• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

Thần Học Tôn Giáo Dưới Lăng Kính Của Công Đồng Vatican II

THẦN HỌC VỀ CÁC TÔN GIÁO

Lm. Phanxicô Xavie Nguyễn Tiến Dưng, AA.

***

***

PHẦN I: CÁC TÔN GIÁO TRONG KINH THÁNH

PHẦN II: THẦN HỌC NGÔI LỜI NƠI CÁC GIÁO PHỤ ĐẦU TIÊN

PHẦN III: NGOÀI GIÁO HỘI CÓ ƠN CỨU ĐỘ?

PHẦN IV: THẦN HỌC VỀ SỰ HOÀN TẤT

PHẦN V: MẦU NHIỆM ĐỨC KITÔ TRONG TRUYỀN THỐNG CÁC TÔN GIÁO

***

PHẦN VI

THẦN HỌC TÔN GIÁO DƯỚI LĂNG KÍNH CỦA CÔNG ĐỒNG VATICAN II

 

Chúng ta đã có dịp đề cập tới một động thái cứng rắn mà Công Đồng thành Florence (1442) đã chấp nhận khi đề cập tới vấn đề cứu độ của tất cả mọi người- bao hàm cả những người ngoài Kitô giáo- khi họ ở bên ngoài Giáo Hội. Chúng ta cũng có dịp bàn về bối cảnh tế nhị làm nảy sinh những tuyên bố này. Chúng ta cũng có dịp ghi nhận rằng, vào một thế kỷ sau (1547), Công Đồng Trento, qua tuyên bố về vấn đề rửa tội bằng ước muốn”, đã long trọng khẳng định khả năng lãnh nhận ơn cứu độ cho những người sống bên ngoài biên giới của Giáo Hội hữu hình. Các bản văn sau đó của Giáo Hội cũng tái khẳng định khả năng này.

Tuy nhiên, trong lịch sử Giáo Hội, hình như chưa bao giờ các tài liệu chính thức của Giáo Hội - Công Đồng hoặc các bản văn khác - đề cập tới các tôn giáo khác - hơn nữa lại đề cập tới vai trò tích cực của các tôn giáo. Liệu Công Đồng Vatican II có phá vỡ sự thinh lặng này không?

I. LỊCH SỬ RA ĐỜI CỦA TUYÊN NGÔN NOSTRA AETATE

Tuyên ngôn Nostra Aetate (Tuyên ngôn về tương quan giữa Giáo Hội với các tôn giáo ngoài Kitô giáo) đến rất trễ trong Công Đồng chung Vatican II. Nói một cách cụ thể, tuyên ngôn này chỉ xuất hiện vào kỳ họp thứ 3 (1964), trong lược đồ thứ ba được dự trù để thêm vào phần đề cập tới Giáo Hội.[1] Khởi đầu, Công Đồng, -dưới sự điều khiển của Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII– chỉ muốn thêm vào Sắc lệnh về Hiệp Nhất Kitô giáo một Tuyên ngôn nhằm cải thiện tương quan vốn đang rất căng thẳng giữa những người Kitô hữu với anh em Do Thái giáo. Mục đích của Tuyên ngôn là muốn cho những thái độ kỳ thị và hiểu lầm của người Kitô hữu và của cả Giáo Hội đối với người Do Thái được loại bỏ, nhằm hàn gán vết thương đã tạo ra từ bao thế kỷ, nhất là kinh nghiệm đau thương về cuộc diệt chủng người Do Thái (Shoah) trong đại chiến thế giới lần thứ II. Theo đề nghị của một số Giám mục đến từ các nước mà người ngoài Kitô hữu chiếm đa số, nội dung của tài liệu được mở rộng, nhằm đưa vào trong đó các tôn giáo khác cùng với Do Thái giáo. Việc Đức Giáo Hoàng Phaolô VI thiết lập vào năm 1964 một văn phòng đối thoại với người không-Kitô giáo; việc xuất bản cùng năm Tông huấn Ecclesiam Suam về đối thoại (bao hàm việc đối thoại với người ngoài Kitô giáo); chuyến thăm Ấn Độ của Đức Phaolô VI cùng năm, nơi ngài đã gặp các nhà lãnh đạo các tôn giáo khác với tất cả tâm tình đơn sơ và kính trọng: tất cả những sự kiện này đã thúc đẩy Công Đồng có một cái nhìn vượt ra khỏi thế giới Tây Phương, đồng thời tiếp nhận sự cần thiết của một tương quan giữa Giáo Hội với các tôn giáo khác, không chỉ với Do Thái giáo mà với tất cả các tôn giáo khác trên thế giới.

Chính vì thế, nội dung của Tuyên ngôn Nostra Aetate đã được mở rộng để thêm phần đề cập tớicác tôn giáo khác cùng vớiDo Thái giáo, mặc dù phần đề cập tới tương quan giữa Giáo Hội và Do Thái giáo vẫn còn dài hơn. Điều cần ghi nhận là một trật tự bị đảo lộn trong lược đồ của Tuyên ngôn Nostra Aetate so với Hiến chế Lumen Gentium. Hiến chế Lumen Gentium nói một cách trực tiếp cách thức mà các các thành viên của các tôn giáo khác “quy hướng về” Giáo Hội: trước hết là người Do Thái, vì Giáo Hội có một tương quan mật thiết với họ; kế đến là người Hồi giáo, vì “họ tuyên xưng rằng họ giữ Đức tin của Abraham”; và cuối cùng “những kẻ đang tìm kiếm Thiên Chúa trong bóng tối và qua ngẫu tượng, Thiên Chúa mà họ không biết, cả những kẻ ấy, Ngài cũng không xa họ, bởi vì chính Ngài ban cho mọi người sự sống, hơi thở và tất cả mọi sự”.[2]

Trong khi đó, Tuyên ngôn Nostra Aetateđược trình bày theo trật tự ngược lại:tôn giáo của nhân loại nói chung; các tôn giáo “liên quan đến sự tiến bộ của văn hóa như Ấn Độ giáo, Phật giáo và các tôn giáo khác;[3] Hồi giáo,[4] và cuối cùng là Do Thái giáo.[5] Với từng cấp độ khác nhau, Tuyên ngôn chỉ rõ mối liên hệ chặt chẽ và sự nối kết linh thiêng giữa Giáo Hội với từng tôn giáo. Mối dây liên hệ này có các cấp độ khác nhau. Với ba tôn giáo có cùng nguồn gốc từ đức tin của Abraham, thì Israel còn có một mối tương quan đặc biệt hơn, vì GiáoHội cùng nhận chung một mặc khải Cựu Uớc với “Dân được tuyển chọn”này. Tuy nhiên, trong Tuyên ngôn Nostra Aetate, Công Đồng không có ý nhằm định hướng các tôn giáo khác quy tụ một cách tiệm tiến về Giáo Hội, nhưng đề nghị các tôn giáo cùng vượt qua các chia rẽ, hầu thiết lập tình thân hữu với nhau.[6]

II. NHỮNG GIÁ TRỊ TÍCH CỰC HÀM CHỨA TRONG CÁC TRUYỀN THỐNG TÔN GIÁO

Các bản văn mà chúng ta nghiên cứu ở đây nằm trong thứ tự của Công Đồng: Hiến chế Lumen Gentium (số 16-17), Tuyên ngôn Nostra Aetate và Sắc lệnh Ad Gentes (số 3,9,11). Trong từng bản văn, Công Đồng phát triển ba đề tài:

- (1) Ơn cứu độ cho những người ngoài Giáo Hội;

- (2) Giá trị đính thực mà ta có thể tìm thấy nơi những người ngoài Kitô giáo và trong các truyền thống tôn giáo của họ;

- (3) Định giá của Giáo Hội về các giá trị này và thái độ mà Giáo Hội chọn lựa trong tương quan đối với các tín đồ cũng như các truyền thống tôn giáo.

1. Hiến chế Lumen Gentium

Hiến chế Lumen Gentium khẳng định rằng, sự trợ giúp của Thiên Chúa là cần thiết cho ơn cứu độ, không chỉ cho những người thuộc các truyền thống tôn giáo, nhưng cả cho “những kẻ vô tình chưa nhận biết Thiên Chúa cách rõ ràng, nhưng nhờ ơn Chúa, cố gng sống đời chính trực, Chúa Quan Phòng không từ chối ban ơn trợ lực cần thiết để họ được cứu rỗi”. Bản văn viết tiếp: “Thật vậy, Giáo Hội xem tât cả những gì là chân thiện nơi họ nhu׳ đê chuẩn bi họ lãnh nhận Phúc Âm, như một ân huệ mà Đấng soi sáng mọi người ban cho, hầu cuối cùng họ được sống”.[7]

Các giá trị tích cực ở đây được gán cho từng con người cụ thể chứ không phải cho cộng đoàn tôn giáo, trong đó các cá nhân này trực thuộc. Bản văn cũng thêm rằng, ngoài những yếu tố tích cực, “con người cũng thường bị ma quỷ gạt gẫm làm sai lạc phán đoán của mình khiến họ đánh đi chân lý Thiên Chúa lấy sự giả dối, phụng sự tạo vật hơn là phụng sự Đấng Tạo Hóa (x. Rm 1,21 và 25).[8] Sứ mạng của Giáo Hội hệ tại ở việc rao giảng Tin Mừng cứu độ trong Đức Giêsu Kitô cho tất cả mọi người: “Thực ra, những gì thiện hảo trong tâm hồn và tư tưng của loài người, hoặc trong nghi lễ văn hóa riêng của các dân tộc, hoạt động của Giáo Hội không nhằm tiêu diệt chúng, nhưng lành mạnh hóa, nâng cao và hoàn thành chúng, hầu làm vinh danh Thiên Chúa, đánh bại ma qu và mưu cầu hạnh phúc cho con người”.[9]

Như vậy, một mặt, Giáo Hội nhìn nhận những yếu tố tích cực nơi từng con người khi họ mở lòng đón nhận những gì là tốt đẹp nhất trong các truyền thống tôn giáo của họ; mặt khác, Giáo Hội cũng ý thức bổn phận loan báo sứ điệp Tin Mừng của mình, hầu dẫn đưa con người đến sự trọn hảo.

2. Sắc lệnh Ad Gentes

Sắc lệnh Ad Gentes (Sắc lệnh về hoạt động truyền giáo của Giáo Hội) cũng nói đến sự kết hợp giữa thái độ đón nhận của các tín đồ và những giá trị khách quan của các tôn giáo: “Ý định của Thiên Chúa nhằm cứu rỗi toàn th nhân loại không phải chỉ được thực hiện một cách có thể nói là kín đáo trong tâm trí con người, nhưng còn bằng những sáng kiến, ngay cả sáng kiến tôn giáo, nhờ đó con người tìm kiếm Thiên Chúa bằng nhiều cách, “hầu may ra sẽ đến gần Ngài hoặc gặp được Ngài, mặc dù Ngài không ở xa mỗi người chúng ta” (Cv 17,27) (...)”.[10]

Ở đây, những “sáng kiến tôn giáo” hình như có tương quan với các yếu tố tích cực trong các tôn giáo, các sáng kiến này được phân biệt rõ ràng với thái độ sẵn sàng từ bên trong của từng con người, giúp định hình đời sống tôn giáo của từng người. Tuy nhiên, các “sáng kiến này” cũng “cầnphải được soi dẫn và tu bổ, tuy đôi khi, nhờ ý định nhân lành của Chúa Quan Phòng, có th được coi như con đường hướng về Thiên Chúa chân thật hoặc chuẩn bị Phúc Âm”.[11]

Cùng một ý tưởng này được lặp lại trong Sắc lệnh Ad Gentes, khi Công Đồng đề cập tới tương quan giữa các hoạt đồng truyền giáo của Giáo Hội với thế giới ngoài Kitô giáo. Hoạt động truyền giáo nhằm thanh tẩy, nâng cao và kiện toàn trong Đức Giêsu Kitô những gì là tốt đẹp nơi mỗi con người và mỗi truyền thống tôn giáo: “Tất cả những gì là chân lý và ân sủng đã có nơi các dân tộc như một sự hiện diện bí ẩn của Thiên Chúa sẽ được hoạt động truyền giáo giải thoát cho khỏi bị nhiễm độc và hoàn lại cho Chúa Ki là Đấng tác thành chúng (...). Bởi vậy, bất cứ điều gì tốt đẹp khám phá thấy là đã được gieo vãi trong tâm trí con người, hay trong những lễ nghi và văn minh riêng của các dân tộc, sẽ không bị hủy diệt, nhưng còn được thanh tẩy, thăng tiến và hoàn tất, để Chúa đưc tôn vinh, ma quỷ bị xấu hổ và con người đưc hạnh phúc”.[12]

Khởi đi từ những khám ra những gì là chân thiện mỹ nơi thế giới ngoài Kitô giáo, Sắc lệnh Ad Gentes đã rút ra kết luận cho phương thức truyền giáo của người Kitô hữu: “Đ có thể làm chứng về Chúa Kitô một cách hữu hiệu, chính các Kitô hữu phải lấy lòng kính trọng và tình bác ái liên kết với những người ấy, phải biết mình là thành phần của nhóm người mình chung sống và tham gia đời sng văn hóa, xã hội qua những giao tiếp và hoạt động khác nhau trong đời sống nhân loại. Họ phải làm quen với những truyền thống dân tộc và tôn giáo của những người ấy; phải lấy làm sung sướng và kính cẩn khám phá ra những hạt giống Lời Chúa đang tiềm ẩn trong họ (...). Như chính Chúa Kitô đã dò xét tâm hồn con người và đối thoại với họ đúng theo kiểu loài người để dẫn họ đến ánh sáng thần linh, các môn đệ của Người, một khi thấm nhuần tinh thần Chúa Kitô, cũng phải hiu biết người họ chung sống, và phải đối thoại với họ, để nhờ chính việc đối thoại chân thành và nhẫn nại đó, các môn đệ học biết những ân huệ phong phú đã được Thiên Chúa rộng ban cho các dân tộc; đồng thời các môn đệ phải cố gng đem ánh sáng Phúc Âm chiếu soi những sự phong phú đó, giải thoát chúng và đem chúng quy phục về Chúa Cứu Thế”.[13]

3. Tuyên ngôn Nostra Aetate

Tuyên ngôn Nostra Aetate đề cập tới sự gặp gỡ giữa Giáo Hội và các tôn giáo trên thế giới, khi cố gắng suy tư về nguồn gốc và cứu cánh chung của mỗi người trong Thiên Chúa, đồng thời trả lời về những câu hỏi căn bản làm con người bận tâm: “Con người mong đợi các tôn giáo giải đáp v những bí nhiệm xưa nay vẫn làm tâm hồn họ xao xuyến sâu xa: Con người là gì? Đời người có mục đích và ý nghĩa nào? Sự thiện và tội ác là chi? Đâu là nguyên nhân và mục đích của đau kh? Đâu là con đường dẫn tới hạnh phúc thật sự? Cái chết, sự phán xét, và sự thưng phạt sau khi chết là gì? Sau cùng, cái huyền nhiệm tối hậu khôn tả vẫn bao trùm cuộc sống chúng ta là chi? Chúng ta xuất phát từ đâu và chúng ta hướng về đâu?”.[14]

Và rồi, một thái độ của Giáo Hội đối với các tôn giáo được diễn tả như sau: “Giáo Hội Công giáo không hề phủ nhận những gì là chân thật và thánh thiện nơi các tôn giáo đó. Với lòng kính trọng chân thành, Giáo Hội xét thấy những phương thức hành động và lối sống, nhng huấn gii và giáo thuyết kia, tuy rằng có nhiều điểm khác với chủ trương mà Giáo Hội duy trì, nhưng cũng thường đem lại ánh sáng của Chân Lý; Chân Lý chiếu soi cho hết mọi người. Tuy nhiên, Giáo Hội rao giảng và có bổn phận phải kiên trì rao giảng Chúa Kitô, Đấng là “đường, sự thật và sự sống” (Ga 14,6). Nơi Người, con người tìm thấy đi sống tôn giáo sung mãn; và nhờ Người, Thiên Chúa giao hòa mọi sự với mình (x. 2Cor 5,18-19).Vì thế, Giáo Hội khuyến khích con cái mình nhìn nhận, duy trì và cổ động cho những thiện ích thiêng liêng cũng như luân lý và những giá trị xã hội văn hóa của các tín đồ thuộc các tôn giáo ấy, mà vẫn là chứng tá của đức tin và đời sống Kitô giáo”.[15]

Chúng ta có thể quan sát và thấy rằng, những giá trị nơi các tôn giáo được bản văn nhấn mạnh hơn so với các văn bản trước. Cụ thể, các thuật ngữ được thêm vào như: “những phương thức hành động và lối sống, (...) những huấn giới và giáo thuyết (...) cũng thườngđem lại ánh sáng Chân Lý chiếu soi cho hết mọi người”. Dù không trích dẫn một cách cụ thể Gioan 1,9, nhưng ta thấy có bóng dáng của bản văn này. Đó là sự hiện diện, dù chưa toàn diện, nhưng một cách cụ thể của “Chân Lý”trong các tôn giáo. Đây là lý do thúc đẩy Giáo Hội kính trọng các tôn giáo khác và thăng tiến các giá trị tinh thần và văn hóa nơi các tôn giáo này, đồng thời sứ mạng của Giáo Hội cũng loan báo “sự trọn hảo của đời sống tôn giáotrong Đức Giêsu Kitô.

Giáo huấn của Công Đồng sử dụng nhiều thuật ngữ của các truyền thống xưa, nhưng thiếu những định nghĩa cụ thể. Vì thế, một tài liệu của Văn Phòng Đối Thoại Với Những Người Ngoài Kitô Giáo được xuất bản vào năm 1984, tái khẳng định những giá trị tích cực của các truyền thống tôn giáo khi quy tụ các thuật ngữ mà Công Đồng đã sử dụng. Bản văn viết:

“(...) Các Ngh phụ của Công Đồng đã khẳng định rằng, trong các truyền thống tôn giáo ngoài Kitô giáo có những yếu tố “chân thiện”,[16] những “yếu tố tôn giáo và nhân bản quý giá”,[17] những yểu tố “của chân lý và ân sủng”,[18] “những hạt giống của Ngôi Lời”,[19] những “tia sáng của Chân Lý chiếu soi hết thảy mọi người”.[20]

Theo các khẳng định một cách rõ ràng nhất của Công Đồng, tất cả những giá trị này quy tụ trong các truyền thống tôn giáo của nhân loại. Nó cần được các Kitô hữu chú ý và tôn trọng. Những kho tàng thiêng liêng này mi gọi các Kitô hữu tham gia đối thoại một cách thiết thực,[21] không ch trên những điểm tương đồng, mà còn với cả những điểm dị biệt nữa”.[22]

III. CÁC CHÚ GIẢI ĐỐI NGHỊCH NHAU VỀ CÁC BẢN VĂN CỦA CÔNG ĐỒNG

Giáo huân của Công Đồng Vatican II về các tôn giáo ngoài Kitô giáo đã nhận được nhiều bình phẩm khác nhau, từ thái độ đơn giản hóa đến cách giải thích thái quá.

1. Thái độ đơn giản hóa các giáo huấn của Công Đồng

Lối chú giải này cho rằng, Công Đồng chưa tôn trọng đúng mức các tôn giáo khác. Tiêu biểu cho lối giải thích này là P. Hacker[23] và M. Ruokanen.

a/. P. Hacker

P. Hacker phân biệt hai khía cạnh của tôn giáo: khía cạnh con người hay những gì thuộc về con người và khía cạnh thần học hay là những gì thuộc về tín lý. Và ông đi đến kết luận: cũng như thánh Thánh Phaolô ở Athènes (Cv 17), các bản văn của Công Đồng chỉ nói tới khía cạnh tích cực về “mặt con người nơi các tôn giáo”: “các bản văn chỉ viết về những cố gắng tôn giáo của con người trong các tôn giáo và nhìn nhận con người có thể tìm kiếm Thiên Chúa qua cách thức này; nhưng các bản văn hoàn toàn im lặng về khả năng con người đạt ti đích qua cách thức này, đồng thời nó cũng không đề cập tới việc liệu các huyền thoại trong các tôn giáo khác có chứa đựng các yếu t chân lý hay không, hoặc các nghi lễ và cách thức thực hành các nghi lễ trong các tôn giáo khác có phù hợp với Ý Chúa hay không”.[24] Khi Công Đồng nhấn mạnh tới những điểm tiêu cực nơi các tôn giáo khác làm cho người ta hiểu rằng, các “dân ngoại không thể được cứu độ thông qua tôn giáo của mình, và chính cáctôn giáo này tự nó không có vai trò cứu độ”. Vì vậy, tính cách “hợp pháp” (légitimité) của các tôn giáo khác không được Công Đồng thừa nhận cũng như không bị phủ nhận.[25]

b/. M. Ruokanen

Cũng như Hacker, M. Ruokanen, thần học gia Tin lành theo phái Lutero, cũng có cái nhìn tiêu cực về các giáo huấn của Công Đồng Vatican II về các tôn giáo. Theo chú giải của ông, “có một sự kế thừa giữa các tôn giáo ngoài Kitô giáo và các chân lý Kitô giáo. Khả năng hiện diện ân sủng cứu độ của Thiên Chúa trong các tôn giáo không hoàn toàn bị khai trừ”. Tuy nhiên, các tôn giáo ngoài Kitô giáo “hoàn toàn không có một cương vị độc lập về mặc khải các mầu nhiệm của Thiên Chúa; các chân lý tôn giáo của họ phải quy về với chân lý Kitô giáo”.[26] Tác giả ghi nhận rằng, giáo lý của Công Đồng nằm trong “chủ thuyết kiện toàn như người thấy sau thời hậu Công Đồng”.

Liên quan đến câu hỏi về các loại chân lý tiềm ẩn trong các tôn giáo ngoài Kitô giáo, tác giả cho rằng, Công Đồng không bao giờ nói tới “mặc khải” dành cho các tôn giáo khác. “Mặc dù có những tích cực diễn tả sự tôn trọng ti những yếu tố tâm linh trong các tôn giáo khác”, nhưng Công Đồng chỉ xem đó là những “giá trị tự nhiên, tức là khả năng tự nhiên về việc nhận biết một Thiên Chúa Sáng Tạo qua các định luật tự nhiên được Ngài ban tặng”.[27] Công Đồng không xem các tôn giáo khác là “các con đường cứu rỗi”: “Công Đồng nhìn nhận một cách đầy đủ các giá trị luân lý mà người ta có thể tìm thấy trong các tôn giáo. Còn những gì liên quan tới mầu nhiệm của Thiên Chúa, các tôn giáo khác đang trên con đường kiếm tìm”.[28] Lumen Gentium,[29] cũng như Nostra Aetate [30] “loại trừ khả năng chân lý độc lập của các tôn giáo khác, ngõ hầu đạt tới ơn cứu chuộc. Những người ngoài Kitô giáo ch phản ánh đúng chân lý khi đời sống của họ phù hợp với việc nhận biết tự nhiên về một Thiên Chúa Duy Nhất và qua các định luật của luân lý tự nhiên”.[31] Nói một cách khác, “các tôn giáo ngoài Kitô giáo không thêm gì về khía cạnh siêu nhiên của mặc khải hoặc ân sủng cho thân phận tự nhiên của con người”.[32]

2. Lối diễn dịch thái quá

Ngược với hai nhà thần học vừa nêu trên, P. Rossano cho rằng, những yếu tố “chân lý và ân sng” chứa đựng trong các truyền thống tôn giáo khác. Ông không ngần ngại viết rằng: “liên vai trò cứu độ của các tôn giáo, để biết các tôn giáo này có hay không các con đường cu độ, chúng ta không còn nghi ngờ gì nữa, rng “ân sng và chân lý” đạt tới hoặc có thể chạm ti mọi người qua những dấu hiệu thấy được của các kinh nghiệm tôn giáo. Vatican II giải thích rất rõ về điểm này”.[33]

Một học giả khác, K. Kunnupuram, khi nghiên cứu các bản văn của Công Đồng liên quan tới các tôn giáo, cũng đưa ra những khẳng định như Rossano. Theo ông, vì Công Đồng có hướng đi mục vụ, nên không đưa ra kết luận về một vấn đề tranh luận như vấn đề ơn cứu độ trong các tôn giáo ngoài Kitô giáo. Tuy nhiên, Công Đồng cũng đã nhấn mạnh tới những giá trị tích cực trong chính truyền thống các tôn giáo: giáo lý, nghi lễ, luật sống.[34] Sự phong phú về “chân lý và ân sng” này là những hồng ân siêu nhiên của Thiên Chúa, một sự “hiện diện bí nhiệm của Thiên Chúa”,[35] công trình của Đức Kitô chính là “ánh sáng thật chiếu soi mọi người” (Ga 1,9),[36] những “hạt giống củaNgôi Lời”.[37] Sự “chuẩn bị cho Tin Mừng” chứa đựng trong các tôn giáo không chỉ giới hạn ở mức độ tự nhiên hoặc một sự đón nhận ở thế bị động hồng ân Thiên Chúa. “Ý nghĩa thâm sâu hệ tại ở việc đó là những dấu ch hướng về Đức Kitô (...). Những dấu chỉ này có sức sống bên trong, một biện chứng gắn liền với Đức Kitô và quy về Đức Kitô”.[38]

Công Đồng không bao giờ đặt câu hỏi một cách trực tiếp để biết, nếu Thiên Chúa sử dụng các nghi lễ hay giáo lý của các tôn giáo ngoài Kitô giáo cho việc cứu độ của các tín đồ của họ hay không, và qua đó để biết được các tôn giáo khác có phải là những “phương tiện mà Thiên Chúa Quan Phòng gửi tới để cứu độ các thành viên của họ” hay không. Dù sao thì đối với Công Đồng, ơn cứu độ của Thiên Chúa dành cho con người không phải là một vấn đề hoàn toàn bên trong con người. Chính Công Đồng đã khẳng định: “Ý định của Thiên Chúa nhằm cứu rỗi nhân loại không phải ch đưc thực hiện một cách có thể nói là kín đáo trong tâm trí con người (...)”.[39] Ơn cứu độ cũng không phải là chuyện hoàn toàn riêng tư: nó có tính cách xã hội. Tác giả ghi nhận rằng, điều có thể giải thích là tín đồ của các tôn giáo khác “được cứu độ hoặc có thể được cu độ trong và qua các tôn giáo của họ. Các tôn giáo này chính là con đường cứu rỗi cho họ”.[40] Và K. Kunnumpuram tóm lược quan niệm của ông như sau:

“Công Đồng Vatican II nhìn nhận rằng, các tôn giáo ngoài Kitô giáo cha đựng nhiều giá trị tích cực như chân lý và sự thiện, ân sủng và sự thánh thiện. Công Đồng xem các giá trị này như là một sự hiện diện kín đáo của Thiên Chúa, của hạt giống Ngôi Lời và hoa trái của Thánh Thần. Công Đồng ý thức rằng, các tôn giáo này không chỉ đơn thuần là các tôn giáo tự nhiên, vì nó hàm cha nhiều yếu tố siêu nhiên, và ngay cả một đức tin cứu rỗi. Dù còn có sai phạm, tội lỗi và băng hoại của con người, các tôn giáo ngoài Kitô giáo là bưc chuẩn bị cho Tin Mừng, vì nó có một khuynh hướng bẩm sinh, một nội lực hướng về Đức Kitô và Giáo Hội của Ngài. Đối với những ai chưa có cơ hội gặp g Kitô giáo trong đời sống ca mình, thì các tôn giáo ngoài Kitô giáo này là con đường cứu rỗi cho họ, vì Thiên Chúa cứu rỗi họ trong và qua giáo lý cũng như cách thức thực hành niềm tin của các tôn giáo này”.[41]

IV. HƯỚNG TỚI MỘT ĐÁNH GIÁ QUÂN BÌNH HƠN

Qua việc nghiên cứu hai lối giải thích của Công Đồng như trên, ta có thể tự hỏi rằng, có thực sự Công Đồng chỉ theo “thần học hoàn thiện” cổ điển hay ngược lại? Công Đồng đi theo thần học về “sự hiện hữu của mầu nhiệm cứu chuộc trong Đức Kitô” nơi các tôn giáo? Về hai câu hỏi này, ta có thể trả lời rằng, Công Đồng không chọn hướng này hoặc loại hướng kia. Một mặt, ta thấy Công Đồng dùng các thuật ngữ gần gũi của thần học hoàn thiện để định nghĩa thái độ của Giáo Hội với các tôn giáo khác như đảm nhận và cứu chuộc, chữa lành và phục hồi, nâng lên và đưa tới sự hoàn thiện. Mặt khác, các yếu tố “chân lý và ân sủng” trong các tôn giáo như “một sự hiện diện bí nhiệm của Thiên Chúa” trong chính các truyền thống tôn giáo- trong giáo lý, nghi lễ, lối sống- làm cho ta nghĩ rằng Công Đồng nghiêng về phía ngược lại.

Theo P. F. Knitter, “Công Đồng Vatican II tạo ra một bước ngoặt triệt đ trong cách nhìn của người Công giáo so với trước đây”. Tuy nhiên, vẫn còn có “một mập mờ trong cách hiu về mức độ hiệu quả của chân lý và ân sủng hàm cha trong các tôn giáo”.[42] Theo ông, sự khó hiểu hệ tại nơi “mâu thuẫn ý muốn cứu độ của Thiên Chúa và sự cần thiết của Giáo Hội như một sự hiển nhiên dưới mt người Kitô hữu trải qua bao thế kỷ qua”. Theo nhiều nhà thần học Công giáo, sự cần thiết của Giáo Hội cho việc cứu độ con người không nhất thiết phải loại trừ các giá trị cứu độ nơi các tôn giáo khác.

Một đánh giá quân bình về giáo huấn của Công Đồng với các tôn giáo khác phải vừa tích cực và có tính phê bình. Theo K. Rahner, thành công của Công Đồng là đã vượt qua cả câu hỏi về sự cứu độ của từng cá nhân trong các tôn giáo ngoài Kitô giáo, để có một tương quan tích cực giữa Giáo Hội và các tôn giáo khác. Trong khi ơn cứu độ siêu nhiên (salut surnaturel) hệ tại ở hành động tự hiến của Thiên Chúa (autodonnation de Dieu) cho con người đã được Công Đồng nhìn nhận một cách tích cực, thì chính cái nhìn tích cực này chưa được tuyên xưng một cách rõ ràng về những gì liên quan tới các tôn giáo. Về điểm này, “một điểm chính yếu, đối với thần học gia, cần trả lời đang bỏ ngỏ”; “tính chất thần học của các tôn giáo ngoài Kitô giáo chưa được định nghĩa rõ ràng”. Người ngoài Kitô giáo có đạt được ơn cứu độ ngoài tôn giáo của họ hay là chính trong tôn giáo của họ? Chính các tôn giáo có hay không giá trị cứu độ? Các câu hỏi này không có một câu trả lời cụ thể.[43] Ngay cả khi đa số người cho rằng, Công Đồng nghiêng về câu trả lời tích cực, ta vẫn chưa có thể rút ra được những câu trả lời rõ ràng.

Riêng H. Maurierthì nhấn mạnh đến thần học “Giáo Hội vi trung” (ecclésiocentrique) trong các văn bản của Công Đồng, đặc biệt là trong Tuyên ngôn Nostra Aetate. Giáo Hội dường như chỉ nhìn nhận những yêu tố tích cực và tốt trong các tôn giáo khác khi người ta thấy những yếu tố này trong Giáo Hội. Những “tia ánh sáng” chân lý có trong các tôn giáo khác có nhất thiết phải quy hướng về chân lý trọnđầy mà Giáo Hội gìn giữ? Các Tuyên ngôn có sẵn sàng nhìn nhận trong các tôn giáo khác có những “tia ánh sáng” chân lý mà Giáo Hội không có? Lối suy nghĩ này của Giáo Hội đang lấy mình làm trung tâm (égocentique).[44] Viễn tượng này sẽ dễ dàng dẫn đến “thần học kiện toàn”; theo đó, các tôn giáo khác, nếu họ đi tìm kiếm Thiên Chúa, sẽ trở nên lỗi thời một khi họ đạt tới mức kiện toàn trong và qua Giáo Hội.[45] Vì thế, ta có thể tự hỏi rằng, nếu việc đối thoại mà Công Đồng muốn thăng tiến với các tôn giáo khác phải chăng phải bắt đầu từ việc nhìn nhận các giá trị nhân bản đích thực hàm chứa trong các tôn giáo khác, những giá trị mà có thể Kitô giáo không có. Chỉ khi đạt tới được như vậy, đối thoại mới thực sự có ý nghĩa, vì đối thoại được hiểu như là một tương quan qua lại mà người ta vừa cho vừa nhận.

KẾT LUẬN

Các bản văn của Công Đồng Vatican II dù chưa đề cập tới những vấn đề còn gây tranh cãi về tín lý, đã có một thái độ cởi mở đối với các truyền thống tôn giáo khác, một thái độ mà ta chưa bao giờ thấy trong các bản văn của Giáo Hội trước đó. Dù chưa nhìn nhận một cách chính thức trong các tôn giáo khác có các con đường cứu độ dành cho các tín đồ của họ, Công Đồng dường như cũng đã kín đáo đi theo hướng này khi nhìn nhận trong các tôn giáo khác không chỉ có các giá trị nhân bản tích cực, mà còn có cả những yếu tố “chân lý và ân sủng”, như một sự hiện diện kín đáo các hoạt động của Thiên Chúa.

 

 

 


[1]Để tìm hiểu lịch sử Tuyên ngôn Nostra Aetate, xin đọc bài tham khảo của G.M.-M. COTTIER, “L’historique de la declaration”, trong: A.-M. HENRY (éd), Les Relations de I’Eglise avec les religions non-chrétiens. Declaration “Nostra Aetate”, tr. 37-78.

[2] Công Đồng Vatican II, Hiến chế Lumen Gentium, số 16.

[3] Công Đồng Vatican II, Tuyên ngôn Nostra Aetate, số 2.

[4]Ibid., số 3.

[5]Ibid., số 4.

[6]Ibid., số 5.

[7] Công Đồng Vatican II, Hiến chế Lumen Gentium, số 16.

[8]Ibidem.

[9]Ibid., số 17.

[10] Công Đồng Vatican II, Sắc lệnh Ad Gentes, số 3.

[11]Ibidem.

[12]Xem: Công Đồng Vatican II, Hiến chế Lumen Gentium, số 17; Sắc lệnh Ad Gentes, số 9.

[13] Công Đồng Vatican II, Sắc lệnh Ad Gentes, số 11.

[14] Công Đồng Vatican II, Tuyên ngôn Nostra Aetate, số 1.

[15]Ibid., số 2.

[16] Công Đồng Vatican II, Hiến chế Lumen Gentium, số 16.

[17] Công Đồng Vatican II, Hiến chế Gaudium et Spes, số 92.

[18] Công Đồng Vatican II, Sắc lệnh Ad Gentes, số 9.

[19]Ibid., số 11; 15.

[20] Công Đồng Vatican II, Tuyên ngôn Nostra Aetate, số 2.

[21]Xem:Công Đồng Vatican II, Tuyên ngôn Nostra Aetate, số 2, 3; Sắc lệnh Ad Gentes, số 11.

[22]Bản văn của SECRETARIATTUS PRO NON CHRISTIANIS, Bulletin, no. 56; 19 (1982/2), tr. 146-165 (ở đây tr. 155).

[23]P. HACKER, “The Christian Attitude toward Non-Christian Religions”, Theological Foundations of Evangelization, tr. 61-77.

[24]Ibid., tr. 73-75.

[25]Ibid., tr. 72.

[26]M. ROUKANEN, The Catholic Doctrine of Non-Christian Religions According to the Second Vatican Council, tr. 61.

[27]Ibid., tr. 68.

[28]Ibid., tr. 93.

[29] Công Đồng Vatican II, Hiến chế Lumen Gentium, số 16.

[30] Công Đồng Vatican II, Tuyên ngôn Nostra Aetate, số 2.

[31]M. ROUKANEN, The Catholic Doctrine of Non-Christian Religions According to the Second Vatican Council, tr. 99.

[32]Ibid., tr. 100.

[33] Xem: Công Đồng Vatican II, Sắc lệnh Ad Gentes, số 3, 11; Tuyên ngôn Nostra Aetate, số 2; Hiến chế Lumen Gentium, số 16. Xem P. ROSSANO, “Gods Lordship and Religious Pluralism in Roman Catholic Perspectives”, trong G.H. ANDERSON và Th.F. STRANSKY (éd.) Christs Lordship and Religious Pluralism, tr. 96-110 (102-103).

[34]Xem: K. KUNNUMPURAM, Ways of Salvation. The Salvific Meaning of Non-Christian Religions According to the Teaching of the Vatican II, tr. 66-68.

[35] Công Đồng Vatican II, Sắc lệnh Ad Gentes, số 9.

[36]Xem: Công Đồng Vatican II, Tuyên ngôn Nostra Aetate, số 2.

[37] Công Đồng Vatican II, Sắc lệnh Ad Gentes, 11.

[38]K. KUNNUMPURAM, Ways of Salvation. The Salvific Meaning of Non-Christian Religions According to the Teaching of the Vatican II, tr. 87.

[39] Công Đồng Vatican II, Sắc lệnh Ad Gentes, số 3.

[40]K. KUNNUMPURAM, Ways of Salvation. The Salvific Meaning of Non-Christian Religions According to the Teaching of the Vatican II, tr. 88-91.

[41]Ibid., tr. 91.

[42]P. F. KNITTER, No Other Name?, tr. 124.

[43]K. RAHNER, “Uber die Heilsbedeutung der nichtchristlichen Religionen”, Schriften..., vol. XIII, tr. 341- 350.

[44]H. MAURIER, “Lecture de la declaration par un missionnaire d’Afrique”, trong A.-M. HENRY (éd.), Les relations de l’Eglise avec les religions non chrétiennes, tr. 119-160 (tr. 133-134).

[45]Ibid., tr. 135.

 

 

 

 

Catechesis.Net