nghờ ý định của Đức Giê-su cần phải công bố rằng cuối cùng giao ước cũ sẽ phải được thay bằng “Giao Ước Mới”, điều mà Giê-rê-mi-a tiên báo ở giữa thời Mô-sê và thời của Đức Giê-su. Thực vậy, cho dù hy lễ của Đức Giê-su đã ứng nghiệm điều mà Giê-rê-mi-a đã nói về Giao Ước Mới sẽ xuất hiện hay không, thì có một điều đã được nói tới: “Điều mà Lề Luật không thể làm được, vì bị tính xác thịt làm cho ra suy yếu, thì Thiên Chúa đã làm: Người đã kết án tội trong thân xác, khi sai chính Con mình đến, mang thân xác giống như thân xác tội lỗi chúng ta để đền tội. Thiên Chúa làm như vậy, để sự công chính mà Lề luật đòi hỏi được hoàn toàn thực hiện nơi chúng ta, là những người không sống theo tính xác thị, nhưng theo Thần Khí” (Rm 8,3-4).

Trong lời sấm của Giê-rê-mi-a, Giao Ước Mới sẽ phải được thực hiện với nhà Ít-ra-en và với nhà Giu-đa” (c.8). Trong Giao Ước Mới, sự hoàn thành không chỉ giới hạn vào họ, mà còn trải rộng với mọi người tin của mọi dân tộc – thực vậy, giao ước cũ vẫn còn thiếu đặc tính phổ quát. Cho dù Giê-rê-mi-a có ý thức nhìn thấy trước sự bao trùm tất cả của Giao Ước Mới mới này hay không, thì tính phổ quát thực sự rất rõ trong lời tiên báo của ông: dân tộc đầu tiên và các thế hệ chủng tộc cũng phải được bao gồm ở giữa những dân tộc ngoại được giải thoát bởi Giao Ước Mới. “Chính khi nói rằng Giê-rê-mi-a không được nhìn thấy Giao Ước Mới sẽ ám chỉ cho thế giới, thì hoàn toàn có thể khác đi rằng với nhà Ít-ra-en và Giu-đa, ông thực sự ám chỉ tới Giáo hội….Mặc khác, chúng ta không phải mắc sai lầm đối nghịch giả như Giao Ước Mới sẽ ám chỉ một điều gì khác đối với “tất cả Ít-ra-en” hơn là ám chỉ Giáo hội, rằng Ít-ra-en được cứu sẽ được cứu bằng một vài cách thế khác hơn là Giáo hội. Thiên Chúa không hủy bỏ Ít-re-en về mặt tự nhiên, nhưng siêu thăng nó khi cứu nó, giống như Người không phá bỏ trái đất này nhưng làm mới lại nó”.

Chính hạn từ “Giao Ước Mới” làm cho giao ước trước đó trở nên cũ (c. 13). Khi nói như thế, tác giả vượt ra xa khỏi Giê-rê-mi-a vốn rõ ràng chỉ cho thấy sự tương phản của Giao Ước Mới trong tương lai với giao ước được thực hiện thời Xuất Hành, và ám chỉ rằng khi xuất hiện, Giao Ước Mới sẽ thay thế giao ước cũ. Đạo lý này đã được thánh Phao-lô đề cao khi nói về chính ngài cũng như những người đồng bạn như là “những người phục vụ Giao Ước Mới; không dựa trên chữ viết, nhưng dựa vào Thần Khí” (2Cr 3,6); bằng việc tương phản với giao ước mới này ám chỉ giao ước liên quan tới Mô-sê như là “giao ước cũ” (2Cr 3, 14). Vậy nếu giao ước thời Mô-sê đã trở nên lỗ thời, thì tác giả muốn ám chỉ thêm rằng chức Tư Tế thuộc về Aaron, lều thánh do tay người phàm, các hy lễ của các tư tế Lê-vi, đều được thiết lập dưới giao ước ấy, cũng sẽ trở nên lỗ thời. Thời đại của Lề Luật và các ngôn sư đã qua; thời đại của Người Con đã ở đây, và hiện diện ở đây.[7]

d. Vai trò của Giao Ước Mới trong thư Hebrews.

Khái niệm giao ước đóng một vai trò quan trọng trong thư Hebrews, và đặc biệt trong các chương 8-10 khi được trích đi trích loại đoạn văn về Giao Ước Mới của Giê-rê-mi-a ở 8, 8-12; 10,16.17. Khi nói về tính chất trổi vượt của chức tư tế nơi Đức Ki-tô, thì nhất thiết phải nói tới khái niệm giao ước, bởi vì phần nhiều tầm quan trọng của tư tế trong Kinh Thánh đều nằm ở vai trò trung gian giao ước. Vì thế, chẳng có gì ngạc nhiên khi tìm thấy trong khảo luận về chức tư tế rằng khái niệm giao ước sẽ cho thấy một vai trò quan trọng nền tảng thần học của luận cứ này, và đây là điều có trong thư Hebrews.

Khái niệm giao ước trong thư Hebrews giống như khái niệm về Người Con. Những khái niệm này có cả những yếu tố quan trọng về nền tảng thần học mà luận cứ của thư Hebrews sử dụng. Ngay cả ngôn ngữ được dùng để giới thiệu hai khái niệm này cũng rất giống nhau. Ở Hr. 1,4.5, tác giả tuyên bố Đức Giê-su cao trọng hơn (krei,ttwn) các thiên thần. Ở 8,6 tác giả nói tác vụ mà Đức Giê-su cao trọng hơn các tư tế Lê-vi. Lối suy tư và ngôn ngữ song song ở đây rất độc đáo, và không phải ngẫu nhiên mà hai khái niệm, danh cao trọng hơn (Người Con) và giao ước tốt đẹp hơn (Giao Ước Mới), giữ một vai trò như nhau trong thư Hebrews nhờ vào việc gia tăng sự xác tín cho khái niệm chính, tức là tư tế cao trọng hơn. Cũng chẳng phải ngẫu nhiên mà hai lối diễn tả tương tự này xuất hiện ở phần cuối của lời tụa đối với hai phần chính của tác phẩm, vốn thêm một bằng chứng rằng thật đúng khi xem 8,1tt như là lời giới thiệu phần hai của tác phẩm. Ở phần một, “Người Con” là khái niệm chính mà tác giả dùng để bảo vệ cho luận điểm Đức Giê-su, bởi vì chính bản tính của Người, là một tư tế trổi vượt. Ở phần hai, “Giao Ước Mới” là khái niệm chính mà tác giả sử dụng để củng cố cho luận điểm Đức Giê-su, vì tác vụ của Người, là một tư tế trổi vượt trong thực hành. Vì thế, Giao Ước Mới được xem như là nền tảng cho tác vụ tư tế trổi vượt của Đức Giê-su.[8]

Kết luận

Như vậy, Hr 8,6-13 cho độc giả hiểu được thế nào là Giao Ước Mới. Tác giả đã cho thấy Giao Ước Mới trổi vượt hơn giao ước cũ ở chỗ vì được đặt trên lời hứa tốt đẹp hơn. Những lời hứa này hình thành nên nền tảng của Giao Ước Mới. Và đó cũng là điểm khác biệt so với giao ước cũ. Hơn nữa, Giao Ước Mới hoàn hảo hơn giao ước cũ, vì thế Giao Ước này sẽ thay thế giao ước cũ, vì giao ước cũ đã trở nên lỗ thời. Cuối cùng, tác giả cho thấy vai trò quan trọng của Giao Ước trong thư Hebrews được thể hiện qua cách dùng từ nhằm diễn tả cho chức vụ tư tế trổi vượt của Đức Giê-su.

*********************************************

 

Tài liệu tham khảo:

F. F., Bruce, Rev. ed. The Epistle to the Hebrews: The New International Commentary on the New Testament. Grand Rapids, MI: Wm. B. Eerdmans Publishing Co, 1990.

H. W., Attridge & H., Koester. The Epistle to the Hebrews : A commentary on the Epistle to the Hebrews. Philadelphia: Fortress Press, 1989.

Metchell, Alan C. Hebrews, Sacra pagina series. Collegeville, Minnesota: The Liturgical Press, 2007.

Redmond, Alan. The Obsolete Covenant in Hebrews Chapter Eight. Providence Seminary, 2008.

Stanley, Steven K. A New Covenant Hermeneutic: the Use of Scripture in Hebrews 8-10. Uniersity of Sheffield, 1994.

http://daveduncombe.wordpress.com/2012/05/07/analysis-of-hebrews-8.

 


[1] http://daveduncombe.wordpress.com/2012/05/07/analysis-of-hebrews-8.

[2] Attridge, H. W., & Koester, H., The Epistle to the Hebrews : A commentary on the Epistle to the Hebrews (Philadelphia: Fortress Press, 1989), tr. 226.

[3]Steven K. Stanley, A New Covenant Hermeneutic: the Use of Scripture in Hebrews 8-10 (Uniersity of Sheffield, 1994) tr. 79.

[4] Alan Redmond, The Obsolete Covenant in Hebrews Chapter Eight (Providence Seminary, 2008), tr. 66-73.

[5] Steven K. Stanley, ibid, tr. 88.

[6]Ibid., tr. 90.

[7] Bruce, F. F., Rev. ed., The Epistle to the Hebrews: The New International Commentary on the New Testament (Grand Rapids, MI: Wm. B. Eerdmans Publishing Co, 1990), tr. 195.

[8]Steven K. Stanley, ibid, tr. 111.

Catechesis.Net