• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

Loan Giảng Chúa Giêsu Kitô Trong Bối Cảnh Hồi Giáo: Tại Sao Không?

Tác giả: Bishop Alexander J. Malik

Chuyển ngữ: Jac. Vũ Thế Hanh, OP.

 

 

Hồi giáo quan niệm thế nào về Thiên Chúa? Hồi giáo đón nhận Đức Giêsu thế nào? Những Kitô hữu gặp phải khó khăn gì khi tuyên tín Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ và là Thiên Chúa trong bối cảnh của Hồi giáo? Bằng kinh nghiệm của mình khi tiếp cận với môi trường Hồi giáo, với việc nghiên cứu so sánh và suy tư Kinh Thánh và sách Kinh Qur’an, bộ kinh chính yếu của Hồi giáo, Đức Giám mục Alexander Malik, Giám mục của Lahore Diecese ở Pakistan, một trong những vị chủ chăn không mệt mỏi trên vùng đất này sẽ giúp cho độc giả phần nào hiểu được những vấn nạn trên.

Đối với tôi, “Confessing Christ in an Islamic Context” (trình bày Đức Giêsu trong bối cảnh Hồi giáo) là một chủ đề “khó nuốt”, vì việc tuyên tín Đức Giêsu có lẽ rất khác nhau từ cách thức, phương pháp, lối biểu hiện, đến bối cảnh. Tôi hoàn toàn dựa vào Thánh kinh để khai triển chủ đề này. Theo tôi, đây là cách thức hợp lý, bởi chính các thánh sử cũng đã viết Tin Mừng trong hoàn cảnh cụ thể mà các vị sống. Chẳng hạn, Matthew viết Tin Mừng cho người Do Thái; do đó, thánh nhân sử dụng hầu hết những thuật ngữ và những bản văn Kinh Thánh Do Thái. Ngược lại, thánh sử Gioan viết cho những người Do Thái thuộc nền văn hóa Hy Lạp, thánh nhân sử dụng phần nhiều thuật ngữ Hy Lạp để biểu hiện cùng một Đức Kitô. Thánh Matthew xem việc minh chứng Đức Giêsu là Đấng Kitô là điều quan trọng nhất. Ngược lại, thánh Gioan lại cũng diễn tả cùng một Đức Kitô như thế trong những hạn từ triết học Hy Lạp như “Logos” (Lời), “Sự sống” “Ánh sáng”,... Như vậy, chúng ta nhận thấy rằng, chính bối cảnh đã tạo nên sự tuyên tín về Đức Giêsu trong những bối cảnh khác nhau. Chúng ta nhận thấy, thánh Phaolô cũng dùng cùng cách thức như vậy nếu chúng ta có thể nói thế. Thật vậy, để tuyên tín Đức Kitô, thánh Phaolô nói: “với người Do Thái, tôi trở thành người Do Thái để chinh phục người Do Thái” (1Cr 9,20). Đến đây ta nói được rằng, chúng ta có thể dùng những hạn từ khác nhau trong bối cảnh Hồi giáo, Ấn giáo, Phật giáo, hoặc Marxist để diễn tả cùng một Đức Giêsu. Khi chúng ta nói về “niềm tin vào Đức Giêsu trong bối cảnh Hồi giáo”, chúng ta biết ngay rằng, niềm tin này có ảnh hưởng một cách đặc biệt đến Pakistan. Bài này gồm hai phần: phần một diễn tả những khó khăn khi tuyên tín Đức Kitô trong bối cảnh Hồi giáo; phần hai khai triển những đường lối khác nhau nhờ đó có thể loan giảng Đức Giêsu trong bối cảnh Hồi giáo.

I. NHỮNG KHÓ KHĂN

Khi tuyên tín Đức Kitô trong bối cảnh Hồi giáo, Kitô hữu đối diện với ít nhất ba khó khăn chính yếu.

- Thứ nhất, phải đối đầu với một hình thức giản hóa luận (đơn giản hóa) về Kitô học trong Kinh Qur’an;

- Thứ hai, uy tín và tính xác thực về Kinh Thánh Kitô giáo bị giảm thiểu bởi một tín ngưỡng mà nơi đó, những bản văn Kinh Thánh Kitô giáo đã bị sửa đổi và bài trừ;

- Thứ ba, vị ngôn sứ của Hồi giáo đã dần dần đổi thành “Đấng Kitô Hồi giáo”.

Người ta dễ dàng nhận ra một sự phát triển giáo lý của “Muhamad học” chống lại “Kitô học”. Bị đối kháng với những khó khăn nền tảng này và vô vàn vô số những khó khăn khác, Kitô hữu sẽ tiếp tục tuyên tín Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa, là Đấng Cứu Độ như thế nào trong bối cảnh Hồi giáo vô vàn phức tạp như thế?

Trong bối cảnh Hồi giáo, Đức Giêsu không phải là một nhân vật vô danh. Mọi tín đồ Hồi giáo đều rất thân quen với Đức Giêsu trong những bản Kinh Thánh của họ, điển hình là Kinh Qur’an. Ngoài bản Kinh Thánh Kitô giáo (Bible), Kinh Qur’an là bản Kinh Thánh duy nhất đề cập đến Đức Giêsu. Làm gì tìm thấy danh Giêsu Kitô trong những bản văn của Ấn giáo, Phật giáo, Khổng giáo. Ấy vậy mà Qur’an nhắc đến Đức Giêsu Kitô đến 93 lần. Bản Surah diễn tả tỉ mỉ trình thuật Truyền Tin và Sinh hạ của Đức Giêsu Kitô.[1] Kinh Qur’an dùng những danh xưng tuyệt đẹp và những danh hiệu tuyệt đẹp diễn tả Đức Giêsu hơn mọi vị tiên tri khác. Chẳng hạn: Người được gọi là “Ibni-Maryan” (Con của Đức Maria); “Al-Masih” (Đấng Mêsia); “Abid, Nabi và Rasul” (Người Tôi Tớ; Tiên Tri; và Tông Đồ); “Kalimat-Ullah” (Lời của Thiên Chúa)“Ruh-Kallimat-Uhllah” (Thần Khí của Đức Chúa).[2] Trong bộ Qur’an, có những bản Hurahs diễn tả lời Đức Giêsu dạy, việc Đức Giêsu làm và cuối cùng là biến cố thăng thiên về cõi trời mà không hề phải trải qua cái chết thập tự.[3] Tất cả những gì trong Qur’an diễn tả Đức Giêsu, xét về bề ngoài, đều tương đương với những trình thuật trong Tin Mừng. Nhưng khi đọc thật kỹ, người ta sẽ nhận thấy bộ Qur’an mạnh mẽ chối từ những nét đặc trưng nền tảng của “Kitô học” Kitô giáo. Giáo Hội Kitô giáo xác tín: “Đức Giêsu Kitô vừa là Thiên Chúa vừa là con người”. Nơi Đức Giêsu mang ba chiều kích: “Ngôn Sứ”, “Tư Tế”, “Vương Đế”. Thế nhưng, tất cả những chức vụ này chẳng có ở trong Qur’an. Hơn nữa, những chân lý này dứt khoát bị chối từ. Chính vì thế, vấn đề ở chỗ không phải là những gì bộ Qur’an đề cập đến Đức Giêsu cho bằng những thứ mà họ chối từ. Điều này rất hệ trọng, hầu có thể tuyên tín Đức Giêsu trong bối cảnh Hồi giáo.

Bộ Qur’an chối từ “Thiên Chúa tính”“vai trò làm Con của Đức Giêsu Kitô”. Đối với tín đồ Hồi giáo, Đức Giêsu chỉ là một thọ tạo thuần túy giống như Adam mà thôi. Qur’an dạy:

- “Đối với Allah (Thiên Chúa), trường hợp của ‘Isa (Đức Giêsu) giống như trường hợp của Adam. Ngài (Allah) tạo Người từ đất bụi, rồi phán cho Người: “Hãy thành” và Người thành như thế” (Surah 3,59).

Những ai xác tín rằng Đức Giêsu Kitô vượt trổi hơn con người đều là những người không phải Đạo Hồi:

- “Những người Do Thái gọi “Uzayr” (Ezra) là con trai của Allah và các tín đồ Thiên Chúa giáo gọi Masih (Giêsu) là con trai của Allah. Đó là lời nói phát ra từ miệng của họ, bắt chước lời nói của những kẻ đã không có đức tin trước đây. Allah nguyền rủa họ. Sao mà họ lầm lạc đến thế” (Surah 9,30).

Không những Đức Giêsu chỉ là thọ tạo thuần túy, nhưng Ngài cũng không mang bản tính của Thiên Chúa, và Ngài không hề mảy may tham dự vào ý định Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ này:

- “Chắc chắn là không có đức tin cho những ai nói rằng Allah là Masih (Giêsu), con trai của Maryam (Đức Maria). Hãy bảo họ: “Thế thì ai có quyền của Allah nếu Ngài muốn tiêu diệt Misih (Đức Giêsu) lẫn Mẹ của Ngài và bất cứ ai trên mặt đất này” (Surah 5,17).

Bất kỳ tín đồ Hồi giáo nào khi nói về Đức Giêsu, họ đều bắt đầu với một một lời khẳng định rằng Ngài chỉ là một phàm nhân giữa muôn ngàn phàm nhân:

- “Người (Đức Giêsu) chỉ là một người bề tôi (của Ta: Allah). Ta ban ân cho Người và lấy Người làm gương sáng cho con cái Israel. Nếu Ta muốn thì Ta đã làm ra Thiên Thần trong các người để kế tục nhau trên trái đất” (Surah 43,59-60).

Tính chất “Người Con” của Đức Giêsu dứt khoát bị chối từ:

- “Và chúng nói: “Đấng (Allah) Rất Mực Độ Lượng đã có một đứa con trai. Chắc chắn các người đã dựng đứng một điều vô cùng tày trời. Vì (lời phạm thượng) đó mà các tầng trời gần như muốn vỡ làm hai và những quả núi gần như muốn sụp đổ tan tành, về việc chúng bịa đặt điều cho rằng Đấng Rất Mực Độ Lượng đã có con trai, và thật hết sức phi lý cho rằng Đấng Rất Mực Độ Lượng đã có một con trai; bởi vì thật ra mọi nhân vật trong các tầng trời và trái đất đều đến trình diện Đấng Rất Mực Độ Lượng như một bề tôi không hơn không kém” (Surah 19, 88-93).

- “Và hãy bảo rằng: “Mọi lời ca ngợi và biết ơn đều dâng lên Allah, Đấng đã không nhận ai làm con trai (của Ngài) và Ngài không có một kẻ “hợp tác” nào chia sẻ quyền bính cai trị của Ngài và Ngài không quá yếu đuối mà có một người Bảo Hộ (Wali) để giúp Ngài. Và hãy làm rạng rỡ sự Vĩ Đại của Ngài” (Surah 17,111).

Mặc dù Kinh Qur’an đã có những danh xưng rất trân trọng và những tước vị cao quý cho Đức Giêsu, cho phẩm giá của Ngài, về đặc tính vô tội của Ngài hoặc sức mạnh của Ngài để làm những phép lạ, nhưng Ngài chỉ là một thụ tạo, Ngài cũng chỉ giống như các ngôn sứ đã xuất hiện trước Ngài, thế thôi. Việc tiền hữu (pre-existence) của Đức Giêsu bị phủ nhận mọi lúc mọi nơi. Bất kể ý niệm nhập thể nào đều là điều ghê tởm đáng ghét nơi Qur’an cũng như nơi những tín đồ Hồi giáo. Người ta cũng quan niệm như thế đối với những việc Đức Giêsu làm và những lời Đức Giêsu nói. Hồi giáo hoàn toàn chối từ việc Đức Giêsu chết treo thập tự.[4] Chẳng hề có một chút mảy may ý hướng “Đức Giêsu cứu chuộc” trong Qur’an. Đức Giêsu chỉ là một sứ giả, một người loan tin. Người mang “Inji” (Tin Mừng) đến nhưng lại bị những người theo Ngài làm sai lạc đi.[5] Chính vì thế, con người, việc làm và giáo huấn của Ngài bị làm cho giảm thiểu tới mức tầm thường hoặc ở mức tối thiểu. Đức Giêsu chỉ là một ngôn sứ giữa muôn ngàn ngôn sứ được nhắc đến trong Qur’an: “Chúng tôi không hề miệt thị hay phân biệt một ai trong số họ” (những ngôn sứ), những người nổi tiếng được nhắc đến trong đoạn kinh dưới đây:

- “Hãy bảo họ: “Chúng tôi tin nơi Allah và những điều mạc khải đã được ban xuống cho chúng tôi và điều đã được ban xuống cho Abraham và cho Israel, ban cho Isaac và Giacob và cho các bộ lạc của Israel và điều mạc khải đã được ban cho Môsê, cho Giêsu và cho các ngôn sứ đến từ Thiên Chúa của họ. Chúng tôi không kỳ thị phân biệt một ai trong số họ, các vị ngôn sứ của Thiên Chúa” (Surah 3,84).

Đức Giêsu vô tội như tất cả những ngôn sứ vô tội khác. Người đã làm những dấu lạ lớn lao. Nhưng tất cả những việc đó không làm cho Ngài trổi vượt hơn những ngôn sứ khác. Sứ điệp của Đức Giêsu là để loan báo Ngôn Sứ Muhammad sẽ đến và vai trò trọng yếu của Ngài là làm sứ giả cho Ngôn Sứ Muhammad:

- “Hãy nhớ rằng khi Masih (Giêsu), con trai của Maryam (Maria), bảo: “Hỡi con cháu nhà Israel! Ta là Sứ Giả của Thiên Chúa được phái đến cho các người, xác nhận lại những điều trong Kinh Thánh trước Ta và báo Tin Mừng về một sứ giả của Thiên Chúa tên là Ahmad (Muhammad) sẽ đến sau Ta” (Surah 61,6).[6]

Đối diện với những điều mà Qur’an chối từ Đức Giêsu, một Kitô hữu có hai sự lựa chọn khi tuyên tín Đức Kitô. Thứ nhất phải tuyên tín Đức Kitô như những bản văn Kinh Thánh Tân Ước. Người Kitô hữu này phải xác tín mạnh mẽ điều đó, nghĩa là tin vào Đức Giêsu và tuyên xưng Đức Giêsu Kitô như Tin Mừng truyền lại. Lúc này, một tín đồ Hồi giáo sẽ phủ nhận ngay những điều Kitô hữu xác tín vì tín đồ Hồi giáo xác tín rằng những bản Kinh Thánh Kitô giáo đã bị bóp méo và bị bài trừ. Thật vậy, Kinh Qur’an là mối dây liên kết mọi tín đồ Hồi giáo. Khi nói về những bản Kinh Thánh Tawrat (Torah), Zubur (Thánh Vịnh), Injil (Tin Mừng),[7] những tín đồ Hồi giáo được dạy rằng: “những bản Kinh Thánh trên đã bị Kitô giáo xuyên tạc và bóp méo không đáng tin”. Mặt khác, những học giả Hồi giáo đương thời có thế giá rất thuận tiện phát triển quan điểm của họ bằng cách chê bai, chỉ trích Kinh Thánh Kitô giáo. Hơn nữa, đối những tín đồ Hồi giáo, Kinh Qur’an là mạc khải cuối cùng và như thế kinh này hủy bỏ những bản Kinh Thánh trước kia.

Chọn lựa thứ hai là dùng những hạn từ nền tảng của Kinh Qur’an Hồi giáo nói với những tín đồ Hồi giáo. Như vậy, một Kitô hữu phải thấu triệt tất cả những gì được đề cập ở Kinh Qur’an và dùng để diễn tả quan điểm Kitô giáo. Ở đây, người Kitô hữu phải dốc hết sức mình hầu chứng minh rằng điều mà Kinh Qur’an chối từ về con người cũng như hành động của Đức Kitô chẳng có gì đối lập với “Kitô học” Kitô giáo. Thực ra, đã có những học giả Kitô giáo đã khai triển khía cạnh này, chẳng hạn như Pfander, Bevan-Jones, W. Bijiifeld đã cố gắng để giải thích Kinh Qur’an theo quan điểm của Kitô giáo. Nhưng những giải thích và những biện giải thế này đã không thể tiến xa hơn bao nhiêu. Nghĩa là tín đồ Hồi giáo chẳng mấy quan tâm đến những gì người Kitô hữu nói. Tuy nhiên, những nỗ lực như thế đã góp phần làm cho các Kitô hữu sống trong bối cảnh Hồi giáo tin tưởng hơn rằng tôn giáo của họ không tồi tệ như những người Hồi giáo diễn tả.

Khó khăn thứ ba: những tín đồ Hồi giáo chỉ trích Kitô học Kitô giáo. Họ cho rằng, Kitô giáo đã biến một con người thành Thiên Chúa. Họ không đồng ý với những danh xưng, những tước hiệu hết sức kính cẩn mà Kitô giáo đã dùng để biến một vị ngôn sứ của Hồi giáo thành một vị “thần thánh”. Đây là sự thật rất hiển nhiên của Hồi giáo tại Pakistan. Đối với tín đồ Hồi giáo, lời nói của Muhammad chứa sức mạnh tạo dựng. Vạn vật vâng phục ông vì ông là vua và là chúa của chúng. Vương Quốc của ông hiện hữu trong toàn vũ trụ này, ở dưới đất cũng như trên trời. Danh của ông đã được khắc ghi trên trời, trong tất cả mọi sự – cây cối, trên tất cả những cánh cửa và thậm chí trên cả những con mắt của Huris.[8] Danh xưng Muhammad hàm chứa sức mạnh thần diệu; lặp lại hay nhắc đến danh xưng này có sức xoa dịu con người khỏi đau đớn và khổ lụy. Một điểm cần ghi nhận ở đây là xu hướng mới mẻ này, xu hướng tôn thờ vị ngôn sứ Muhammad này phát xuất từ nguồn Hadith. Thật ra, Kinh Qur’an không đề cập nhiều khía cạnh này. Trên thực tế, Kinh Qur’an không cổ võ việc gán những mạnh siêu nhiên cho Muhammad. Những tài liệu có trước cho chúng ta một xác tín chắc chắn rằng Muhammad chỉ thuần túy là một phàm nhân.

Khi cá thể Muhammad nổi bật trong việc giảng dạy được so sánh với cá thể Đức Giêsu trong giáo lý Kitô giáo, người ta có thể tìm thấy hai khuynh hướng khác biệt trong Hồi giáo và Kitô giáo: Hướng thượng và hướng hạ. Hồi giáo là chuyển động hướng thượng, ngược lại, Kitô giáo lại là một chuyển động hướng hạ. Trong Hồi giáo, ngôn sứ Muhammad được đề cao, ngược lại trong Kitô giáo, Đức Kitô, Đấng trong hình thức Thiên Chúa, làm cho trống không và tự hạ, Thiên Chúa trở thành con người. Trong Hồi giáo, một con người được nâng lên cao và trở thành một người hòa giải, ngược lại trong Kitô giáo, Thiên Chúa trở thành một con người trong Đức Giêsu Kitô và trở thành Đấng Hòa Giải.

Như vậy, tuyên tín Đức Giêsu bị gây cản trở không chỉ đối với tính “Kitô học giản hóa trong Qur’an”, nhưng còn ở chỗ những tín đồ Hồi giáo đã có “Đức Kitô” của chính họ trong cá thể của một ngôn sứ Muhammad.

II. THỬ TÌM VÀI CÁCH THỨC ĐỐI THOẠI

Tuyên tín Đức Giêsu trong bối cảnh Hồi giáo có nghĩa là Kitô học của chúng ta phải bị giảm thiểu vào trong tình huống văn hóa xã hội và tôn giáo trong bối cảnh Hồi giáo, và chú tâm vào Hồi giáo. Làm như thế không có nghĩa là giảm thiểu hay hệ thống Kitô học, nhưng đó là một sự cần thiết phải làm thế. Như vậy, trong phần này, chúng ta sẽ nỗ lực nhấn mạnh những ý niệm theo chiều hướng một “Kitô học” có thể bị giảm thiểu. Điều này không có nghĩa những ý niệm này loại trừ lẫn nhau, chúng có thể bổ túc cho nhau.

1. Đức Giêsu là Thiên Chúa

Điểm quan trọng nhất là phải di dời tất cả những hạn từ và những cách diễn đạt của Kitô giáo gây khó chịu cho những tín đồ Hồi giáo như: “Con Thiên Chúa”; “Đức Chúa Kitô”; “cái chết thập tự của Đức Kitô”;... Tại sao lại phải cãi vã về Đức Kitô kia chứ? Thiên Chúa quan trọng hơn cả. Hãy để Đức Giêsu và Muhammad ở yên đã, và chỉ nói về Thiên Chúa thôi. Chỉ có một Thiên Chúa duy nhất của cả Kitô hữu cũng như tín đồ Hồi giáo, chúng ta cần phải sống đời sống lương thiện và công chính theo những luật đạo đức và luân lý của chúng ta. Cái còn lại sau cùng, kết cuộc của mọi tôn giáo là để sống một cuộc đời cho thật tử tế. Nhưng câu hỏi đặt ra ở đây là điều này có dễ dàng không?

Ý niệm thứ hai là chúng ta cần phải tái khám phá “Kitô học Kinh Thánh”. Có thể chính chúng ta rất mù mờ về Đức Kitô Kinh Thánh. Phải chân nhận rằng, những điều chúng ta tuyên tín và những biểu hiện niềm tin vào Đức Kitô của chúng ta hiện nay là thành quả của những thế kỷ trước đã phác họa và chúng ta cứ thế thừa kế. Trong một mức độ nào đó, con người thật sự của Đức Kitô bị chôn vùi vào những hạn từ và những biểu hiện của triết học Hy Lạp. Phận vụ chúng ta là phải vén mở khuôn mặt thực sự của Đức Giêsu ra khỏi những hạn từ và những cách diễn đạt đó. Người ta sẽ đồng ý ngay rằng, chẳng ai có thể làm điều này khi mà tất cả những gì chúng ta hiện có là một phần lịch sử của chúng ta, và chẳng ai có khả năng kéo lịch sử vòng trở lại thế kỷ thứ nhất. Đây là một thực tế, vì lẽ đó việc cần làm là chúng ta phải hụp lặn sâu vào Kinh Thánh để tìm kiếm chân dung thực của Đức Giêsu. Như vậy, điều cần thiết là chúng ta phải đọc ra những nghĩ suy mang tính Do Thái hàm ẩn trong ngôn ngữ Hy Lạp mà những tác giả tiên khởi đã diễn tả trong Tân Ước. Cần chú tâm đến một Kitô học đặt nền trên Kinh Thánh hơn là Kitô học của những Giáo Phụ Hy Lạp, La Tinh, hoặc những Kitô học Đông phương cũng như Tây phương. Nói như thế không có nghĩa chúng ta phủ nhận nỗ lực của các Giáo Phụ. Gia sản các ngài để lại hẳn rất quý giá, nhưng vấn đề là chúng ta phải biết cách học những bài học từ các ngài. Đó là khám phá “Đức Kitô trong Kinh Thánh”, rồi diễn tả Đức Giêsu trong cách nghĩ của những người thuộc nền văn hóa, xã hội và tôn giáo Hồi giáo.

Đâu là những hình thái suy nghĩ mang tính văn hóa xã hội tôn giáo mang tính Hồi giáo? Tư tưởng chủ đạo của Hồi giáo là Đấng “Tawhid” (unity: duy nhất) và Đấng Vĩ Đại (Allah-O-Akbr) của Thiên Chúa. Thiên Chúa là Đấng duy nhất và trổi vượt hơn tất cả. Tuyên tín Đức Giêsu trong bối cảnh Hồi giáo phải khởi đi từ tính “duy nhất”“vĩ đại” của Thiên Chúa.

Một Kitô hữu phải xác quyết với một tín đồ Hồi giáo rằng khi tuyên tín Đức Giêsu là Thiên Chúa, Kitô hữu không tuyên tín bất kỳ một Thiên Chúa nào khác ngoại trừ Thiên Chúa. Khi tuyên tín Đức Giêsu Kitô là Chúa, Kitô hữu không mảy may mang “tội Shirk” (tội thờ các thần không phải Thiên Chúa). Chúng ta có thể tìm những đoạn Kinh Thánh nói về xác tín này.[9] Chúng ta có thể trích dẫn những lời khởi đầu của Công Đồng Nicene: “Tôi tin vào một Thiên Chúa duy nhất...”.

Nếu Thiên Chúa là duy nhất, thế thì Đức Kitô là Thiên Chúa thế nào? Kitô hữu có thể chỉ cho một tín đồ Hồi giáo thấy rằng, Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa trong chính mạc khải của Thiên Chúa. Tín đồ Hồi giáo xem Kinh Qur’an là mạc khải của Thiên Chúa, và như thế là mạc khải Thiên Chúa. Như vậy, nhìn trên bình diện hiện tượng học thì cá thể Đức Giêsu Kitô và Kinh Qur’an có thể được so sánh như là những “mạc khải” của Thiên Chúa và từ Thiên Chúa, là một mạc khải Thượng giới: một mạc khải nơi con người Giêsu và một mạc khải bằng chữ viết. Người ta có thể tìm thấy lối giải thích song song của “mạc khải” vĩnh cửu giữa Thiên Chúa và cuộn sách được bảo vệ giữ gìn (Loho Mahfooz) trong “Kalam” (thần học) Hồi giáo; và Thiên Chúa với “tính làm con vĩnh cửu” của Đức Kitô trong thần học Kitô giáo. Nếu Kinh Qur’an được mạc khải từ một cuộn sách được bảo tồn (Loho Mahfooz), cuộn sách đó có “liên hệ” thế nào tới Thiên Chúa? Cuộn sách đó “ở trong” hay “ở ngoài” Thiên Chúa? Nếu “ở ngoài” Thiên Chúa, thế thì có hai sự vĩnh cửu: một là Thiên Chúa và kế đó là cuộn sách được bảo tồn? Dĩ nhiên, những tín đồ Hồi giáo là những người tuyên xưng thuyết độc thần nghiêm ngặt, sẽ không thể và không tin vào hai sự vĩnh cửu. Khả năng thứ hai là mạc khải này “ở trong” Thiên Chúa, và nếu mạc khải “ở trong” Thiên Chúa thế thì việc “ở trong” Thiên Chúa này phải là một mạc khải “cá thể”, và như vậy, là mạc khải của Thiên Chúa. Dựa vào lập luận này chúng ta có thể tuyên tín Đức Giêsu Kitô là mạc khải hoàn trọn nhất của Thiên Chúa và là Thiên Chúa. Tác giả thư Do Thái đã xác quyết mạnh mẽ: “Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử. Thiên Chúa đã nhờ Người mà dựng nên vũ trụ, đặt Người làm Đấng thừa hưởng muôn vật muôn loài. Người là phản ánh vẻ huy hoàng, là hình ảnh trung thực của bản thể Thiên Chúa. Người là Đấng dùng lời quyền năng mình mà duy trì vạn vật” (Dt 1,1-3). Trong đoạn mở đầu, thánh Gioan cũng nói tương tư: “Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa và Ngôi Lời là Thiên Chúa. Lúc khởi đầu, Người vẫn hướng về Thiên Chúa” (Ga 1,1-2). Nơi Đức Giêsu Kitô, tính “ở trong” Thiên Chúa mang hình thái phàm nhân: Thiên Chúa nhập thể, và như thế, là Thiên Chúa.

2. Đức Giêsu là Con Thiên Chúa

Điều hệ trọng thứ hai mang tính Kitô học phải được tuyên tín là “Người Con tính” của Đức Kitô. Khi nghe nói Đức Giêsu Kitô Con Thiên Chúa, những tín đồ Hồi giáo nghĩ rằng, Kitô hữu biến Đức Maria thành vợ của Thiên Chúa và phạm phải “tội Shirk” bởi vì liên kết Đức Kitô với Thiên Chúa. Tuy nhiên, đây lại là một thực tế mà một Kitô hữu hoàn toàn không nghĩ và không tin như vậy. Những Kitô hữu chẳng bao giờ tin Đức Maria là vợ của Thiên Chúa cũng như không tin Đức Kitô là Thiên Chúa ở ngoài Thiên Chúa. Nếu Đức Maria không phải là vợ của Thiên Chúa, thế thì Đức Kitô là Con Thiên Chúa như thế nào đây? Để hiểu Đức Kitô là Con Thiên Chúa như thế nào, Kitô hữu cần dừng lại khám phá một kho tàng phong phú về phương diện này. Điều cần phải lưu ý nhiều nhất ở đây là hạn từ “Con”. Từ “Con” ở đây hoàn toàn không mang ý nghĩa “dòng hệ” theo nghĩa vật lý. Cả ở trong ngôn ngữ “Urdu”“Arabic” thì từ “Con” được hiểu theo nghĩa ẩn dụ chứ hoàn toàn không hiểu theo nghĩa “dòng hệ” mang tính vật lý, chẳng hạn: “Sher Ka Baccha” (con của sư tử), hoặc “Ibn-ul-waqat” (con của thời gian). Theo nghĩa này thì “con của sư tử” hoặc “con của thời gian” không có nghĩa là sư tử hoặc thời gian sinh ra một con người. Đoạn văn khác mà những người Hồi giáo tại Pakistan sử dụng là hạn từ “farzandan-e-Tawhid” (Con của Tawhid). Tawhid ở đây ám chỉ để gọi Thiên Chúa và hạn từ này có nghĩa là “những Con Trai của Thiên Chúa” hoặc “Con Cái của Thiên Chúa”. Từ điểm này, tôi đi đến xác quyết rằng từ “Con” không mang ý nghĩa “dòng hệ” theo nghĩa vật lý. Chính vì thế, khi những Kitô hữu tuyên tín Đức Giêsu Kitô là “Con Thiên Chúa” không có ý nói rằng Thiên Chúa đã “đẻ” ra Người theo nghĩa vật lý. Chính vì hiểu theo nghĩa vật lý thế này mà Kinh Qur’an loại bỏ tước vị “Con Thiên Chúa” của Đức Giêsu Kitô.[10] Thế thì một Kitô hữu tin Đức Giêsu Kitô là “Con Thiên Chúa” thế nào đây? Theo cách cá nhân, tôi xin dùng câu chuyện của Đức Phật để giải thích quan niệm này cho những tín đồ Hồi giáo.

Đức Phật đã từ bỏ vương miện hoàng đế. Ngài đến một khu rừng tọa thiền dưới gốc cây bồ đề. Bấy giờ, bất kỳ ai nhìn thấy Đức Phật ở trong khu rừng tọa thiền dưới cây bồ đề đều nghĩ rằng ông ta là một “Swami”, “Faqir” hoặc “Sadhu”; nhưng kỳ thực, Đức Phật là một vị Vua. Ngài thuộc một dòng tộc đế vương. Ngài mang dòng máu vua ở trong từng tĩnh mạch của mình.

Bây giờ, “Đức Giêsu Kitô, vốn dĩ là Thiên Chúa... đã hóa mình ra không, mặc lấy thân nô lệ, trở thành một phàm nhân” (Pl 2,6-7). Khi Đức Giêsu Kitô sống cuộc đời trần thế, người ta tuyên xưng Ngài là “Con Thiên Chúa” vì chẳng có từ nào tốt hơn để gán cho Ngài. Mặt khác, trong con người Ngài, Đức Giêsu là Thiên Chúa, Đức Kitô là thần thánh. “La-Illa-Allah” (không có Thiên Chúa nào khác ngoài Thiên Chúa). Thiên Chúa là Thiên Chúa duy nhất và chẳng có Chúa nào bên cạnh Ngài. Trong tuyên tín, Đức Giêsu Kitô là “Con Thiên Chúa”, Thiên Chúa nhập thể, Kitô hữu không hề mảy may làm tổn hại đến tính Duy Nhất (Tawhid, Wahdat) của Thiên Chúa và cũng không ngợi ca một Thiên Chúa nào khác ngoài Thiên Chúa. Đức Giêsu là Thiên Chúa trong chính mạc khải. Trong Tin Mừng có đoạn: “Nơi Đức Kitô, Thiên Chúa hòa giải thế giới này với chính Ngài”.

3. Tính vĩ đại của Thiên Chúa

Chủ đề quan trọng thứ ba trong Hồi giáo là tính vĩ đại của Thiên Chúa (Allah-O-Akhbar). Sự vĩ đại của Thiên Chúa được mạc khải trong công cuộc tạo dựng, đặc biệt trong việc tạo dựng Adam. Adam là đỉnh cao trong công trình tạo dựng của Thiên Chúa. Thần học Kitô giáo biểu hiện ý tưởng này qua trình thuật con người được dựng nên “theo hình ảnh của Thiên Chúa”.

Hình ảnh xác thực của Thiên Chúa được hiểu thế nào đây? Dù có rất nhiều cách giải thích nhưng trọng tâm của mọi giải thích về phương diện này vẫn là con người mang “Thiên Chúa tính” ở trong mình. Ánh sáng Thiên Chúa tính thúc ép con người thờ lạy Thiên Chúa và vươn lên tương quan với Thiên Chúa. Đối với một tín đồ Hồi giáo, tương quan với Thiên Chúa thúc giục họ tuân hành “Shariah” (Luật). Dẫu những tín đồ Hồi giáo không chấp nhận giáo lý Kitô giáo về “tội tổ tông”, họ vẫn thực sự thừa nhận ý tưởng con người đã sa ngã một cách kinh khủng trong việc vâng theo “Shariah” (Luật). Thánh Phaolô đã cảnh báo điều này trong lá thư gởi cho giáo đoàn Rôma – bất tuân “Luật” (Shariah) – và con người cần có ân sủng như thế nào.

Nhìn trên phương diện thực tế, con người chỉ là con người, nên cần phải thay đổi quả tim và tư tưởng. Kinh Qur’an diễn tả rằng quả tim con người quá chai cứng nên không lắng nghe lời của Thiên Chúa và không tuân hành “Shariah” (Luât). Để đổi thay quả tim chai đá con người, sự “Vĩ Đại” của Thiên Chúa phải tái tạo hoặc tu sửa hoặc tái sinh con người. Đối với Thiên Chúa, đây là điều không thể vì Người là “Đấng Allah-O-Akhbar”, “Đấng Vĩ Đại”.

Bây giờ, chúng ta sẽ tuyên tín Đức Giêsu trong ý nghĩa tròn đầy ở đây, đó là việc tái tạo hoặc tái sinh, hoặc sinh lại được thực hiện trong con người bởi niềm tin vào Đức Kitô. Thiên Chúa đã khai mạc một thể loại mới, sự tái tạo thứ hai trong con người Đức Giêsu Kitô. Thật vậy, Đức Giêsu được so sánh với Adam trong Kinh Qur’an (Surah 3,59).[11] Như thế, Adam và Đức Kitô, theo cách nói trong Qur’an, là những cách diễn tả tiêu biểu của hai kiểu tạo dựng: tạo dựng thứ nhất và tạo dựng thứ hai. Adam thuộc về cuộc tạo dựng thứ nhất, cuộc tạo dựng cũ; Đức Giêsu thuộc về cuộc tạo dựng thứ hai, cuộc tạo dựng mới. Chúng ta có thể gọi Adam là Adam thứ nhất, và gọi Đức Giêsu Kitô là Adam thứ hai. Trên thực tế, Tân Ước dùng hạn từ Adam thứ hai hoặc Adam mới để diễn tả Đức Giêsu; tuy nhiên, Qur’an không gọi Đức Giêsu Kitô bằng danh xưng này.

Adam thứ nhất được tạo dựng từ bụi đất, thế thì lời tạo dựng của Thiên Chúa có ý nghĩa là đất (Surah 3,9). Kinh Thánh diễn tả: “Đức Chúa lấy bụi đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật” (St 2,7). Adam thứ hai (Đức Giêsu Kitô) được tạo dựng bởi việc phát sinh của Ngôi Lời Thiên Chúa (mệnh lệnh tạo thành, Kur) trong Đức Maria, và từ đây, Đức Giêsu Kitô được gọi là Lời của Thiên Chúa. Đối với Adam trước, lời tạo dựng của Thiên Chúa có dính dáng đến đất; ngược lại, đối với Adam thứ hai, Lời của Thiên Chúa mang lấy “nhục thể nhân loại” trong con người của Đức Giêsu Kitô: Đức Giêsu, Đấng Mêsia, Con Đức Maria chỉ là một Sứ Giả của Thiên Chúa và Lời của Chúa đã chuyển vào Đức Maria, Lời đó là một Tinh Thần từ Ngài (Surah 4,171).[12] Tin Mừng diễn tả: “Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời hướng về Thiên Chúa và Ngôi Lời là Thiên Chúa. Ngôi Lời đã trở thành xác phàm và cắm lều giữa chúng ta...” (Ga 1,1-14). Adam trước phát sinh từ đất, một con người của đất, Adam sau phát sinh từ trời, từ Tinh Thần của Thiên Chúa (ruh minhu). Bằng lời tạo dựng của Thiên Chúa, Adam trước trở thành một con người sống động; Adam thứ hai (Lời trở thành xác phàm trong con người của Đức Giêsu Kitô) trở thành Tinh Thần trao ban sự sống. Trong Qur’an, Đức Giêsu nói: “Ta đến với các ngươi bằng một Dấu Hiệu từ Rabb (Thiên Chúa) của các ngươi. Ta sẽ lấy đất sét nắn thành hình một con chim cho các ngươi, tiếp đó Ta sẽ hà hơi vào nó, thế là nó sẽ trở thành một con chim thật sự theo phép của Allah. Và Ta sẽ chữa lành những người mù bẩm sinh và chữa lành những người mang bệnh cùi và Ta làm cho người chết sống lại theo phép của Allah và Ta sẽ cho các ngươi những món ăn các ngươi có thể dùng và những món các ngươi dự trữ trong nhà” (Surah 3,49).

Theo Qur’an, Adam trước là một ngôn sứ; Adam sau (Đức Giêsu Kitô) là một ngôn sứ, một Tinh Thần xuất phát từ Thiên Chúa, một Lời của Thiên Chúa. Công cuộc tạo dựng mới đã được khởi phát qua sinh nhật Đức Giêsu Kitô thay thế cho cuộc tạo dựng trước, cuộc tạo dựng xưa kia.

Bây giờ chúng ta sống trong hai cuộc tạo dựng, một bởi sinh nhật mang tính nhân loại của chúng ta và một cuộc tạo dựng khởi đi từ việc chúng ta đón nhận Đức Giêsu Kitô Ngôi Lời Thiên Chúa nhập thể. Trong Tin Mừng, chúng ta tìm thấy quan niệm về việc sinh hạ mới, sinh hạ lần thứ hai rất độc sáng. Đức Giêsu là người duy nhất nói về quan niệm này trong cuộc đàm đạo với Nicodemo: “Thật tôi bảo thật ông: không ai có thể thấy Nước Thiên Chúa nếu không được sinh ra một lần nữa bởi ơn trên... Cái bởi xác thịt thì sinh ra là xác thịt, cái bởi Thần Khí sinh ra là thần khí” (Ga 3,3-6).

Nơi khác, thánh Gioan khẳng định: “Những ai đón nhận Người (Đức Giêsu), tức là những ai tin vào danh Người, thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa. Họ được sinh ra không phải do khí huyết, cũng chẳng do ước muốn của nhục thể, hoặc do ước muốn của người đàn ông, nhưng do bởi Thiên Chúa” (Ga 1,12-13). Những Kitô hữu thật có lý khi chỉ ra cho những anh em Hồi giáo của họ về Allah-O-Akbhar, Thiên Chúa siêu việt, Đấng tái tạo con người “sa ngã”, con người không thể tuân phục “Shariah” (Luật) trong con người của Chúa Giêsu Kitô qua sức mạnh của Thánh Linh.

Những tín đồ Hồi giáo chối từ quan niệm “Thiên Chúa toàn năng” nơi cái chết thập tự của Đức Giêsu. Việc Đức Giêsu chết trên thập tự chống lại tính “vĩ đại” của Thiên Chúa và tính toàn năng nơi hữu thể Người. Làm sao Thiên Chúa lại để cho người Tôi Trung của Người phải trải qua cái chết ô nhục tức tưởi như thế? Dẫu chúng ta có thể bảo vệ cái chết thập tự của Đức Giêsu ở trong Kinh Qur’an tuy nhiên điều này cũng chẳng dẫn người ta đi đến đâu cả. Người Kitô hữu có thể theo lối suy nghĩ của những người Hồi giáo để tuyên tín cái chết và sự phục sinh của Đức Kitô. Sau đó Kitô hữu có thể tuyên tín cái chết và sự phục sinh của Đức Giêsu trong tính “Vĩ Đại” của Thiên Chúa. Kinh Qur’an diễn tả rằng những ngôn sứ đã đau khổ do bởi những người dân tộc của họ.[13] Những ngôn sứ thuở xưa và các tông đồ đã khổ đau do bàn tay của dân tộc bỉ ổi của họ. Cũng thế, Đức Kitô đã đau khổ do bởi chính dân tộc của Ngài, người Do Thái. Và khi sự xung khắc lên đến cực điểm nơi Thập Giá, Đức Giêsu đã không tránh né trốn khỏi Thập Giá, nhưng tiến xa hơn là Ngài hoàn toàn tin tưởng vào Thiên Chúa (Islama, Islam) ngay cả khi đối diện với sự chết. Tin Mừng diễn tả: “Ngài tin tưởng dẫu phải chết...” (Pl 2,5tt). Tính Trổi Vượt của Thiên Chúa có sức thuyết phục mạnh mẽ nhất được thể hiện không phải việc cứu Đức Kitô khỏi cây thập tự nhưng là phục sinh Người từ cõi chết. Thiên Chúa cho phép con người làm bất kỳ điều gì con người có thể làm cho Đức Kitô tôi trung của Người. Trên hết, con người có thể giết; và đây là điều xác thực con người đã làm nơi Đức Kitô. Nhưng Thiên Chúa chỉ ra sự “Trổi Vượt” của Người, Người giãi sáng sự Trổi Vượt này nơi con người Đức Kitô, Đấng đã bị người Do Thái giết chết. Như vậy, việc Đức Kitô chết trên thập tự chẳng hề mảy may hủy bỏ sự “Trổi Vượt” của Thiên Chúa, hơn nữa còn cho thấy sự “Trổi Vượt” của Người đó là trổi vượt hơn cái chết, chiến thắng sự chết. Tân Ước diễn tả: “Tử thần đã bị chôn vùi. Đây giờ chiến thắng!” (1Cr 5,54). Ngay khi tranh luận với một người bạn Hồi giáo về cái chết của Đức Kitô, người viết bài này bị sững sờ trước câu nói đẹp đẽ bật ra từ miệng anh: “Masih ki maut ki maut hai” (Cái chết của Đức Kitô là cái chết của sự chết).

Ý tưởng thứ tư về Đức Giêsu theo Kinh Thánh là danh xưng Emmanuel, “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”, Thiên Chúa-Người. Danh xưng này là một sự nực cười đối với những người Hy Lạp (những triết gia) và một phiến đá cản đối với những tín đồ Hồi giáo, nhưng Đức Giêsu Kitô là Đấng Cứu Độ của chúng ta qua sức mạnh phục sinh của Ngài. Và ở đây sự “Trổi Vượt” của Thiên Chúa đã khởi đầu nơi cuộc sống Đức Kitô phải được thông tri trong mọi tình huống và mọi sự kiện nơi những cuộc đời được phục sinh của những người tin. Chúng ta phải kiên nhẫn tiến sâu vào những đặc tính của Kitô học Kinh Thánh. Chúng ta sẽ không hổ thẹn vì Tin Mừng. Trong thế giới hiện tại của Hồi giáo, nơi mà người ta quá chú trọng đến sự phục hồi của “Shariah” (Luật), Kitô học phải là một sự xác đáng thật sự.

Bằng những dòng này, chúng ta tuyên tín và tiếp tục tuyên tín Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta là Thiên Chúa và là Đấng Cứu Độ. Tuyên tín này phải được biểu hiện trong giáo huấn của Giáo Hội (Kerygma), của những môn đệ (Koinonia), của chúng nhân (Martyria), và của sự phục vụ (Diakonia).

 

 

Nguyên tác: “Confessing Christ in the Islamic Context”, in Asian Faces of Jesus, Edited by Rasiah S. Sugirtharaja, London: SCM Press, 1993.

 

 

 


[1] x. Surah 3 và 19.

[2] x. Surah 5,79; 3,40; 4,169, 19,17; 21,91.

[3] x. Surah 3,47 -48; 4,155; 19,34; 5,117.

[4] x. Surah 3,48.

[5] “Ta đã ban kinh sách cho Musa (Môsê) và đã cử một loạt các Sứ Giả sau Người. Ta đã ban cho ‘Isa (Giêsu), con trai của Maryam (Maria) những bằng chứng rõ ràng và hỗ trợ Người với Ruh al-Qudus (Thiên Thần Gabriel). Phải chăng mỗi lần Sứ Giả (của Ta) đến gặp các người mang theo điều mà bản thân các ngươi không thích, các ngươi tỏ ra ngạo mạn? Rồi các ngươi cho một số (Sứ Giả Ta) nói dối con một số khác thì các ngươi giết đi?” (Surah 2,87).

[6] Để bổ sung cho ý tưởng này, xin xem một số một số đoạn Kinh Thánh Ga 16,7; Đnl 32,2; Is 21,6; những dụ ngôn trong Mt 20 và Ga 4,21; 1Ga 4,1-3.

[7] x. Surah 5,68; 2,41-44; 5,43-47.

[8] Muhammad Yesuf Aslahi, Qur’ani Taleemat, Vol. 1 (Lahore : Islamic Publishers Limted, 1968), tr. 153.

[9] Xh 20,2-3; x. Mc 12,29; Gc 2,19.

[10] Surah 6,102; 9,30; 112,14.

[11] “Đối với Allah, trường hợp của Giêsu giống như trường hợp của Adam. Allah tạo Người từ bụi đất rồi phán cho Người: ‘Hãy thành’ và Người thành như thế” (Surah 3,59).

[12] “Giêsu, con trai của Maryam (Maria) chỉ là một Sứ Giả của Allah và là Lời Phán của Ngài. Ngài truyền nó (Lời Phán ‘Hãy thành’) xuống cho Maryam và là một Tinh Thần từ Ngài”.

[13] Surah 4,155; 5,170.

 

 

 

 

 

Catechesis.Net