• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

Thần Học Các Tôn Giáo: Thần Học Về Sự Hoàn Tất

THẦN HỌC VỀ CÁC TÔN GIÁO

Lm. Phanxicô Xavie Nguyễn Tiến Dưng, AA.

***

***

PHẦN I: CÁC TÔN GIÁO TRONG KINH THÁNH

PHẦN II: THẦN HỌC NGÔI LỜI NƠI CÁC GIÁO PHỤ ĐẦU TIÊN

PHẦN III: NGOÀI GIÁO HỘI CÓ ƠN CỨU ĐỘ?

***

PHẦN IV

THẦN HỌC VỀ SỰ HOÀN TẤT

 

1. Jean Daniélou: tôn giáo vũ trụ và mặc khải Kitô giáo

Daniélou được xem như thần học gia Tây Phương đầu tiên viết về thuyết hoàn thiện (théorie de l’accomplissement). Từ thập niên 40 đến 70, ngài đã viết rất nhiều về đề tài này.[1] Ngài luôn tự hỏi xem Kitô giáo có thể nói gì về những tôn giáo đã gặp trong quá khứ cũng như trong hiện tại và tương lai. Đâu là chương trình cứu độ của Thiên Chúa trong Đức Kitô cho các tôn giáo này dưới cái nhìn của Đức Tin Kitô giáo? Kim chỉ nam cho tư tưởng của ngài là thần học lịch sử, qua đó Thiên Chúa mặc khải một cách tiệm tiến cho nhân loại. Theo Daniélou, lịch sử cứu độ được giới hạn trong truyền thống Do Thái và Kitô giáo: lịch sử này bắt đầu với mặc khải của Thiên Chúa với Israel qua trung gian của Abraham và Moses, rồi tiếp diễn với dân được tuyển chọn và đạt tới đỉnh cao trong Đức Giêsu Kitô; và sứ điệp cứu chuộc của Người được ủy thác cho Giáo Hội. Tất cả những mặc khải trước khi mặc khải của chính Thiên Chúa trong lịch sử, dù cùng nằm trong chương trình của Thiên Chúa dành cho nhân loại, đều được gọi là “tiền-lịch sử”. Thuật ngữ này cũng được gán cho các tôn giáo ngoài truyền thống Do Thái giáo và Kitô giáo vẫn tồn tại hôm nay. Vậy đâu là giá trị thật của các tôn giáo trên thế giới? Chữ “chuẩn bị cho Tin Mừng” có ý nghĩa thế nào?

Daniélou phân biệt giữa tự nhiên và siêu nhiên, hay nói một cách tương đồng, ngài phân biệt giữa tôn giáo và mặc khải. Các tôn giáo ngoài Kitô giáo thuộc phạm trù lý trí tự nhiên, còn mặc khải Do Thái và Kitô giáo thuộc phạm trù đức tin siêu nhiên. Hai trật tự này phù hợp với sự phân biệt giữa hai giao ước được Thiên Chúa ban tặng: vũ trụ và lịch sử. Giao ước vũ trụ tương ứng với sự biểu hiện của Thiên Chúa qua tự nhiên; dù rằng trong thực tế, giao ước này chuẩn bị cho việc mặc khải của Thiên Chúa trong lịch sử. Nó cho thấy Thiên Chúa hiện hữu một cách thường hằng trong công trình tạo dựng. Những người ngoài Kitô giáo cũng có thể biết Thiên Chúa qua trật tự vũ trụ hoặc qua tiếng nói của lương tâm. Nếu những người ngoài Kitô giáo nhìn nhận Thiên Chúa là Đấng tạo dựng nên mình, thì họ có một sự hiểu biết đúng đắn. Ngược lại, nếu họ không nhìn nhận Ngài là Thượng Đế, thì tâm trí họ trở nên tối tăm.

Cũng thế, các tôn giáo ngoài Kitô giáo là một sự trộn lẫn giữa chân lý và dối trá, ánh sáng và bóng tối, sự ngay thẳng và hành động xấu xa. Vì các tôn giáo này thuộc trật tự của tôn giáo vụ trụ, nên thuộc về giao ước vũ trụ. Giao ước này, dù nó nằm trong chương trình của Thiên Chúa cho nhân loại và cho cả vụ trụ, cũng chỉ nhằm vào việc chuẩn bị cho mặc khải của chính Thiên Chúa trong lịch sử. Vì thế nên nó được gọi là “tiền lịch sử” cứu độ. Có một sự kế thừa giữa giao ước vũ trụ và giao ước lịch sử, vì giao ước thứ nhất đặt nền móng cho giao ước thứ hai; nhưng sự can dự trực tiếp của Thiên Chúa một cách vô vị lợi chỉ thực sự khai mào với giao ước lịch sử và nó tạo nên một khác biệt lớn với giao ước thứ nhất.

Nhiều người sống trong giao ước vũ trụ làm đẹp lòng Thiên Chúa, bằng chứng là các vị “thánh ngoại đạo” được đề cập tới trong Cựu Ước và được thư gửi tín hữu Do Thái ca ngợi (x. Dt 1,1). Thánh Kinh không cho biết số lượng họ đông bao nhiêu, nhưng cả Cựu Ước và Thánh Phaolô trong thư gửi các tín hữu Roma đều nhắc tới những lầm lỗi mà các quốc gia đã sa vào. Dù sao, một sự chuẩn bị cho TinMừng cũng được tìm thấy nơi các tôn giáo của con người, để chuẩn bị tốt hơn, như một nền tảng tự nhiên, cho mặc khải của Thiên Chúa với nhân loại trong lịch sử, mà đỉnh điểm của lịch sự cứu độ là biến cố Đức Giêsu Kitô.

Tóm lại, theo Daniélou, các tôn giáo ngoài truyền thống Do Thái và Kitô giáo là tôn giáo tự nhiên, tức là con người tìm cách vươn tới Thiên Chúa. Còn Kitô giáo là tôn giáo mặc khải, tôn giáo siêu nhiên, tức là Thiên Chúa đến với con người. Daniélou viết: “Kitô giáo không phải là cố gắng của con người đạt tới Thiên Chúa. Kitô giáo là sức mạnh của Thiên Chúa hoàn thiện trong con người, vượt lên trên khả năng của con người: và vì thế, cố gắng của con người chỉ là việc đáp trả lời mời gọi của Thiên Chúa”. “Các tôn giáo tự nhiên- và đây là bảo chứng về giá trị của các tôn giáo- khẳng định hành động của con người hướng về Thiên Chúa; còn trong Kitô giáo, Thiên Chúa đến với con người; trong Đức Kitô, Thiên Chúa đến với con người để dẫn đưa con người về với Ngài”.[2]

Daniélou viết tiếp:“Sự khác biệt chính yếu giữa Công giáo và các tôn giáo khác là: các tôn giáo khác khởi đi từ con người, và đây là là một ý hướng thật cảm động và nhiều khi rất đẹp nhằm vươn cao, hầu chạm tới Thiên Chúa; nhưng trong Công giáo, một chuyển động ngược lại, Thiên Chúa đi xuống với con người, hầu đưa con người về thông phần sự sống của Ngài. Trong Công giáo, khả năng đáp trả linh hứng của toàn vũ trụ cũng được ban tặng. Trong Công giáo, tôn giáo thật sự là sự kết hợp giữa hai yếu t này, tức là Thiên Chúa đến với con người và kêu mời con người đáp trả lời mời gọi của Ngài. o tưng của chủ nghĩa đại đồng (ch nghĩa tương đối) là tin rằng mọi tôn giáo đều như nhau”.[3]

Thần học hoàn thiện của Daniélou có một ảnh hưởng rấtlớn trên Công Đồng Vatican II và cả trên các tài liệu hậu Công Đồng của Giáo Hội mà chúng ta có dịp gặp lại trong chương tới.

2. Henri de Lubac: Kitô giáo như là một trục chính trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa

Henri de Lubac đến với thần học về các tôn giáo bằng các nghiên cứu, qua đó ngài so sánh một số “khía cạnh của Phật giáo” và Kitô giáo. Dù có một số thiện cảm với Phật giáo, ngài chỉ rõ những khác biệt không thể dung hòa giữa hai tôn giáo này trong vấn đề giải phóng con người, cũng như những quan niệm khác biệt về con người và thế giới của hai tôn giáo này.[4] Từ khi còn là một thần học gia trẻ tuổi, Henri de Lubac đã cho xuất bản nhiều tác phẩm về mầu nhiệm của siêu nhiên; trước hết là nghiên cứu về lịch sử của siêu nhiên và sau đó là cấu trúc từ siêu nhiên một cách có hệ thống. Những nghiên cứu này nhằm chuẩn bị cho Kitô giáo tiếp cận với các tôn giáo khác; qua đó, ngài nhấn mạnh tới tính đặc thù và duy nhất của Kitô giáo so với các tôn giáo khác trên bình diện giáo lý cũng như về đời sống chiêm niệm.

Trong tác phẩm nổi tiếng, Catholicisme (Công giáo chủ nghĩa), dựa theo tư tưởng của Irénée, Henri de Lubac đã viết “sự mi mẻ hoàn toàn” của Kitô giáo so với các tôn giáo khác trong lịch sử nhân loại:“Kitô giáo đã mang đến cho con người một điều hoàn toàn mới mẻ. Quan niệm về cứu độ nơi Kitô giáo không chỉ mang tính đặc thù so với các tôn giáo khác chung quanh nó: Kitô giáo thiết lập một sự kiện duy nhất trong lịch sử tôn giáo của nhân loại (...). Trong bản hòa tấu của vụ trụ (các tôn giáo), ch một mình Kitô giáo khẳng định một cách không thể phân chia, một cứu cách siêu việt cho con người và một cứu cách chung cho toàn thể nhân loại. Cứu cách chung cho nhân loại được chun bị suốt chiều dài lịch sử. Từ khi tạo dựng cho tới ngày chung hưởng cuối cùng (...) chỉ là một chương trình của Thiên Chúa được hoàn thiện”.[5]

Cũng giống như Daniélou, theo Henri de Lubac, tương quan giữa Kitô giáo và các tôn giáo khác phù hợp với cấu trúc “phân biệt nhưng không chia lìa” giữa tự nhiên và siêu nhiên. Siêu nhiên, hoàn toàn vô vị lợi từ Thiên Chúa, đáp trả ước muốn tự nhiên của con người muốn kết hợp với Thần Linh. Tự nhiên và siêu nhiên được kết hợp một cách mật thiết trong Đức Giêsu Kitô. Trong Ngài và qua Ngài, siêu nhiên không thế chỗ tự nhiên, nhưng mở đường và biến đổi tự nhiên: “Đức Kitô không cạnh tranh với bản tính nhân loại, vì Đức Kitô và hồng ân của Ngài không xóa mất bản tính của con người”.[6] Tương quan giữa Kitô giáo và các tôn giáo khác cũng giống như vậy. Ở đây, không có sự cạnh tranh giữa Kitô giáo và các tôn giáo khác. Qua việc nhập thể của hồng ân Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô, Kitô giáo là một tôn giáo siêu nhiên. Nên, những gì là chân thật và tốt đẹp nơi các tôn giáo khác không bị xóa đi, vì “ân sủng không phá hủy tự nhiên”. Tuy nhiên, cũng như bản tính tự nhiên của con người được tạo dựng vừa tội lỗi vừa là dấu ấn của Thiên Chúa, các tôn giáo tạo ra bởi con người hàm chứa vừa “hạt giống Ngôi Lời” vừa những yếu tố phản trắc. Không cạnh tranh với các tôn giáo khác, nhưng Kitô giáo mặc khải những giá trị tích cực; nên Kitô giáo hoàn thiện, thanh tẩy và biến đổi các tôn giáo khác. Nói một cách khác, “Kitô giáo không thêm gì vào cho các tôn giáo khác, ngoài việc mang đến một giải pháp cho các tôn giáo khác, hay nói đúng hơn là đích điểm của cuộc chạy. Kitô giáo đến để vực dậy những cố gắng của con người, thanh tẩy nó, biến đổi nó để đi tìm một lối thoát; vì vậy Kitô giáo chính là tôn giáo nối kết con người với Thiên Chúa”.[7]

Tương quan giữa Kitô giáo và các tôn giáo khác, đặc biệt là cách thức mà ơn cứu độ trong Đức Kitô đến với người ngoài Kitô giáo được viết một chương ngắn trong cuốn Paradoxe et mystère de 1’Eglise (Nghịch lý và mầu nhiệm Giáo Hội). Theo thuyết hoàn thiện mà Henri de Lubac viết theo cách thức của ngài, mầu nhiệm của Đức Kitô đạt tới thành viên của các truyền thống tôn giáo khác như một câu trả lời cho khát vọng của con người muốn kết hợp với Thượng Đế; tuy nhiên, các tôn giáo khác không giữ một vai trò nào trong mầu nhiệm cứu chuộc này. Henri de Lubac diễn dẫn rằng: nếu cho các tôn giáo khác một vai trò tích cực liên quan tới ơn cứu độ, sẽ đặt các tôn giáo khác trong thế cạnh tranh với Kitô giáo, đồng thời làm lu mờ tính duy nhất của Kitô giáo. Ngài quan sát, khi trích lại quan điểm của Teilhard de Chardin, rằng chương trình của Thiên Chúa chắc chắn là một chương trình có trật tự: chương trình này có một trục, một điểm hội tụ. Điểm hội tụ này chính là Kitô giáo, con đường duy nhất của ơn cứu độ. Nếu nghĩ rằng, các tôn giáo khác cũng đóng góp một vai trò cứu độ cho các thành viên của mình, sẽ biến các tôn giáo khác thành những con đường cứu chuộc song song với Kitô giáo, và như thế sẽ phá hủy sự thống nhất chương trình cứu độ của Thiên Chúa: “Nếu quả thực có nhiều con đường cứu độ song song vi nhau, thì chúng ta đối diện với một sự phân tán, chứ không phải là một điểm hội tụ thiêng liêng, và điều mà chúng ta gọi là chương trình của Thiên Chúa thì không thống nhất. Phải có một trục thống nhất (...). Nếu phù hợp với ý định của Thiên Chúa, chúng ta phải bận tâm về sự cứu độ của con người, nếu chúng ta tin rằng, lịch sử cứu độ là cái gì đó cụ thể và nếu chúng tamuốn có sự hợp nhất, chúng ta không thể tránh khỏi việc tìm kiếm một trục và một sức mạnh ni kết, trong đó Thánh Thần của Thiên Chúa hoạt động trong Giáo Hội”.[8]

Liên quan đến điểm hội tụ, theo Teilhard de Chardin, đó không phải là Kitô giáo, cũng không phải là Giáo Hội, nhưng là Đức Giêsu Kitô. Ngài chính là đỉnh điểm cuối cùng của quá trình tiến hóa trong vũ trụ:“Đức Kitô là Alpha và Oméga, Nguyên Lý và Cứu Cánh, là Viên Đá nền và là Điểm tận cùng của vòm tháp, là sự sung mãn và là người Điều Phối tổng thể. Ngài là người hoàn thiện và là Ngưi ban tặng cho tất cả sự sống (...). Ngài là trung tâm điểm duy nhất, quý giá và mãi trường tồn; một tâm điểm soi sáng từ đỉnh cao cho tương lai thế giới”.[9]

3. Hans Urs von Balthasar: Đức Kitô, một Con Người “Phổ quát cụ thể”

Trong số muôn vàn tác phẩm được Balthasar viết ra, người ta không tìm thấy bất kì nơi nào một thần học chi tiết về các tôn giáo. Điều đó không có nghĩa là đề tài này không được đề cập tới trong các tác phẩm của ngài, đặc biệt là ba tác phẩm nổi tiếng: Herrlichkeit, Theodramatik, Theologik. Trong thực tế, Balthasar đã nhiều lần so sánh Kitô giáo với các tôn giáo khác, nhằm chỉ ra những điểm mâu thuẫn, cũng như những hướng đi hoàn toàn khác của Kitô giáo, tính siêu việt của Kitô giáo so với các tôn giáo khác. Vì thế, để hiểu được thần học về các tôn giáo nơi Balthasar, cần đọc nhiều bản văn khác nhau của ngài. Qua việc nghiên cứu, ta thấy tư tưởng của ngài cũng giống như Daniélou và de Lubac, tức là ta có thể xếp vào hạng “triết thuyết về sự hoàn thiện”. Thuật ngữ “Phổ quát cụ thể” mà ngài sử dụng để diễn tả mầu nhiệm Đức Giêsu Kitô, nói lên tính tuyệt đối của con người Đức Kitô trong tương quan giữa Thiên Chúa và con người: trong Đức Giêsu Kitô, mâu thuẫn giữa cụ th-đặc thù (concret-particulier)phổ quát - trừu tượng (universel-abstrait) được giải quyết.[10]

Balthasar còn tự hỏi rằng, trong nghĩa nào mà người ta có quyền nói tới “điểm hội tụ” hay là “hội nhập” của các tôn giáo. Theo ngài, không có chuyện các tôn giáo hoàn cầu đều có một giá trị như nhau. Điều phân biệt lớn nhất giữa các tôn giáo được mặc khải- tức là Do Thái giáo, Kitô giáo và Hồi giáo- những tôn giáo có cùng một Đức Tin vào Thiên Chúa hữu ngã sáng tạo, còn các tôn giáo Đông Phương, thì Thực tại thần linh vô ngã được cất giấu dưới các biến cố của thời gian đổi thay. Hai nhóm tôn giáo này có hai hướng đi khác biệt và nhiều khi đối lập nhau: nhóm độc thần thì Thiên Chúa đến với con người, còn nhóm khác thì con người tìm đến Đấng Siêu Việt.

Điều đó không có nghĩa là các tôn giáo không có những điểm tương đồng. Tất cả các tôn giáo đều có một nền móng hay một tầng nền chung, liên quan đến việc tìm kiếm sự t siêu thăng (auto-transcendance) và việc giải phóng con người. Tuy nhiên, để đạt tới các mục đích trên, hai nhóm tôn giáo đi hai con đường đối lập nhau: Nhóm thứ nhất, Thiên Chúa đi tìm con người và hướng về con người qua Lời của Ngài, trong lịch sử, trong tình yêu và hồng ân của chính Ngài; nhóm thứ hai thì tự đấu tranh để giải phóng chính mình khi tự tan biến trong Đấng Siêu Việt Vô Ngã. Giữa hai thái độ trên, không có một khả năng “hội tụ”, nhưng nói đúng hơn là một sự đi về hoàn chỉnh. Hai nhóm này quan niệm về thế giới hoàn toàn khác nhau; vì thế, một “tôn giáo đại đồng” là một ảo tưởng không thể thực hiện. Trong thực tế, cả hai quan niệm khác biệt này đều cho rằng mình có tính phổ quát và tuyệt đối.

Nhưng tham vọng giải phóng chính mình- qua việc thiền, qua các thực hành kìm hãm thân xác hay qua các kỹ thuật khác- của các tôn giáo Đông phươnglà vô ích. Sự siêu thăng chỉ có thể đạt được như ân sủng của một Thiên Chúa Tình Yêu trao ban cho loài người. Liên qua đến ba tôn giáo xuất phát từ mặc khải: Sự chối từ của người Do Thái trong việc đi đến hết con đường Đức Tin, tức là họ không thể tin vào hồng ân của Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô, đã làm gián đoạn lịch sử cứu độ, sẽ có thể được kiện toàn trong ngày Cánh chung. Còn Hồi giáo, dù phụ thuộc một phần lớn truyền thống Do Thái và Kitô giáo, nhưng trong thực tế đã mất đi tính năng động Cánh chung (dynamisme eschatologique) được định hình trong truyền thống này, tức là sự đợi chờ triều đại của Đấng Thiên Sai hay là ngày Ngài trở lại. Chỉ còn lại Kitô giáo- và đặc biệt là Công giáo- là một tôn giáo phổ quát dành cho mọi người.

Kitô giáo đón nhận và cụ thể hóa tất cả những gì tốt đẹp nhất nơi tâm thức tôn giáo căn bản của từng con người và siêu thăng các thái độ ấy. Nó cụ thể hóa các khát vọng nơi các tôn giáo Đông phương hướng về Đấng Duy Nhất, nhưng mỗi người không đánh mất chính mình. Mầu nhiệm Đức Giêsu Kitô là ân sủng hoàn toàn của chính Thiên Chúa tình yêu với nhân loại, một Ngôi Hai làm người; qua một sự “trao đổi kỳ diệu” này, Thiên Chúa mời gọi mọi người hiệp thông với Ngài như tôi và bạn (un moi à un toi). Đặc thù của Kitô giáo là Đức Kitô trong mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi. Ngài là một “phổ quát cụ thể” (universel concret).

Qua mầu nhiệm thập giá và phục sinh, Đức Giêsu Kitô chính là lời “xin vâng” vô điều kiện của Thiên Chúa với con người; lời xin vâng này luôn có giá trị cho ngày hôm nay. Nếu như những người ngoại giáo tìm sự cứu chuộc thế giới bằng cách chạy trốn khỏi đau khổ, thì Đức Giêsu Kitô lại mang lấy vào thân mình sự đau khổ của thế giới, nhằm nối kết đau khổ của thế giới với Thiên Chúa. Vì thế, chương trình của Kitô giáo là chương trình duy nhất có thể trả lời cho con người một cách cụ thể và toàn diện.

Về vấn đề thần hiệp, Balthasar cho rằng: có một sự giống nhau nào đó giữa thần hiệp trong Kitô giáo và thần hiệp ngoài Kitô giáo, khi cả hai đều muốn sống phụ thuộc vào Đấng Siêu Việt và muốn giảm bớt khoảng cách giữa con người với Ngài. Tuy nhiên, cũng có một khác biệt lớn: Trong khi thần hiệp của các tôn giáo ngoài Kitô giáo là sự cố gắng của chính con người tìm cách đi tới Đấng Siêu Việt, thì trong thần hiệp Kitô giáo, chính Thiên Chúa đã đi bước trước, một cách bất ngờ, đến với con người trong Ngôi Lời Nhập Thể. Sự đáp trả “hành động và li”của Ngài chỉ hệ tại ở việc nghe và đi theo. Nói tóm lại, thần hiệp ngoài Kitô giáo, đặc biệt là nơi các tôn giáo ở Đông Phương- diễn tả ước vọng thâm sâu cũng như cố gắng của con người để tự giải phóng chính mình, để làm sao hữu hạn đạt tới Vô Hạn. Thần hiệp Kitô giáo thì hoàn toàn ngược lại: Một Thiên Chúa Hằng sống đi tìm con người; cách thức Ngài đi ra khỏi chính mình để đến với chúng ta đạt tới đỉnh cao nhất trong biến cố Nhập Thể của Ngôi Lời.

Nói tóm lại, Balthasar xem các tôn giáo ngoài Kitô giáo hoàn toàn đối lập với mặc khải Kitô giáo. Dù các tôn giáo có cùng một nền chung nơi bản tính người, tôn giáo mặc khải và tôn giáo ngoài Kitô giáo có hai hướng đi đối lập nhau: một bên đi từ con người tới Đấng Siêu Việt; một bên khác thì Thiên Chúa Hằng sống đến với con người. Tôn giáo ngoài Kitô giáo là tự nhiên, còn Kitô giáo thì siêu nhiên. Siêu nhiên thanh tẩy và biến đổi tự nhiên.

 

 


[1]Xem: Jean DANIELOU, Le Mystère du salut des nations; Le Mystère de 1avent; Essai sur le mystère de I’histoire; Les saints “pains” de I’Ancien Testament; Mythes paiens, mystère Chrétien; La foi de toujour et I’homme aujourd’hui.

[2]Jean DANIELOU, Essaisurle mystère de l’histoire, tr. 113-116.

[3]Ibid., tr. 21-22.

[4]Henri de LUBAC, Aspects du bouddhisme; La rencontre du bouddhisme et de l’Occident.

[5]Henri de LUBAC, Catholicisme, Les aspects sociaux du dogme, tr. 107-110.

[6]Xem: N. ETEROVIC, Cristianesimo e religioni secondo H. de Lubac, tr. 283.

[7]Henri de LUBAC, Le fondement théologique des misions, tr. 283-284.

[8]Henri de LUBAC, Paradoxe et mystère de 1'Eglise, tr. 149.

[9]Pierre Teilhard de CHARDIN, Science et Christ, tr. 61-62.

[10]Hans Urs Von BALTHASAR, Théologie de 1histoire, tr. 112: unversale concretum et personnale.

 

 

 

 

Catechesis.Net