• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

Giáo Huấn Đức Giáo Hoàng Benedict XVI Về “Con Người Và Tư Tưởng Của Thánh Tôma Aquinô”

Đức Giáo Hoàng Benedict XVI

Giuse Nguyễn Hữu Nghị, OP. chuyển ngữ

 

 

LTS: Thánh Tôma Aquinô, tu sĩ và là linh mục Dòng Đaminh, sống vào thế kỷ XIII. Ngài là một trong những vị thánh lớn trong Giáo hội. Ngài được biết đến với danh hiệu “Tiến sĩ Thiên Thần”. khi nhắc đến Thánh Nhân, mọi người không thể không biết đến công trình đồ sộ ngài để lại cho hậu thế, mà cho đến ngày hôm nay vẫn được Giáo hội tin dùng để trích dẫn cũng như giải thích trong Giáo huấn của mình, đó là bộ “Tổng Luận Thần Học – Summa Theologica”.

Vào năm 2010, trong các buổi triều yết chung tại quảng trường Thánh Phêrô,[1] Đức Giáo Hoàng Benedict XVI đã giới thiệu về con người cũng như tư tưởng và những đóng góp lớn lao của Thánh Tôma Aquinô cho Giáo hội. Xin được giới thiệu loạt bài Giáo huấn này của Đức Giáo Hoàng Benedict XVI.

***

 

Thứ Tư, ngày 02 - 06 - 2010

Anh chị em thân mến,

Sau những bài giáo huấn về tác vụ linh mục và sau những chuyến công du, hôm nay tôi muốn quay trở lại với đề tài chính, đó là chiêm ngắm một số nhà tư tưởng vĩ đại thời Trung Cổ. Mới đây, chúng ta đã nhìn ngắm khuôn mặt vĩ đại của thánh Bônaventura, tu sĩ dòng Phanxicô, và hôm nay tôi sẽ trình bày về một nhà tư tưởng mà Giáo hội gọi là vị Tiến sĩ chung (Doctor communis). Vị tiền nhiệm đáng kính của tôi, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, trong thông điệp Đức Tin và Lý Trí, đã viết rằng: Thánh Tôma đã luôn được Giáo hội giới thiệu cách chính đáng là bậc tôn sư về tư tưởng, và là khuôn mẫu của một phong thái đúng đắn trong công tác suy tư thần học” (số 43). Bởi vậy, chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi mà trong số các văn sĩ của Giáo hội được nêu danh trong Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, Thánh Tôma được trích dẫn nhiều hơn tất cả các vị khác, không dưới 61 lần, chỉ sau Thánh Augustinô. Ngài còn được gọi là vị “Tiến Sĩ Thiên Thần” (Doctor Angelicus), vì nhờ các nhân đức mà ngài có, đặc biệt là sự uyên bác tuyệt vời trong tư tưởng cùng với sự trong sáng của cuộc đời ngài.

Tôma Aquinô chào đời khoảng năm 1224 – 1225 tại lâu đài của gia đình, một gia đình quý tộc giầu có tại vùng Roccassecca, gần Aquinô, cạnh đan viện danh tiếng Mont Cassin. Chính tại Đan viện này, Tôma được thân phụ gửi tới để được học hỏi những yếu tố sơ khởi trên con đường học vấn của ngài. Ít năm sau đó, Tôma tới Napoli, thủ phủ vương quốc Sicile; tại đây vua Frédéric II đã lành lập một trường đại học danh tiếng. Tại trường đại học này, tư tưởng của triết gia Hy-lạp, Aristote, được giảng dạy mà không bị áp đặt những giới hạn như ở các trường đại học khác. Chàng sinh viên Tôma trẻ tuổi được dẫn vào trong thế giới tư tưởng của triết gia Aristote, và ngay lập tức, Tôma hiểu ra được giá trị vĩ đại của triết gia này. Nhưng đặc biệt, ơn gọi Đaminh cũng đã nảy nở trong chính thời gian này. Quả thực, Tôma đã bị thuyết phục bởi lý tưởng của dòng tu do Thánh Đaminh sáng lập trước đó không lâu. Tuy nhiên, khi Tôma lãnh tu phục Dòng Đaminh, thì mọi người trong gia đình ngài phản đối chọn lựa của ngài; vì thế ngài buộc phải rời khỏi tu viện và trở về với gia đình trong một thời gian.

Vào năm 1245, khi đã trưởng thành, ngài tiếp tục cuộc hành trình đáp trả lời mời gọi của Thiên Chúa. Ngài được gửi tới Paris để nghiên cứu thần học dưới sự hướng dẫn của một vị thánh khác, Albertô Cả, vị thánh mà gần đây tôi đã có dịp nói tới. Albertô và Tôma đã mau chóng gắn kết với nhau bằng một tình thân hữu thâm sâu và chân thành. Các ngài đã học tập để biết cách đánh giá và yêu thương nhau, đến nỗi mà sau này, khi được bề trên sai đi để thành lập “Viện Thần Học” (Studium) tại Cologne, Thánh Albertô đã muốn người học trò của mình cũng đi cùng. Đây chính là thời điểm mà Tôma lại một lần nữa có cơ hội được tiếp xúc với các tác phẩm của Aristote, và các nhà chú giải Ả-rập về triết gia này, khi Thánh Albertô trình bày và giải thích.

Vào giai đoạn này, nền văn hóa của thế giới La-tinh bị ảnh hưởng sâu xa do cuộc gặp gỡ với các tác phẩm của Aristote, vốn còn chưa được biết đến trong một thời gian dài trước đó. Các tác phẩm này chính là những tác phẩm bàn về bản chất của nhận thức, về các khoa học tự nhiên, về siêu hình học, về linh hồn và đạo đức, vốn rất phong phú về thông tin và trực giác. Các tác phẩm này cho thấy những giá trị lớn lao và mang tính thuyết phục cao. Vấn đề quan trọng được đề cập trong đó là một nhãn quan toàn diện về thế giới, được khai triển không có Đức Kitô và trước Đức Kitô (without and before Christ), thông qua nẻo đường lý trí thuần túy. Chính nhãn quan toàn thể này buộc lý trí phải nhìn nhận nó như một “nhãn quan” đích thực: do chính yếu tố này mà đã tạo nên sự cuốn hút đến lạ thường những người trẻ đến chiêm ngắm và nhận thực nền triết học này. Rất nhiều người nhiệt tình đón nhận, thậm chí nhiệt tình đến nỗi quên cả phê bình, công trình đồ sộ này của nền trí thức thượng cổ, vốn được xem như có khả năng đổi mới cách có lợi hơn cho nền văn hóa La-tinh, đồng thời mở ra những chân trời hoàn toàn mới mẻ. Tuy nhiên, cũng có những người lại e ngại rằng nền tư tưởng ngoại giáo của Aristote sẽ đối chọi với đức tin Kitô giáo, nên đã khước từ nghiên cứu nền tư tưởng này. Hai nền văn hóa hội ngộ: nền văn hóa tiền Kitô giáo của Aristote, với tính hợp lý triệt để của nó, và nền văn hóa Kitô giáo cổ điển. Ngoài ra, một số trung tâm có thái độ từ khước Aristote, cũng bởi lý do việc trình bày về triết gia này lại được thực hiện bởi chính các nhà chú giải Ả-rập, như Avicenne và Averroès. Quả thực, chính các nhà chú giải này là những người đã truyền bá hệ thống triết học Aristote vào thế giới La-tinh. Chẳng hạn các nhà chú giải đã giảng dạy rằng con người không thể thủ đắc một lý trí cá vị, nhưng chỉ có một lý trí phổ quát và duy nhất, bản thể tinh thần chung cho tất cả, và hoạt động trong tất cả với tính cách là “duy nhất”. Hệ quả là làm mất đi tính cách ngôi vị của con người. Một điểm khác cũng gây tranh cãi không ngừng, đó là thế giới này cũng vĩnh cửu như chính Thiên Chúa. Từ đó chúng ta có thể hiểu được những cuộc tranh luận bất tận đã nổi lên dữ dội, trong giới đại học cũng như trong Giáo hội. Nền triết học Aristote đã được phổ biến thậm chí ngay cả trong giới bình dân.

Tôma Aquinô, khi bước theo trường phái của Thánh Albertô Cả, đã thực hiện một công việc có tầm quan trọng căn bản đối với lịch sử triết học và thần học, thậm chí tôi dám nói là cho cả lịch sử văn hóa nữa: Ngài đã nghiên cứu thấu đáo đến cùng Aristote, và cả những nhà chú giải về triết gia này, khi được cung cấp những bản dịch mới bằng La ngữ từ những bản văn gốc Hy ngữ. Như thế, ngài không còn chỉ dựa vào những nhà chú giải A-rập nữa, nhưng đã có thể đọc theo cách thế của riêng mình, những bản văn gốc và bình giải phần lớn các tác phẩm của Aristote. Ngài phân biệt trong đó, giữa những gì là xác thực với những gì còn đang trong vòng hoài nghi, hoặc thậm chí phải bác bỏ hoàn toàn. Đồng thời sử dụng cách phong phú và chính xác tư tưởng của Aristote, trong việc quảng diễn các bản văn thần học mà ngài soạn thảo. Sau cùng, Tôma đã chứng minh được rằng giữa đức tin Kitô giáo và lý trí, luôn có một sự hài hòa rất tự nhiên. Đây chính là công trình vĩ đại của Thánh Nhân, bởi lẽ, vào thời điểm của các cuộc xung đột giữa hai nền văn hóa, thời điểm mà xem ra đức tin đang phải đầu hàng trước lý trí, ngài đã cho thấy rằng đức tin và lý trí có thể song hành tay trong tay; và rằng những điều tỏ cho thấy như thể là lý trí không tài nào tương hợp được với đức tin, thì đấy lại không phải là lý trí. Còn những gì xem ra như thể là đức tin thì đấy không phải là đức tin, nếu đức tin đối lập lại với một lý tính đích thực. Như vậy, Tôma đã hình thành nên được một tổng hợp mới mẻ, đã khuôn đúc nên một nền văn hóa cho những thế kỷ sau.

Do những khả năng trí thức tuyệt vời, Tôma được gọi về Paris đảm nhận ghế của anh em Đaminh với tư cách là “Giáo Sư Thần Học”[2]. Cũng chính tại đây, ngài bắt đầu công việc soạn thảo, công việc mà Thánh Nhân thực hiện cho đến khi qua đời, và đã tạo nên một điều thật kỳ diệu: ngài chú giải Thánh Kinh, bởi lẽ một giáo sư thần học tiên vàn phải là một nhà chú giải Thánh Kinh; bình giải các bản văn của Aristote; viết những tác phẩm đồ sộ mang tính hệ thống, trong số đó, Tổng Luận Thần Học là tác phẩm tuyệt hảo nhất; những khảo luận và những bài giảng về những chủ đề khác nhau. Trong việc soạn thảo các bản văn, ngài được nhiều thư ký giúp đỡ, trong đó phải kể đến Réginal de Piperno, người rất tận trung theo ngài và cũng là người mà Tôma gắn bó bằng một tình bằng hữu rất chân thành và huynh đệ, mang đậm dấu ấn của sự tín nhiệm và tin tưởng lớn lao. Đây chính là đặc tính của các vị thánh: các ngài vun đắp cho tình bằng hữu, bởi lẽ tình bằng hữu là một trong những biểu hiện cao quý nhất của trái tim con người, và nó có một điều gì đó mang tính thần linh, như chính Thánh Nhân đã giải thích điều này qua một vấn nạn trong Tổng Luận Thần Học: “Đức ái chính yếu là tình bạn hữu của con người đối với Thiên Chúa, và với tất cả mọi hữu thể thuộc về Ngài”[3].

Tôma không lưu trú lâu và cũng chẳng thường xuyên ở Paris, năm 1259, ngài tham dự Tổng hội của anh em Đaminh tại Valencia, tại Tổng hội này, ngài là thành viên của Ủy ban soạn thảo chương trình học vấn của Dòng. Sau đó, từ 1261 đến 1265, ngài sống tại Orvieto. Đức Giáo Hoàng Urbanô IV, người rất quý mến và đánh giá cao về Tôma, đã ủy thác cho ngài việc soạn thảo các bản văn phụng vụ cho lễ kính Mình Thánh Chúa (Corpus Domini), được thiết lập sau phép lạ Thánh Thể xảy ra tại Bolsena. Tôma có một tâm hồn vô cùng nhạy cảm với Thánh Thể. Các bản thánh thi trác tuyệt mà phụng vụ Giáo hội dùng để cử hành mầu nhiệm về sự hiện diện đích thực của Mình và Máu Chúa trong Thánh Thể, được quy gán cho đức tin và sự minh triết thần học của ngài. Từ năm 1265-1268, Tôma sống tại Rôma, có lẽ tại đây ngài điều hành một Học Viện, nhà học dành cho việc học của Dòng, và cũng chính tại đây, ngài bắt đầu viết bộ Tổng Luận Thần Học.[4]

Năm 1269, Tôma được gọi trở lại Paris để giảng dạy chương trình thần học. Các sinh viên rất hứng thú với những bài giảng của ngài. Một trong các cựu sinh viên của ngài đã cho biết rằng, có quá nhiều sinh viên đến tham dự các khóa học của Thánh Nhân, đến nỗi hầu như không một phòng học nào có đủ chỗ cho sinh viên tham dự. Cũng chính sinh viên này, trong một ghi nhận cá nhân, đã thêm rằng: “Việc lắng nghe Tôma giảng dạy giúp tôi cảm nghiệm được một niềm hạnh phúc sâu thẳm.” Việc bình giải Aristote của Tôma dẫu không được tất cả mọi người đón nhận, nhưng ngay cả những đối thủ của ngài trong lãnh vực hàn lâm, như Goderoi de Fontaines chẳng hạn, cũng phải nhìn nhận rằng học thuyết của tu sĩ Tôma trổi vượt hơn những học thuyết khác do sự hữu ích và giá trị của chúng, đồng thời giúp điều chỉnh các học thuyết của các vị tiến sĩ khác. Bề trên đã bổ nhiệm Tôma đến Napoli một lần nữa, có lẽ vừa để tránh cho ngài khỏi những cuộc tranh luận gay gắt đang tiếp diễn, vừa có thể phục vụ vua Charles I, người đang có chương trình cải tổ những vấn đề nghiên cứu tại các trường đại học.

Ngoài công tác nghiên cứu và giảng dạy, Tôma còn chuyên cần giảng thuyết cho dân chúng nữa, và dân chúng cũng sẵn lòng đến nghe ngài giảng. Tôi muốn nói rằng đây thực sự là một ân huệ lớn lao khi mà các thần học gia có khả năng nói với các tín hữu một cách đơn giản và nhiệt thành. Hơn nữa, chính tác vụ giảng thuyết cũng giúp các thần học gia có được nhãn quan thực tế lành mạnh về mục vụ, cũng như làm phong phú công cuộc nghiên cứu của họ bằng những thúc đẩy sống động.

Những tháng cuối cùng của cuộc đời dương thế của Tôma vẫn luôn được bao quanh bởi một bầu khí đặc biệt, tôi có thể nói đây là một bầu khí thật huyền nhiệm. Tháng 12.1273, ngài cho gọi Réginal, người bạn và cũng là thư ký của ngài, để thông tin cho biết là ngài quyết định ngưng mọi công việc viết lách. Bởi lẽ, một Mạc Khải siêu nhiên đến với ngài khi một lần đang cử hành thánh lễ, và ngài hiểu được rằng tất cả những gì ngài đã viết cho đến thời điểm đó chỉ là “một đống rơm rác” mà thôi. Chính tình tiết huyền nhiệm này giúp chúng ta không những nhận ra sự khiêm nhường của bản thân ngài, mà còn nghiệm ra một thực tế rằng tất cả những điều chúng ta thành công trong suy tư cũng như diễn đạt về đức tin, dù có cao siêu và tinh ròng đến mấy đi nữa, thì cũng vẫn bị siêu vượt cách vô biên vô tận bởi chính sự cao trọng và vẻ đẹp của Thiên Chúa, điều sẽ chỉ được Mạc Khải trọn vẹn cho chúng ta trên Thiên Quốc.

Vài tháng sau đó, khi mà càng ngày càng chìm đắm trong sự chiêm niệm sâu xa, Tôma đã tạ thế khi đang trên đường tới Lyon để tham dự Công Đồng Đại Kết, do Đức Giáo Hoàng Grégoire X triệu tập. Ngài qua đời tại đan viện Xít-tô Fossanova, sau khi đã lãnh của ăn đàng với những tâm tình thành kính sâu xa.

Cuộc đời và giáo huấn của Thánh Nhân có thể được đúc kết trong một đoạn văn được kể lại trong bản tiểu sử xưa về ngài. Lần kia như thường lệ, khi Thánh Nhân đang cầu nguyện trước tượng chịu nạn vào lúc sáng sớm tại nhà nguyện Thánh Nicôla – Napôli, thì Domenico da Caserta, người phụ trách phòng thánh, nghe thấy một cuộc đối thoại. Tôma đang lo lắng hỏi xem liệu những điều ngài đã viết về các mầu nhiệm đức tin Kitô giáo có được xác thực hay không. Và Đấng chịu đóng đinh trả lời: “Con đã nói rất tuyệt về Ta, Tôma. Con muốn ta thưởng gì cho con?” Câu trả lời Thánh Nhân đáp lại cũng là câu trả lời mà mỗi chúng ta, những bạn hữu và môn đệ Đức Giêsu, luôn mong muốn nói với Người: “Lạy Chúa! chẳng điều gì khác ngoài Chúa.”

***

Thứ Tư, ngày 16 - 06 - 2010

Anh chị em thân mến,

Hôm nay tôi muốn tiếp tục giới thiệu về Thánh Tôma Aquinô, một thần học gia có giá trị đến nỗi mà việc nghiên cứu tư tưởng của ngài đã được Công Đồng Chung Vatican II khích lệ trong hai tài liệu: “Optatam Totius” (Sắc lệnh về Đạo Tạo Các Linh Mục) và Gravissimum Educationis” (Tuyên ngôn về việc Giáo Dục Kitô Giáo). Vả lại, ngay từ những năm 1880, Đức Giáo Hoàng Lêô XIII, người rất ngưỡng mộ và luôn cổ võ việc nghiên cứu học thuyết Thánh Tôma, đã muốn tuyên bố Thánh Nhân là “Đấng bảo trợ các Trường Học và các Đại Học Công Giáo”.

Lý do chính yếu của việc đánh giá cao về Thánh Tôma như thế, không chỉ được giải thích do nội dung các học thuyết của ngài, nhưng còn do phương pháp ngài đã sử dụng và nhất là những tổng hợp và phân biệt mới mẻ giữa triết học và thần học. Các Giáo phụ xưa đã phải đương đầu với những hệ thống triết học khác nhau kiểu Platon, trong đó người ta trình bày một nhãn quan toàn diện về thế giới và về cuộc đời, bao hàm cả những vấn nạn về Thiên Chúa và về tôn giáo. Khi đối chiếu với các hệ thống triết học này, chính các Giáo phụ cũng đã hình thành được một nhãn quan hoàn chỉnh về thực tại, khi khởi đi từ đức tin và sử dụng những yếu tố của hệ thống triết học Platon, nhằm trả lời cho những vấn nạn căn bản của con người. Các Giáo phụ gọi nhãn quan này, vốn được đặt nền tảng trên Mạc Khải Thánh Kinh và được hình thành với sự giúp đỡ của hệ thống triết học Platon, đã được điều chỉnh dưới ánh sáng đức tin, là “nền triết học của chúng ta.” Như vậy, hạn từ “triết học” không nhằm diễn tả về một hệ thống duy lý thuần túy và, xét trong tư cách là một hệ thống triết học, thì tách biệt hẳn với đức tin; nhưng nhằm biểu thị một nhãn quan toàn thể về thực tại, được xây dựng dưới ánh sáng đức tin, tất nhiên do chính lý trí vận dụng và quan niệm. Một nhãn quan toàn thể như thế, theo lẽ tự nhiên, chắc chắn vượt quá những khả năng riêng của lý trí, nhưng cũng chính một nhãn quan như thế mới có thể làm thỏa mãn lý trí.

Đối với Thánh Tôma, cuộc giao ngộ với nền triết học tiền Kitô giáo của Aristote (+ 322 TCN) đã khai mở một viễn tượng mới mẻ. Hệ thống triết học Aristote hiển nhiên là một hệ thống triết học được hình thành mà không biết đến Cựu Ước cũng chẳng biết Tân Ước, một hệ thống triết học giải thích về thế giới mà không dựa trên Mạc Khải, nhưng chỉ thuần túy dựa vào lý trí mà thôi. Nhưng sự hợp lý nhất quán của hệ thống triết học này lại mang tính thuyết phục cao. Như vậy, công thức xưa kia của các Giáo phụ gọi là “nền triết học của chúng ta”, không còn có thể tiếp tục sử dụng được nữa. Cuộc hội ngộ giữa triết học và thần học, giữa đức tin và lý trí cần phải được suy tư lại. Trước tiên cần có một nền triết học hoàn chỉnh và có sực thuyết phục cao trong chính hệ thống ấy, một sự hợp lý đi trước đức tin, và theo sau hệ thống này là một “nền thần học”, một dạng thức tư duy cùng với đức tin và trong đức tin.

Một vấn nạn cấp thiết được đặt ra là: thế giới của sự hợp lý, một nền triết học được tư duy mà không có Đức Kitô và thế giới đức tin, liệu chúng có thể tương hợp được với nhau không? Hay liệu chúng có loại trừ nhau không? Dẫu không thiếu những yếu tố có thể khẳng định sự bất tương hợp giữa hai thế giới này, nhưng Thánh Tôma vẫn luôn vững tin vào một sự tương hợp thực sự giữa chúng, và cũng giống như hệ thống triết học được hình thành dù không biết đến Đức Kitô nhưng vẫn đợi chờ, một cách nào đó, ánh sáng của Đức Giêsu để được hoàn chỉnh. Chính sự ngạc nhiên vĩ đại này của Thánh Nhân đã quyết định cuộc hành trình suy tư của mình, trong tư cách là một nhà tư tưởng. Việc chứng tỏ cho thấy sự độc lập giữa triết học và thần học, và đồng thời cho thấy mối tương quan hỗ tương của chúng, đã là một sứ vụ lịch sử của vị đại tôn sư. Như vậy, chúng ta có thể hiểu được, vào thế kỷ XIX, đang khi mà người ta mạnh mẽ tuyên bố về sự bất khả tương hợp giữa lý trí hiện đại và đức tin, thì Đức Giáo Hoàng Lêô XIII đã chỉ định Thánh Tôma làm người hướng đạo trong công cuộc đối thoại giữa lý trí và đức tin. Trong công tác nghiên cứu thần học của mình, Thánh Tôma đã giả thiết và cụ thể hóa mối tương quan này. Đức tin củng cố, hoàn thiện và soi sáng cho di sản chân lý mà lý trí con người đã thủ đắc được. Sự vững tin mà Thánh Tôma dành cho hai phương thế của việc nhận thức - đức tin và lý trí - có thể đưa đến niềm xác tín rằng cả hai đều phát xuất từ một nguồn mạch duy nhất của mọi chân lý, đó là “Lời Thần Linh” (Logos Divin), Đấng đang hoạt động trong công trình sáng tạo cũng như trong công trình cứu chuộc.

Ngoài sự tương hợp giữa lý trí và đức tin, thì cũng cần phải nhìn nhận rằng, cả đức tin và lý trí đều cần đến những tiến trình khác nhau của sự nhận thức. Lý trí đón nhận một chân lý căn cứ vào chính sự hiển nhiên nội tại của nó, dù là gián tiếp hay trực tiếp; trái lại, đức tin đón nhận chân lý dựa trên nền tảng chính là uy thế của Lời Chúa được Mạc Khải. Thánh Tôma đã viết trong phần đầu của Tổng Luận Thần Học rằng: “Chúng ta phải công nhận rằng có hai loại khoa học. Một số ngành khoa học bắt nguồn từ những nguyên tắc được nhận thức thông qua ánh sáng tự nhiên của lý trí, như số học, hình học và các ngành khác tương tự; nhưng một số ngành khác lại bắt nguồn từ những nguyên tắc được nhận thức thông qua một khoa học cao hơn, và chính theo cách thế này mà thánh khoa cũng là một ngành khoa học. Thực vậy, thánh khoa bắt nguồn từ những nguyên lý được nhận thức theo ánh sáng của khoa học cao hơn, đó là khoa học của Thiên Chúa và của Các Thánh.”[5]

Sự phân biệt này bảo đảm tính độc lập giữa các ngành khoa học nhân văn và thánh khoa. Tất nhiên sự phân biệt này không đồng nghĩa với một sự tách biệt, nhưng đúng hơn là hàm chứa một sự bổ túc hỗ tương và đem lại lợi ích cho nhau. Thực vậy, đức tin bảo vệ cho chân lý khỏi những thứ cám dỗ vì thiếu tín nhiệm vào những khả năng riêng của mình, đức tin khích lệ lý trí mở ra với những chân trời luôn luôn rộng lớn hơn, đức tin gìn giữ cho công cuộc truy tìm những nền tảng luôn luôn sống động trong lý trí. Nhất là khi mà chính lý trí cố gắng thích ứng vào lãnh vực siêu nhiên của mối tương quan giữa Thiên Chúa và con người, đức tin giúp cho công việc của lý trí trở nên phong phú hơn nhiều. Chẳng hạn, theo Thánh Tôma, lý trí con người có thể chắc chắn đạt đến khả năng xác quyết về sự hiện hữu của Một Thiên Chúa, nhưng chỉ có đức tin, khi đón nhận Mạc Khải Thần Linh, mới có đủ khả năng kín múc được huyền nhiệm của tình yêu Thiên Chúa Duy Nhất và Ba Ngôi.

Đàng khác, không chỉ đức tin mới trợ giúp lý trí, nhưng chính lý trí, với những phương thế riêng của mình, cũng có thể mang lại điều gì đó quan trọng cho đức tin. Như trong phần lời tựa của tác phẩm chú giải về Ba Ngôi của Boèce (De Trinitate de Boèce), Thánh Tôma đã chỉ ra ba sự phục vụ chính yếu mà lý trí mang lại cho đức tin: “Chứng minh những nền tảng của đức tin, minh giải những chân lý đức tin thông qua những điểm tương đồng, đẩy lùi những phản bác chống lại đức tin.”[6] Thực ra, toàn thể lịch sử thần học chính là sự thi hành trách vụ dấn thân này của lý trí, khi chứng minh cho thấy tính khả tri của đức tin, sự ăn khớp cũng như sự hài hòa nội tại, tính chất hữu lý và khả năng cổ võ sự thiện hảo nơi con người của chính đức tin. Sự thích đáng của những suy luận thần học cũng như ý nghĩa đích thực của chúng trong vấn đề nhận thức được căn cứ trên giá trị của ngôn ngữ thần học, mà theo Thánh Tôma, chủ yếu là ngôn ngữ loại suy. Khoảng cách giữa Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa, và hữu thể của các thụ tạo là một khoảng cách vô biên. Sự khác biệt luôn luôn lớn hơn sự tương đồng[7]. Dầu vậy, trong toàn thể những khác biệt giữa Đấng Tạo Hóa với thụ tạo, vẫn có một sự loại suy giữa hữu thể được tạo dựng với hữu thể của Đấng Sáng Tạo, chính điều này giúp chúng ta có thể nói về Thiên Chúa bằng chính ngôn ngữ của con người.

Thánh Tôma xây dựng học thuyết về thuyết loại suy không chỉ dựa trên những luận chứng triết học chuyên biệt, mà còn dựa trên sự kiện là thông qua Mạc Khải, chính Thiên Chúa đã ngỏ lời với ta, và như vậy cho phép chúng ta cũng được quyền nói về Ngài. Tôi xét thấy rằng việc nhắc lại học thuyết này thực sự là điều quan trọng. Quả thực, học thuyết này có thể giúp chúng ta vượt qua được một số những phản bác của chủ thuyết vô thần thời đại. Bởi vì chủ thuyết này phủ nhận tính khách quan của ngôn ngữ tôn giáo, và chủ trương rằng ngôn ngữ tôn giáo chỉ có giá trị chủ quan hay chỉ thuần túy là một cảm xúc. Thái độ phản bác này bắt nguồn từ chủ thuyết thực chứng, một nền tư tưởng xác quyết rằng con người không thể nhận thức được chính hữu thể, mà chỉ nhận thức được những chức năng có thể trải nghiệm qua thực tế. Cùng với Thánh Tôma và với truyền thống triết học vĩ đại, chúng ta xác tín rằng, trong thực tế, con người không chỉ nhận thức được những chức năng, đối tượng của các ngành khoa học tự nhiên, mà còn nhận thức được về chính hữu thể. Chẳng hạn con người có thể nhận thức được ngôi vị, cái tôi của người khác, chứ không chỉ dừng lại ở khía cạnh thể lý và sinh học của người ấy.

Dưới ánh sáng học thuyết của Thánh Tôma, thần học quả quyết rằng, dầu mang tính giới hạn, nhưng ngôn ngữ tôn giáo vẫn có một giá trị nào đó, bởi lẽ chúng ta đụng chạm đến hữu thể, như thể một mũi tên bay về phía thực tại mà nó muốn biểu đạt. Sự hòa hợp căn bản giữa lý trí con người với đức tin Kitô giáo, được nhìn nhận theo một nguyên tắc căn bản khác trong tư tưởng của Thánh Tôma: Ân sủng của Thiên Chúa không xóa bỏ nhưng giả thiết và kiện toàn bản tính con người. Thực vậy, bản tính con người, ngay cả sau khi tội lỗi, vẫn không bị hủy hoại hoàn toàn, mà chỉ bị tổn thương và bị suy yếu. Ân sủng mà Thiên Chúa tuôn đổ và thông ban qua mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể, là một ân ban hoàn toàn nhưng không, giúp cho bản tính con người được chữa lành, được kiện cường và được nâng đỡ; nhờ đó mà tiếp tục theo đuổi khát vọng thiên phú trong trái tim mỗi người, nam cũng như nữ: đó là hạnh phúc. Mọi quan năng của hữu thể con người được thanh tẩy, được biến đổi và được nâng lên trong ân sủng của Thiên Chúa.

Chúng ta có thể tìm thấy sự áp dụng quan trọng, về mối tương quan giữa tự nhiên và ân sủng trong Thần Học Luân Lý của Thánh Tôma, một nền thần học mà cho đến ngày nay vẫn nổi bật về tính thời sự lớn lao. Thánh Nhân đã đặt lề luật mới, luật của Thần Khí, vào trung tâm học thuyết của mình trong lãnh vực Thần Học Luân Lý. Với một nhãn quan bám chặt cách thâm sâu vào Tin Mừng, Thánh Tôma nhấn mạnh đến sự kiện là luật mới này chính là ân sủng của Thần Khí, được ban tặng cho tất cả những ai tin vào Đức Kitô. Mọi giáo huấn được viết ra hay được truyền khẩu liên quan đến chân lý đức tin và luân lý mà Giáo hội truyền dạy, đều gắn liền với ân sủng này. Thánh Nhân, khi nhấn mạnh đến vai trò nền tảng trong đời sống luân lý của tác động của Thánh Thần và ân sủng, từ đó phát sinh các nhân đức đối thần và các nhân đức luân lý, cho thấy rằng mỗi tín hữu đều có thể đạt tới những viễn tượng khác nhau của “Bài giảng trên núi”, một khi người ấy biết sống trong mối tương quan đích thực của niềm tin đặt nơi Đức Kitô, và luôn mở lòng đối với những tác động của Thánh Thần. Tuy nhiên, Thánh Tôma thêm ngay rằng: “mặc dù ân sủng kiến hiệu hơn tự nhiên, nhưng tự nhiên vẫn là căn bản hơn đối với con người và do đó bền vững hơn”[8]. Đó là lý do tại sao, trong viễn tượng của nền luân lý Kitô giáo, luôn có một vị trí dành cho lý trí, vốn có khả năng biện phân luật luân lý tự nhiên. Lý trí có thể nhận biết được luật luân lý tự nhiên này, khi cân nhắc kỹ lưỡng những gì là tốt phải thực hiện và những gì cần phải tránh, ngõ hầu đạt đến hạnh phúc mà lòng người luôn khắc khoải hướng tới. Đồng thời, niềm hạnh phúc này cũng đòi buộc thái độ trách nhiệm đối với những người khác, và cùng nhau mưu tìm thiện ích chung. Nói cách khác, các nhân đức nơi con người, nhân đức đối thần và luân lý, đều ăn rễ sâu trong bản tính con người. Ân sủng của Thiên Chúa đồng hành, nâng đỡ và thúc đẩy sự dấn thân về phương diện luân lý, nhưng tự thân mỗi người, theo Thánh Tôma, dù tin hay không tin, đều được mời gọi nhìn nhận những yêu sách của bản tính con người, được diễn tả trong luật tự nhiên, và đồng thời lấy luật tự nhiên này làm khởi hứng trong việc công thức hóa các luật thiết định, nghĩa là những luật phát xuất từ các quyền bính dân sự và chính trị, nhằm quy định sự cùng tồn tại của con người.

Một khi luật tự nhiên và trách nhiệm được hàm chứa trong luật này bị phủ nhận, thì theo một cách bi thảm nào đó, người ta đang mở đường cho chủ thuyết tương đối về luân lý trên bình diện cá nhân, và cho chủ nghĩa độc tài toàn trị của quốc gia trên bình diện chính trị. Việc bảo vệ những quyền phổ quát của con người, cũng như khẳng định về giá trị tuyệt đối của phẩm giá ngôi vị, phải giả thiết một nền tảng nào đó. Phải chăng nền tảng này chính là luật tự nhiên, cùng với những giá trị không thể phủ nhận mà luật tự nhiên này biểu thị? Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II khả kính đã viết trong Thông điệp “Evangelicum Vitae” (Tin Mừng Sự Sống), những lời hiện vẫn còn mang tính thời sự rất lớn: “Vì tương lai của xã hội và vì sự phát triển của một nền dân chủ lành mạnh, phải khẩn thiết tái khám phá sự hiện hữu của những giá trị cǎn bản và thiên phú về mặt nhân bản cũng như về mặt luân lý, được phát xuất từ chính chân lý về hữu thể con người. Những giá trị này vừa diễn tả vừa bảo vệ phẩm giá của ngôi vị. Bởi vì, đây là những giá trị mà không một ai, không một tổ chức nào, không một quốc gia nào có thể sáng tạo, thay đổi hay hủy bỏ, nhưng đòi buộc mọi người phải nhìn nhận, tôn trọng và cổ võ những giá trị đó.”[9]

Kết: Thánh Tôma giới thiệu cho chúng ta một khái niệm vừa rộng lớn vừa khả tín về lý trí con người. Rộng lớn, bởi lẽ khái niệm về lý trí con người không bị giới hạn vào những không gian của cái gọi là lý trí khoa học - duy nghiệm - nhưng nó mở ra với toàn thể hữu thể. Và như vậy, nó cũng mở ra với những vấn nạn căn bản cũng như với những vấn nạn mà người ta không thể phủ nhận đối với sự sống con người. Khả tín, bởi vì lý trí con người, đặc biệt là nếu nó đón nhận những khởi hứng từ đức tin Kitô giáo, sẽ là tác nhân cổ võ cho một nền văn minh có khả năng nhìn nhận phẩm giá của ngôi vị, cũng như tính bất khả xâm phạm của những quyền lợi và tính chất bó buộc của những bổn phận của ngôi vị con người. Chẳng có gì phải ngạc nhiên khi mà học thuyết về phẩm giá ngôi vị, nền tảng cho việc nhìn nhận đặc tính bất khả xâm phạm của con người, được khai triển trong nhiều lãnh vực tư tưởng đã đón nhận di sản từ Thánh Tôma, vị thánh đã đưa ra một quan niệm cao quý về con người. Thánh Nhân định nghĩa ngôi vị bằng ngôn ngữ triết học rất chính xác như sau: “Ngôi vị là cái hoàn hảo nhất có thể tìm thấy được trong toàn thể thiên nhiên, nghĩa là bản thể cá vị của một bản tính có lý trí”[10].

Chúng ta đừng bao giờ quên rằng, sự sâu sắc trong tư tưởng của Thánh Tôma phát xuất từ chính đức tin sống động, cũng như từ lòng kính yêu sâu sắc mà Thánh Nhân diễn tả trong những lời kinh nguyện đầy linh hứng. Chẳng hạn như trong lời kinh nguyện ngài cầu xin Chúa: “Con cầu xin Chúa, hãy ban cho con một trái tim luôn tìm kiếm Chúa, một lý trí để hiểu biết Chúa, một sự minh triết để gặp được Chúa, một cuộc sống đức hạnh để làm Chúa vui, một sự kiên trung bền chí để chờ đợi Chúa, và một niềm hy vọng tin tưởng là sau cùng sẽ được ở bên Chúa”.

***

Thứ Tư, ngày 23 - 06 - 2010

Anh chị em thân mến,

Ngày hôm nay, qua phần thứ ba này, tôi muốn hoàn tất những bài giáo huấn về Thánh Tôma Aquinô. Ngay cả khi Thánh Nhân đã qua đời được 700 năm, thế mà chúng ta vẫn có thể học hỏi được rất nhiều điều từ nơi ngài. Đấy chính là điều mà vị tiền nhiệm của tôi, Đức Giáo Hoàng Phaolô VI, cũng đã đề cập tới. Trong một diễn văn đọc tại Fossanova ngày 14.09.1974, nhân dịp 700 ngày Thánh Tôma qua đời, Đức Phaolô VI đã đặt câu hỏi: “Thưa Thánh Tôma, vị tôn sư của chúng con, bài học nào ngài có thể chỉ dạy cho chúng con?” và rồi ngài tự trả lời như thế này: “Niềm xác tín vào chân lý của nền tư tưởng Công giáo, như ngài đã từng bảo vệ, trình bày và mở toang chân lý ấy cho khả năng nhận thức của trí tuệ con người”.[11] Cũng ngày hôm đó tại Aquinô, và vẫn luôn luôn quy chiếu về Thánh Tôma, Đức Phaolô VI khẳng định: “Tất cả chúng ta là những người con trung thành của Giáo hội, chúng ta có thể và phải là những môn sinh của ngài, ít ra là ở một mức độ nào đó”[12].

Bởi thế, chúng ta cùng được mời gọi học hỏi các học thuyết của Thánh Nhân, và nhất là kiệt tác của ngài, bộ Tổng Luận Thần Học. Dầu chưa hoàn thành, bộ Tổng Luận này vẫn là một công trình đồ sộ, bao gồm 512 vấn nạn và 2669 điều khoản. Công trình này tạo thành một hệ thống lý luận chặt chẽ, trong đó việc áp dụng lý trí con người vào các mầu nhiệm đức tin được tiến hành cách sáng sủa và sâu sắc, kết hợp hài hòa giữa những vấn nạn và giải đáp mà thông qua đó, Thánh Nhân đã đào sâu giáo huấn phát xuất từ Thánh Kinh và các Giáo phụ, nhất là từ Thánh Augustinô. Trong tiến trình suy tư này, thông qua cuộc gặp gỡ với những vấn nạn thực sự của thời đại ngài, vốn cũng là và thường là những vấn nạn của thời đại chúng ta, Thánh Tôma, bằng cách sử dụng những phương pháp và tư tưởng của các triết gia thượng cổ, nhất là của Aristote, đã vươn tới những công thức chính xác, sáng suốt và thích đáng về các chân lý đức tin; trong đó, chân lý là quà tặng của đức tin, chân lý chiếu tỏa rạng rỡ và giúp chúng ta có thể vươn tới chân lý này trong công cuộc suy tư của mình. Tuy nhiên, nỗ lực này của trí tuệ nhân loại - Thánh Tôma nhắc nhở qua chính cuộc đời ngài - phải luôn cần đến sự soi sáng bằng lời cầu nguyện, bằng ánh sáng đến từ Trời Cao. Chỉ những ai sống trong Thiên Chúa và với các huyền nhiệm của Ngài, thì mới có thể lĩnh hội được những điều mà các huyền nhiệm ấy muốn nói với chúng ta.

Trong bộ Tổng Luận, Thánh Tôma khởi đi từ sự kiện là có ba cách thức khác nhau để diễn đạt về sự hiện hữu và về yếu tính của Thiên Chúa: Thiên Chúa hiện hữu trong chính Ngài, Ngài là nguyên lý và là cùng đích của muôn loài muôn vật, chính vì vậy mà tất cả mọi thụ tạo đều xuất phát và tùy thuộc vào Thiên Chúa. Tiếp đến, Thiên Chúa hiện diện qua ân sủng của Ngài trong cuộc đời và trong hoạt động của người Kitô hữu, của Các Thánh. Và sau cùng, Thiên Chúa hiện diện theo một cách thế hoàn toàn đặc biệt trong Ngôi vị của Đức Kitô và trong các Bí tích, phát sinh từ công trình cứu chuộc của Người. Tuy nhiên, cấu trúc của công trình đồ sộ này[13], cuộc truy tìm sự viên mãn của Thiên Chúa với “một nhãn quan thần học”[14], được phân chia thành ba phần, và được chính vị Tiến sĩ chung của Giáo hội, Thánh Tôma, minh họa với những lời sau: “Mục đích chính yếu của khoa học thánh là nhằm truyền đạt tri thức về Thiên Chúa, không chỉ những điều Ngài là trong chính bản thân Ngài, nhưng còn với tư cách là khởi nguyên và cùng đích của muôn loài muôn vật, và đặc biệt của thụ tạo có lý trí.... Khi trình bày học thuyết này, chúng tôi sẽ bàn: (1) về Thiên Chúa; (2) về hoạt động của thụ tạo có lý trí trên đường trở về với Thiên Chúa; (3) về Đức Kitô, Đấng với tư cách là con người, là con đường dẫn đưa con người trở về cùng Thiên Chúa”[15]. Đây là một vòng tròn: Thiên Chúa trong chính bản thân Ngài, Thiên Chúa đi ra khỏi chính mình, Ngài nhận trách nhiệm thay cho chúng ta, để cùng với Đức Kitô, chúng ta trở về với Thiên Chúa, chúng ta được kết hợp với Thiên Chúa, Đấng là tất cả trong tất cả.

Phần thứ nhất của bộ Tổng Luận Thần Học truy tìm về Thiên Chúa trong chính bản thân Ngài, về mầu nhiệm Ba Ngôi và về hoạt động sáng tạo của Thiên Chúa. Trong phần này, chúng ta cũng bắt gặp được một suy tư sâu sắc về thực tại đích thực của con người, với tư cách là một thực tại bước ra khỏi bàn tay sáng tạo của Thiên Chúa, hoa trái tình yêu của Ngài. Một đàng, chúng ta là những hữu thể được tạo dựng và phụ thuộc, chúng ta không bắt nguồn từ chính mình; nhưng đàng khác, chúng ta có một sự độc lập thực sự. Nghĩa là, chúng ta không chỉ là một điều gì đó có dáng vẻ bề ngoài mà thôi - như một số triết gia theo trường phái Platon vẫn thường nói - nhưng còn là một thực tại được chính Thiên Chúa muốn như thế, và thực tại đó có một giá trị trong chính bản thân nó.

Trong phần thứ hai, Thánh Tôma cứu xét con người trong khát vọng nhận thức và yêu mến Thiên Chúa để được hạnh phúc trong thời gian và trong vĩnh cửu, khi được ân sủng thúc đẩy. Trước hết, Thánh Nhân trình bày những nguyên tắc thần học của hoạt động luân lý, khi nghiên cứu lý trí cũng như ý chí và các đam mê, đã được hòa nhập như thế nào trong sự chọn lựa tự do của con người, nhằm thực hiện những hành vi tốt lành. Thêm vào những yếu tố này, là sức mạnh mà ân sủng của Thiên Chúa ban tặng qua các nhân đức và các hồng ân của Thánh Thần, chẳng hạn sự trợ giúp cũng được tặng ban bởi luật luân lý. Như thế, con người là một hữu thể năng động luôn tìm kiếm chính mình, khát vọng để được là chính mình, và một cách nào đó, luôn tìm cách thực hiện những hành vi xây dựng chính mình, và làm cho mình thực sự trở thành người hơn. Ai có khả năng thông suốt được luật luân lý, thì cũng có khả năng hiểu được ân sủng, đồng thời cũng có khả năng đi sâu vào trong lý trí, ý chí cũng như những đam mê của mình. Dựa trên nền tảng này, Thánh Tôma đã phác họa diện mạo của con người sống theo Thần Khí và như thế trở thành hình ảnh của Thiên Chúa. Thánh Nhân dừng lại ở đây để nghiên cứu ba nhân đức đối thần: Đức Tin – Đức Cậy – Đức Mến, tiếp theo sau là phần nghiên cứu kỹ lưỡng hơn 50 “Nhân Đức Luân Lý”, được sắp đặt xoay quanh bốn “Nhân Đức Trụ”: Khôn Ngoan - Công Bình - Tiết Độ - Can Đảm. Sau đó ngài kết thúc bằng một suy tư về những ơn gọi khác nhau trong Giáo hội.

Trong phần thứ ba của bộ Tổng Luận, Thánh Tôma nghiên cứu mầu nhiệm Đức Kitô, con đường và chân lý, để nhờ đó chúng ta có thể trở về đoàn tụ với Thiên Chúa là Cha. Trong phần này, Thánh Nhân hầu như chỉ viết những trang về mầu nhiệm Nhập Thể và về cuộc Khổ nạn của Đức Giêsu. Sau đó ngài thêm vào một phần suy tư phong phú về Bảy Bí tích, bởi lẽ chính trong Bảy Bí tích, Lời Thiên Chúa nhập thể trải rộng những ân lộc của mầu nhiệm Nhập Thể vì ơn cứu rỗi của con người, vì cuộc lữ hành đức tin của chúng ta trở về với Thiên Chúa, cũng như vì sự sống vĩnh cửu, và Thiên Chúa luôn hiện diện cách hữu hình với các thực tại của công trình sáng tạo, và Ngài đụng chạm đến chúng ta trong nơi sâu thẳm nhất của mỗi người.

Khi bàn về các Bí tích, Thánh Tôma suy tư một cách đặc biệt về mầu nhiệm Thánh thể, vì lẽ Thánh Nhân có một lòng sùng kính đặc biệt đối với mầu nhiệm này, đến nỗi mà, theo các bản tiểu sử xưa kể lại, ngài có thói quen kề sát mặt mình gần nhà tạm như thể để cảm thấy nhịp đập của trái tim Chúa Giêsu, Thiên-Nhân. Qua một trong những tác phẩm chú giải Thánh Kinh, Thánh Tôma giúp chúng ta hiểu được sự tuyệt vời của Bí tích Thánh thể khi ngài viết: “Thánh Thể là bí tích của cuộc khổ nạn của Chúa chúng ta. Thánh Thể hàm chứa trong mình Đức Giêsu Kitô chịu đau khổ vì chúng ta. Và như vậy, tất cả những gì là hiệu quả của cuộc khổ nạn của Chúa chúng ta thì cũng là hiệu quả của Bí tích này. Bởi vì, Bí tích Thánh Thể không gì khác hơn, chính là sự áp dụng cuộc khổ nạn của Chúa đối với chúng ta”[16]. Chúng ta hiểu rõ được lý do tại sao Thánh Tôma và các vị thánh khác, khi cử hành thánh lễ thường hay rơi lệ vì cảm thương Đức Chúa, Đấng đã hiến dâng chính mình làm hy tế vì chúng ta, những giọt lệ của niềm vui và của lòng biết ơn.

Anh chị em thân mến,

Theo gương Các Thánh, chúng ta hãy say mê Bí tích Thánh Thể! Chúng ta hãy tham dự thánh lễ với tâm hồn thanh tịnh, ngõ hầu kín múc được những hoa trái tâm linh. Chúng ta hãy siêng năng rước Mình và Máu Chúa, để không ngừng được ân sủng của Người nuôi dưỡng! Chúng ta hãy vui lòng trò chuyện cách thường xuyên và thân tình với Đức Giêsu nơi Bí Tích cực thánh này!

Những điều mà Thánh Tôma diễn đạt trong các tác phẩm thần học chính yếu của ngài, với một sự chính xác mang tính khoa học cao, đích xác, như bộ “Tổng Luận Thần Học” (Summa Theologiae), và cả bộ “Tổng Luận Chống Lương Dân” (Summa Contra Gentiles), cũng đã được trình bày trong các bài giảng của ngài, được dành cho các sinh viên cũng như cho các tín hữu. Vào năm 1273, một năm trước khi Thánh Nhân qua đời, ngài đã giảng thuyết suốt cả Mùa Chay tại nhà thờ San Domenico Maggiore thành Napoli. Nội dung các bài giảng trong dịp này đã được thu thập và lưu giữ trong một tập sách gọi là “Opuscules” (tập sách nhỏ hay tiểu luận). Trong đó, ngài diễn giải về Kinh Tin Kính của các Tông Đồ, chú giải Kinh Lạy Cha, trình bày về Mười Giới Luật, và bình giải về Kinh Kính Mừng. Nội dung các bài giảng của vị “Tiến Sĩ Thiên Thần” (Doctor Angelicus) hầu như tương ứng hoàn toàn với cấu trúc của sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo. Thực vậy, trong việc giảng dạy giáo lý và tác vụ giảng thuyết, ở một thời đại như thời chúng ta đây với việc dấn thân cách mới mẻ cho công cuộc phúc âm hóa, thì không bao giờ được phép bỏ qua những luận chứng nền tảng như thế: những điều chúng ta tin thì có Kinh Tin Kính; những điều chúng ta cầu nguyện, thì có Kinh Lạy Cha và Kinh Kính Mừng; những điều phải sống như Mạc Khải đã dạy chúng ta, thì đã có luật mến Chúa và yêu tha nhân, và Mười Giới Luật như một sự giải thích về đòi buộc của Tình Yêu.

Tôi xin được nêu lên một vài dẫn chứng về nội dung đơn giản, nhưng chính yếu và thuyết phục, trong giáo huấn của Thánh Tôma. Trong tập Tiểu Luận của ngài về Kinh Tin Kính của các Tông Đồ, ngài diễn giải giá trị của đức tin. Ngài nói rằng qua trung gian đức tin, linh hồn kết hiệp với Thiên Chúa, và sản sinh ra chồi non của sự sống vĩnh cửu. Cuộc sống tiếp nhận được một định hướng khả tín, và chúng ta có thể dễ dàng vượt qua những cám dỗ. Đối với những ai chê trách rằng đức tin là một sự ngốc nghếch, bởi vì nó khiến người ta tin vào những điều không thuộc về kinh nghiệm khả giác, Thánh Tôma đã trao tặng một câu trả lời rất khúc triết và ngài nhắc lại rằng, đây là một sự hoài nghi không vững chắc. Bởi vì trí năng con người giới hạn và không thể nào nhận thức được tất cả. Chỉ khi nào chúng ta có khả năng nhận thức hoàn toàn được tất cả mọi sự hữu hình và vô hình, thì khi đó sẽ thực sự là ngu ngốc nếu chấp nhận các chân lý bằng một đức tin thuần túy. Đàng khác, Thánh Nhân cho thấy rằng, bất cứ nơi đâu mà lý trí con người không thể vươn tới được, thì người ta không thể sống nếu không tin tưởng vào kinh nghiệm của người khác. Như vậy, thật là hữu lý khi đặt niềm tin vào Thiên Chúa, Đấng đã Mạc Khải chính mình, và vào chứng tá của Các Thánh Tông Đồ. Các Tông Đồ chỉ là một nhóm nhỏ, đơn sơ và nghèo hèn, bị đảo lộn vì Thầy mình bị đóng đinh vào thập giá, ấy thế mà có rất nhiều người khôn ngoan, quyền quý và giàu sang đã hoán cải, chỉ sau một thời gian vắn vỏi được nghe các Tông Đồ rao giảng. Quả thực, đây là một hiện tượng phi thường trong lịch sử, và người ta khó có thể đưa ra một câu trả lời hữu lý nào khác cho hiện tượng này, nếu đó không phải là cuộc hội ngộ giữa các Tông Đồ và Đức Kitô Phục Sinh.

Khi bình giải về việc Nhập Thể của Ngôi Lời Thiên Chúa trong Kinh Tin Kính, Thánh Tôma đã đưa ra một số ghi nhận. Ngài quả quyết rằng đức tin Kitô giáo sẽ được kiện cường, nếu người ta biết chiêm ngắm mầu nhiệm Nhập Thể. Niềm hy vọng được gia tăng với niềm xác tín rằng Con Thiên Chúa đã đến giữa chúng ta, như một người trong chúng ta, để thông truyền cho con người thần tính của Ngài. Niềm hy vọng được thổi bừng lên, bởi vì không có một dấu chỉ nào hiển nhiên hơn, về tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta cho bằng thấy chính Đấng Sáng Tạo vũ trụ đã trở nên như thụ tạo, một người giữa chúng ta. Cuối cùng, nếu chúng ta suy tư sâu xa về mầu nhiệm Nhập Thể của Thiên Chúa, chúng ta cảm thấy cháy bừng lên khát vọng gặp gỡ Đức Kitô trong vinh quang. Với một so sánh đơn giản nhưng sâu sắc, Thánh Nhân lập luận rằng: “Nếu một người anh em của đức vua ở đàng xa, chắc hẳn người ấy phải rất nóng lòng để được sống bên đức vua. Vậy mà Đức Kitô thực sự là người anh em của chúng ta, như thế chúng ta phải khao khát trở thành bạn đồng hành với Người, và trở nên cùng một trái tim với Người.”[17]

Khi trình bày về Kinh Lạy Cha, Thánh Nhân chỉ ra rằng đó là một lời kinh nguyện tuyệt hảo, vì có năm đặc tính mà một lời cầu nguyện hoàn chỉnh cần phải có: đầy tin tưởng và bình tâm, một nội dung xứng hợp, vì - như Thánh Nhân lý giải - “thật khó để xác định đúng đắn và thích hợp về điều mình cần nguyện xin hay chưa cần thiết, về thời điểm cam go khi phải đối diện với những chọn lựa giữa các ước muốn”, thứ tự ưu tiên của những lời thỉnh cầu, nhiệt tâm yêu mến và lòng khiêm nhượng chân thành.

Như tất cả Các Thánh, Thánh Tôma cũng có một lòng sùng kính đặc biệt đối với Đức Trinh Nữ Maria. Thánh Nhân đã gọi Người bằng một cái tên rất tuyệt vời: “Triclinium totius Trinitatis, triclinium - Mẹ là nơi Ba Ngôi Thiên Chúa tìm đến nghỉ ngơi”. Bởi vì trong công cuộc Nhập Thể, không nơi một thụ tạo nào được như nơi Mẹ, Ba Ngôi Thiên Chúa tìm được và cảm thấy vui thú và hoan hỷ khi cư ngụ trong tâm hồn đầy ân sủng của Mẹ. Vì thế, chúng ta có được mọi sự trợ giúp cần thiết nhờ sự bầu cử của Mẹ.

Với một lời cầu nguyện mà truyền thống vẫn cho là của Thánh Tôma, và dù gì đi nữa, thì đó cũng là lời kinh nguyện phản ánh những yếu tố sâu sắc tâm tình kính mến Đức Maria; chúng ta cùng đọc lên lời kinh này: “Ôi Đức Nữ Trinh Maria diễm phúc và dịu hiền, Mẹ Thiên Chúa. Con xin phó trọn cuộc sống con nơi trái tim từ ái của Mẹ. Lạy Mẹ rất dịu hiền của con, xin cho con có được một tình yêu thực sự, nhờ đó con có thể yêu mến trọn tâm hồn con, trước hết là Con Chí Ái của Mẹ, sau Người và trên hết mọi sự là Mẹ, và thứ đến, để con yêu thương tha nhân trong Thiên Chúa và vì Ngài.”

 

 

 


[1] Loạt bài Giáo huấn của Đức Giáo Hoàng Benedict XVI về Thánh Tôma Aquinô vào thứ Tư hàng tuần gồm: Thứ Tư, ngày 01.06.2010 ; Thứ Tư, ngày 06.06.2010 ; Thứ Tư, ngày 23.06.2010

[2] Đây là một vị trí uy tín và danh dự, không chỉ đối với Dòng Anh Em Giảng Thuyết (Dòng Đaminh), mà còn đối với toàn thể Giáo hội.

[3] IIa, q. 23, a. 1

[4] Xc. Jean-Pierre Torell, Tôma Aquinô: Con người và thần học gia, Casale Monferrato, 1994, tr. 118 – 184

[5] Ia, q. 1, a. 2

[6] q. 2, a. 2

[7] Xc. DS 806

[8] Ia – IIae, q. 94, a. 6, ad. 2

[9] Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Thông điệp “Evangelicum Vitae”, số 71.

[10] Ia, q. 29, a.3

[11] Insegnamenti di Paolo VI, XII, 1974, tr. 833-834

[12] Insegnamenti di Paolo VI, XII, 1974, tr. 836

[13] Xc. Jean-Pierre Torrell, La “Summa” di san Tommaso, Milan 2003, tr. 29-75

[14] Xc. Ia, q. 1, a. 7

[15] Xc. Ia, q. 2

[16] Xc. Chú giải Thánh Gioan, ch. 6, bài đọc 6, số 963

[17] Opuscoli tologico-spirituali, Rome, 1976, tr. 64

 

 

Catechesis.Net