• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

Thần Học Các Tôn Giáo: Mầu Nhiệm Đức Kitô Trong Truyền Thống Các Tôn Giáo

THẦN HỌC VỀ CÁC TÔN GIÁO

Lm. Phanxicô Xavie Nguyễn Tiến Dưng, AA.

***

***

PHẦN I: CÁC TÔN GIÁO TRONG KINH THÁNH

PHẦN II: THẦN HỌC NGÔI LỜI NƠI CÁC GIÁO PHỤ ĐẦU TIÊN

PHẦN III: NGOÀI GIÁO HỘI CÓ ƠN CỨU ĐỘ?

PHẦN IV: THẦN HỌC VỀ SỰ HOÀN TẤT

***

PHẦN V

MẦU NHIỆM ĐỨC KITÔ TRONG TRUYỀN THỐNG CÁC TÔN GIÁO

 

Giữa thần học hoàn thiện và thần học về sự hiện diện của mầu nhiệm Đức Kitô trong các truyền thống tôn giáo có một khoảng cách khá lớn. Thần học hoàn thiện được xây dựng trên sự phân cách không thể vượt qua giữa con người và Thượng Đế, vô ngã và hữu ngã, tự giải phóng chính mình và ơn cứu độ đến từ Thiên Chúa. Khuynh hướng thần học khác, trong lúc vẫn ý thức có sự khác biệt giữa tôn giáo mặc khải và các truyền thống tôn giáo Đông Phương, từ chối tách rời tự nhiên khỏi ân sủng. Nền thần học này vượt lên sự chia cắt giữa việc đi tìm siêu thăng nơi con người và biến cố Thiên Chúa tự hạ mình để gặp gỡ con người. Cũng như khuynh hướng thứ nhất, khuynh hướng này cũng phát triển trước và sau Công Đồng Vatican II. Nhiệm vụ của chúng ta là giới thiệu một số lăng kính thần học có một cái nhìn cởi mở hơn với các truyền thống tôn giáo khác, theo đó mầu nhiệm Đức Kitô không ngừng hiện hữu và hoạt động nơi các truyền thống ngoài Kitô giáo. Theo cách nhìn này, các thành viên của các tôn giáo khác cũng được cứu rỗi trong Đức Kitô nhờ vào việc thành tâm thực hành các tôn giáo của họ. Như vậy, có sự cứu độ mà không cần Tin Mừng, nhưng không phải không cần Đức Giêsu, càng không phải bên ngoài Ngài. Chắc chắn, các thành viên của các truyền thống tôn giáo khác không nhận ra sự hiện diện của Đức Giêsu Kitô, vì Ngài còn tiềm ẩn đối với họ, nhưng không vì thế mà sự hiện hữu của Ngài không cụ thể.

1. Karl Rahner: “Kitô giáo ẩn danh”

“Kitô giáo ẩn danh” là thuật ngữ mà Karl Rahner dùng để chỉ sự hiện diện của mầu nhiệm Đức Kitô nơi truyền thống các tôn giáo khác, dù sự hiện diện này còn bị che dấu hay chưa được nhận biết một cách rõ ràng. Theo Rahner, mỗi người chúng ta mang trong mình hơn cả một sức mạnh thụ động của sự tự siêu thăng (autotranscendance) trong Thiên Chúa. Một cách cụ thể và chủ động, chúng ta hướng về sự tự siêu thăng. Hiện hữu siêu nhiên (existential surnaturel) là một cấu trúc căn bản được Thiên Chúa đưa vào trong mỗi người nhờ ân sủng, để khơi dậy các hoạt động của con người hướng về Thiên Chúa. Kinh nghiệm siêu thăng về Thiên Chúa ở trong mỗi người, cũng như mỗi tôn giáo tùy mức độ khác nhau, nhờ ân sủng. Con người không tự đi tìm Thiên Chúa; hồng ân trong Đức Giêsu Kitô cho nhân loại chính là động lực khiến con người đi tìm Thiên Chúa để mong gặp được Ngài. Chúng ta có thể nói theo cách của Thánh Augustin: Con đã không đi tìm Ngài, nếu Ngài đã không gặp con từ trước. Theo lăng kính của mặc khải Kitô giáo, lịch sử cứu độ, đạt tới đỉnh cao nơi Đức Giêsu Kitô, cùng hiện hữu với lịch sử nhân loại. Suốt chiều dài lịch sử nhân loại, mỗi người có một kinh nghiệm riêng về hồng ân Thiên Chúa ban tặng, để mở rộng lòng mình đón nhận hồng ân đó một cách tự do. Bằng cách nào đi chăng nữa, hồng ân ban tặng này đều được thực hiện một cách cụ thể hoặc hiện sinh trong Đức Giêsu Kitô.

Như vậy, một cách hiện sinh, mỗi người đều tham dự vào mầu nhiệm Nhập Thể của Đức Kitô. Hay nói một cách khác, trong mỗi người, luôn tiềm ẩn một khao khát đi tìm Đức Kitô. Chính vì thế, Kitô học chính là sự kiện toàn tuyệt đối của nhân học. Trong Đức Kitô, sự kết hợp giữa nhân tính và thiên tính đạt tới mức độ tuyệt đối, nên Ngài là Đấng Cứu Độ tuyệt đối cho con người, là trung tâm của lịch sử cứu độ nhân loại; vì trong Ngài, sự tiếp cập với Thiên Chúa được khắc ghi trong kinh nghiệm siêu thăng của con người, đạt tới đỉnh cao của sự hoàn thiện. Ngoài mặc khải Kitô giáo, kinh nghiệm về hông ân Thiên Chúa ban tặng vẫn đang bị che phủ. Trong các truyền thống tôn giáo khác, kinh nghiệm này cũng hiện diện một phần nào, nhưng phiến diện và chưa rõ ràng. Chỉ có sứ điệp Kitô giáo đưa họ ra khỏi sự “ẩn danh” qua việc cung cấp cho họ một sự hiểu biết rõ ràng về Đức Kitô.

Kitô giáo ẩn danh là các thành viên trong các truyền thống tôn giáo khác sống và thực hành tốt truyền thống tôn giáo của mình. Sự cứu rỗi của Kitô giáo đến với các thành viên này một cách “ẩn danh”qua việc họ tuân giữ và thực hành các tôn giáo của mình. Chúng ta phải nhận biết có sự hiện diện của “những giây phút siêu nhiên” đến từ hồng ân nơi các tôn giáo khác. Một khi Đức Tin vào Đức Kitô, Đấng Cứu Độ Duy Nhất, chưa được khắc ghi vào trong lương tâm của họ, thì mầu nhiệm cứu độ được thực hiện qua trung gian của các tôn giáo khác, qua cách thực hành một cách thật thà truyền thông của họ. Người Kitô hữu ẩn danh là người chưa biết Đức Kitô. Nhưng họ có thể mở lòng đón nhận hồng ân Thiên Chúa, trong Đức Kitô, qua truyền thống tôn giáo của mình.

Sự khác nhau giữa người Kitô hữu minh nhiên và một Kitô hữu ẩn danh là người Kitô hữu ý thức chín chắn về Đức Tin Kitô giáo của mình. Ý thức này ăn sâu vào tận trong thâm khảm của họ. Trong lúc đó, người Kitô hữu ẩn danh thiếu vắng ý thức này. Dù họ chưa ý thức một cách rõ ràng về Đức Tin Kitô giáo, mầu nhiệm cứu chuộc của Đức Kitô luôn tiềm ẩn và hoạt động trong họ. Nói tóm lại, Kitô hữu ẩn danh muốn nói rằng: mọi người đều có thể nhận lãnh mầu nhiệm cứu chuộc trong Đức Kitô. Hay nói cách khác, theo Rahner, nhân loại luôn thao thức tìm kiếm mầu nhiệm Đức Kitô; vì thế họ có thể gặp Ngài ngay cà khi họ chưa biết Ngài một cách rõ ràng qua các biến cố lịch sử.

2. Raimundo Panikkar: “Đức Kitô chưa được nhận biết”

Tác phẩm đầu tiên của Panikkar mà chúng ta nghiên cứu ở đây là “Đức Kitô chưa được nhận biết trong Ấn Độ giáo”.[1] Người ta có thể dịch là “sự hiện diện của Đức Kitô trong truyền thống các tôn giáo khác”, vì đây là ý chính của tác giả. Khi đề cập tới Ấn Độ giáo một cách cụ thể, Panikkar viết: “Có một sự Hiện diện sống động của Đức Kitô trong Ấn Độ giáo”.[2] Sự hiện diện này không chỉ trong đời sống cá nhân từng thành viên trung thành của tôn giáo này, nhưng là một sự hiện diện thật sự trong chính truyền thống tôn giáo này như một hiện tượng tôn giáo, khách quan và có tính cách xã hội. Qua khẳng định này, Panikkar vượt lên cả thần học hoàn thiện. Ông viết: “Đức Kitô không chỉ là cứu cánh. Ngài là khi nguyên (...). Đức Kitô không ch là đích điểm hữu thể học mà Ấn Độ giáo theo đuổi. Ngài là nguồn khi hứng đích thực cho tôn giáo này, và ân sủng của Ngài, dù còn che dấu, là sức mạnh dẫn đưa Ấn Độ giáo tới sự trọn đầy mà họ đang kiếm tìm”.[3] Đức Kitô, nguồn mạch duy nhất của tất cả mọi kinh nghiệm tôn giáo chân thật, là “điểm hội ngộ bản thể” giữa Ấn Độ giáo và Kitô giáo. Vì “không thuộc sở hữu của riêng Kitô giáo: Ngài thuộc về Thiên Chúa. Chính Kitô giáo và Ấn Độ giáo thuộc về Đức Kitô, dù dưới hai cách thức khác nhau”.[4]

3. Hans Kung: “Các con đường cứu độ”

Hans Kung đề cập đến thần học tôn giáo lần đầu tiên trong một bài viết gửi tới cuộc hội thảo về “Mặc khải Kitô giáo và các tôn giáo ngoài Kitô giáo”, diễn ra ở Bombay, Ấn Độ, từ ngày 25 đến ngày 28 tháng 11 năm 1964.[5] Ngay từ đầu, Hans Kung khẳng định rằng: ngoài những sai lầm hàm chứa trong đó, các tôn giáo cũng bao hàm cách này hay cách khác chân lý linh thiêng; các tín đồ của các tôn giáo ngoài Kitô giáo, khi trở về với Tin Mừng, không cần từ bỏ những gì tốt đẹp từ các tôn giáo cũ của họ, vì những gì tốt đẹp nơi các tôn giáo khác cũng đến từ Thiên Chúa. Dưới lăng kính của Đức Tin Kitô giáo, Hans Kung đã có một tuyên bố quan trọng về vai trò của các tôn giáo trong chương trình của Thiên Chúa. Bản tuyên bố này như sau:

“Khi nhìn con đường “đặc thù” (extraordinaire) của sự cứu độ là Giáo Hội, các tôn giáo của nhân loại có thể được gọi là- nếu thuật ngữ này được hiểu một cách chính xác-con đường “thông thường” (ordinaire) của sự cứu độ cho nhân loại ngoài Kitô giáo. Thiên Chúa không chỉ là Chúa của lịch sử cứu độ đặc thù nơi Giáo Hội, mà còn là Chúa của lịch sử cứu độ cho toàn thể nhân loại. Lịch sử cứu độ của hoàn cầu gắn liền với lịch sử cứu độ đặc thù qua nguồn gốc, ý nghĩa và đích điểm chung, vì cả hai phụ thuộc vào cùng một hồng ân của Thiên Chúa. Tất cả những hoàn cảnh lịch sử, trong cũng như ngoài Giáo Hội, đều được bao bọc từ trước bởi ân sủng. Vì Thiên Chúa muốn cứu độ một cách nghiêm túc và cụ thể tất cả mọi người, ngoại trừ những người tự hư mất do lỗi lầm của chính họ, mỗi người được ủy thác để tìm phần rỗi của mình trong chính điều kiện lịch sử của mình.Ở đây, câu nói “trong điều kiện lịch sử của mình” có nghĩa là trong môi trường cá nhân và xã hội đặc thù, nơi đó họ không thể thoát ra được, và cuối cùng trong chính tôn giáo mà xã hội áp đặt lên họ. Tôn giáo của con người, xét như là một hữu thể có tính xã hội, không bao giờ chỉ đơn thuần là một hành động cá thể hay chủ quan ở trong nội tâm hoàn toàn có tính riêng tư, nhưng nó luôn luôn là một hoạt động được thực hiện trong một thân thể xã hội đặc thù, tức là dưới dạng một tôn giáo đặc thù, một cộng đồng tín ngưỡng cụ thể. Nhưng vì Thiên Chúa muốn cứu độ một cách nghiêm chỉnh và cụ thể tất cả mọi người trong lịch sử nhân loại, dù Ngài không thừa nhận tất cả các yếu tố (sai lầm và lệch lạc) của các tôn giáo này (chính Giao ước cũ cũng không hoàn hảo), nhưng Ngài vẫn phê chuẩn các tôn giáo như nó vẫn có, tức là những cấu trúc của xã hội. Những tôn giáo này, trong nhiều nghĩa và nhiều mức độ khác nhau, vẫn là những “tôn giáo hợp pháp”.[6]Một con người phải được cứu rỗi ngay trong chính tôn giáo mà họ đang theo vì hoàn cảnh lịch sử của mình. Họ có quyền và bổn phận tìm kiếm Thiên Chúa trong tôn giáo của mình, nơi mà Thiên Chúa ẩn mình đã tìm gặp họ trước khi họ gặp Ngài. Tất cả những điều này được diễn tiến cho đến ngày chính họ được đối diện một cách đích thực trong cuộc sống của mình với mặc khải của Đức Giêsu Kitô. Các tôn giáo, với các hình thức của đức tin và nghi lễ, các phạm trù và giá trị, các biểu tượng và các hình thức tế tự, các kinh nghiệm tôn giáo và đạo đức của họ có một “hiệu lực tương đối”,[7] một “quyền tương đối và phù hp với ý Trời cho sự hiện hữu”.[8] Các tôn giáo là con đường cứu độ trong lịch sử nhân loại; con đường chung của lịch sử cứu độ, người ta có thể nói cho thành viên của các tôn giáo ngoài Kitô giáo: đó là con đường chung nhất, con đường “bình thường” dẫn tới ơn cứu độ, vì con đường cứu độ trong Giáo Hội được xem như là con đường đặc thù và kỳ diệu. Con đường của Giáo Hội có thể được xem như là con đường lớn, con đường “đặc thù” của ơn cứu độ! (...) Con đường cứu độ cho con người, ngoài Giáo Hội, xuất hiện như con đường “thường nhật”, còn con đường của Giáo Hội là con đường lớn có tính cách “đặc thù”.[9]

Như vậy, Hans Kung đã chịu ảnh hưởng tư tưởng thần học của K. Rahner và H. R. Schlette. Với Rahner, như ta đã biết, ngài cho rằng các truyền thống tôn giáo “hàm chứa những yếu tố được nhận lãnh từ ân sủng siêu nhiên”. Vì thế, một cách nào đó, các tôn giáo là “phương tiện” hay là các “con đường” của sự cứu độ. Hans Kung tiến xa hơn khi nhìn nhận các tôn giáo khác là con đường thường nhật (ordinaires) của sự cứu độ cho các tín đồ của tôn giáo mình. Về phần H. R. Schlette, ông khẳng định một cách rõ ràng rằng: các tôn giáo vẫn là các con đường cứu độ hữu hiệu cho tín đồ của mình, cho đến chừng nào các tín đồ này vẫn tiếp tục gắn bó với tôn giáo của mình trong đức tin và sự chân thành. Hans Kung mượn tư tưởng này của Schlette, khi phân biệt lịch sử cứu độ chung cho tất cả mọi người và lịch sử cứu độ một cách đặc thù trong truyền thống Do Thái - Kitô giáo; ông cũng theo Schlette khi khẳngđịnh rằng, các tôn giáo khác là những con đường bình thường của ơn cứu độ, trong khi Kitô giáo là “con đường”đặc thù.[10]

4. Gustave Thils: Các “trung gian của ơn cứu chuộc”

Một thần học gia khác cũng có lối nhìn về vai trò tích cực của các tôn giáo trong mầu nhiệm cứu chuộc, đó là Gustave Thils, được viết trong tác phẩm với tựa đề:Propos et problèmes de la théologie des religions non chrétiennes (Mục đích và vấn nạn của thần học về các tôn giáo ngoài Kitô giáo), xuất bản vào năm 1966. Gustave Thils khẳng định có một “mặc khải phổ quát” của Thiên Chúa cho con người. Vì vậy, phải phân biệt sự hiểu biết một cách tự nhiên về Thiên Chúa và sự hiểu biết có tính cách siêu nhiên về Ngài; điều đó không có nghĩa là việc Thiên Chúa tỏ mình qua tự nhiên không hàm chứa một mặc khải thiên tính về chính Ngài. Công trình tạo dựng không chỉ mặc khải cho lý trí của con người về sự hiện hữu của một Thiên Chúa sáng tạo, nhưng còn diễn tả một Thiên Chúa quan phòng bằng tình yêu.

Chương trình của Thiên Chúa cho nhân loại bao hàm việc con người có một tôn giáo, để trong và qua tôn giáo này, Ngài có thể mặc khải một cách tiệm tiến và hoàn thiện chương trình cứu độ của mình. Vì thế, Gustave Thils cho rằng, ơn cứu độ cho các thành viên của các tôn giáo có thể đạt được trong, và trong một nghĩa nào đó qua tôn giáo của họ: “vì các tôn giáo thể hiện chương trình phổ quát của ơn cu độ hoặc đáp trả mời gọi của mặc khải phổ quát, nên các tôn giáo cũng có một số hiệu lực của ơn cứu độ.[11] Trước mặt Thiên Chúa, các tôn giáo có một số tính chất hợp pháp.[12] Các tôn giáo có thể được gọi là các “con đường” cứu độ vì các tôn giáo này bày tỏ và nhập thể chương trinh cứu độ của Thiên Chúa cho các tín đồ của mình; trong chiều hướng này, ta có thể gọi các tôn giáo là các “con đường cứu độ thông thường” cho các tín đồ của họ.[13]

Nhưng điều đó không có nghĩa là các tôn giáo đều có giá trị như nhau. Vì nếu “con đường của các tôn giáo không phải Kitô giáo” bao hàm những phương thế cho chương trình cứu độ chung (économie générale), phù hợp với mặc khải phổ quát của Thiên Chúa (revelation universelle), thì “con đường của Kitô giáo” là con đường giàu về phương tiện, vì được ban tặng bằng một “chương trình cứu độ đặc thù” qua Đức Giêsu Kitô. Các con đường khác nhau này không tương đồng, cũng không song song với nhau.[14] Kitô giáo là con đường “đặc thù” (extraordinaire) vì có tính cách đặc biệt, và vì sự trọn hảo bởi các phương thế cứu chuộc mà nó được nhận lãnh qua Đức Giêsu Kitô. Không loại trừ các tôn giáo khác, nhưng Kitô giáo là “con đường cứu độ tròn đầy”. Tóm lại, các tôn giáo cũng có một vai trò ý nghĩa trong việc cứu chuộc con người, nhưng không có một phương cách đặc thù và trọn hảo như Kitô giáo.[15]

 

 

 


[1]R. PANIKKAR, The Unknown Christ of Hinduism. Bản dịch tiếng Pháp: Le Christ et l’Hindouisme. Une présence cachée.

[2]R. PANIKKAR, Le Christ et Hindouisme, tr. 11.

[3]Ibid., tr. 12.

[4]Ibid., tr. 44.

[5]Hans KUNG, “The World Religions in God’s Plan of Salvation”, trong: J.NEUNER (éd), Christian Revelation and World Religions, tr. 25-66.

[6]Xem: K. RAHNER, “Das Christentum und die nichtchrislichen Religionen”, Schriften..., vol.V, tr. 143-154.

[7]J. NEUNER, “Missionstheologische Probleme in Indien”, tr. 401.

[8]Xem: H. R. SCHLETTE, Pour une “théologie des religions”, tr. 37.

[9]Hans KUNG, “The World Religions in God’s Plan of Salvation”, trong: J.NEUNER (éd), Christian Revelation and World Religions, tr. 51-53.

[10]Xem: H.R SCHLETTE, Pour une “théologie dé religions”, tr. 106-110.

[11]Gustave THILS, Propos et problèmes de la théologie des religions non chrétiennes, 1966, tr. 131-133.

[12]Ibid., tr. 133-134.

[13]Ibid., tr. 135.

[14]Ibid., tr. 136.

[15]Ibid., tr. 173-190.

 

 

 

Catechesis.Net