• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

Chứng Từ Tân Ước Về Nguồn Gốc Và Bản Chất Của Giáo Hội

 

Để giúp độc giả hiểu về bản chất và nguồn gốc của Giáo Hội, chúng tôi giới thiệu một bài viết của đức giáo hoàng Bênêđictô XVI, thuở ngài còn là hồng y Tổng trưởng Bộ Giáo Lý Đức Tin. Tác giả dựa trên một số chứng từ Tân Ước, phân tích tương quan giữa Đức Giêsu và Giáo Hội, diễn giải ý nghĩa thuật ngữ “ecclesia” và hình ảnh “Thân Mình Chúa Kitô”, giúp chúng ta lĩnh hội những yếu tố nền tảng và quan trọng nhất về Giáo Hội. xc. Joseph Cardinal Ratzinger, Called To Communion, Understanding The Church Today [Adrian Walker (English trans.), San Francisco, Ignatius Press, 1996], p. 21-45.

* Trước khi đi vào nội dung, xin lưu ý, cụm từ “Kingdom of God” có thể dịch nhiều cách: “Nước Thiên Chúa” (hiểu như “Nước Trời”), “Vương quốc của Thiên Chúa”, “Vương quyền của Thiên Chúa”, “Triều đại của Thiên Chúa”, “Vương triều của Thiên Chúa”.

 

 

CHỨNG TỪ TÂN ƯỚC VỀ NGUỒN GỐC VÀ BẢN CHẤT CỦA GIÁO HỘI

Chuyển dịch: Giuse Nguyễn Trị An, OP.

1. Đức Giêsu và Giáo hội

Để tìm hiểu nguồn gốc và bản chất của Giáo hội, chúng ta hãy khởi đi từ sự kiện sau đây: sứ điệp Đức Giêsu trực tiếp loan báo không phải là Giáo hội, mà là Vương quốc của Thiên Chúa. Số liệu thống kê từ Kinh Thánh chứng minh cho điều đó: Tân Ước có 122 lần nhắc đến cụm từ Vương quốc của Thiên Chúa (riêng truyền thống Tin Mừng Nhất Lãm là 99 lần), trong đó có 90 lần cụm từ này xuất hiện trong những lời giảng của Đức Giêsu. Vì thế, chúng ta có thể hiểu phần nào lời tuyên bố của tác giả Loisy được nhiều người biết đến: “Đức Giêsu công bố Triều đại Thiên Chúa, thế rồi Giáo hội đã đến”.[1]

Tuy vậy, khi đọc lại các bản văn Tân Ước và đặt trong đúng bối cảnh lịch sử của chúng, có thể khẳng định rằng không có cơ sở thực tiễn cho sự đối chọi giữa Vương quốc của Thiên ChúaGiáo hội. Theo lối giải thích của người Do Thái, việc quy tụ dân chúng và giúp họ thanh tẩy tâm hồn để chuẩn bị đón nhận Vương quốc Thiên Chúa cũng là một phần trong Vương quốc ấy. “Chính niềm xác tín căn bản thời kỳ đã mãn, Triều đại Thiên Chúa đến gần khiến cho Đức Giêsu nung nấu trong lòng một ước mong là quy tụ đoàn dân cánh chung của Thiên Chúa”.[2] Theo lời tiên báo thời hậu lưu đày, biến cố Triều đại Thiên Chúa đến sẽ được chuẩn bị bởi ngôn sứ Elia hoặc một “thiên sứ” vô danh nào đó.

Quả vậy, Gioan Tẩy giả, chính vì là tiền hô của Đấng Mêsia sắp đến, đã quy tụ, thanh tẩy tâm hồn cộng đoàn của thời thế mạt. Và một cách tương tự, cộng đoàn Qumran đã được quy tụ như đoàn dân của giao ước mới chính vì niềm tin cánh chung của họ. Dựa vào điểm hiển nhiên này, ông Jeremias còn đi xa hơn nữa khi đưa ra kết luận: “Chúng ta phải thu gọn toàn thể vấn đề ở đây thành một điểm đơn giản mà thôi: ý nghĩa duy nhất cho toàn bộ hoạt động của Đức Giêsu chính là quy tụ đoàn dân cánh chung của Thiên Chúa”.[3]

Đức Giêsu sử dụng nhiều hình ảnh diễn tả đoàn dân cánh chung này, cụ thể qua các dụ ngôn có liên quan đến sự tăng trưởng. Chính khi Người làm như thế, chúng ta thấy rõ là điều “sắp đến” đối với quan niệm cánh chung gần kề (đặc trưng của ông Gioan Tẩy giả và nhóm Qumran) đã trở thành “lúc này” của Kitô luận. Đức Giêsu chính là Thiên Chúa hành động, ngự đến và hiển trị. Qua lời rao giảng của Đức Giêsu, “Vương quốc của Thiên Chúa” không có nghĩa là một “thứ gì đó” hay một “nơi nào đó”, nhưng là hành động hiện tại của Thiên Chúa. Vì thế, chúng ta có thể diễn giải lời tuyên bố của Đức Giêsu trong Tin Mừng Máccô như sau: “Triều đại của Thiên Chúa đã đến gần” chính là “Thiên Chúa đã đến gần”.[4] Một lần nữa, chúng ta nhận thấy sự nối kết với Đức Giêsu, với chính bản thân của Người: Đức Giêsu là sự gần gũi của Thiên Chúa, Đức Giêsu ở đâu thì ở đấy là Vương quốc của Thiên Chúa. Hiểu như thế, chúng ta phải viết lại lời phát biểu của Loisy như sau: “Vương quốc của Thiên Chúa đã được hứa ban, thế rồi Đức Giêsu đã đến”. Chỉ như thế, chúng ta mới hiểu được nghịch lý giữa lời hứa và sự ứng nghiệm của lời ấy.

Nhưng hãy nhớ, Đức Giêsu không bao giờ đơn độc. Đức Giêsu đến để quy tụ đoàn dân đang tản mát.[5] Sứ mạng của Người là quy tụ một ‘dân mới’. Vì thế, giai đoạn mở đầu đã được đánh dấu bởi hai yếu tố quan trọng, giúp hiểu rõ Giáo hội sau này.

(1) Động lực của sự kết hợp, trong đó mọi người xích lại gần nhau nhờ cùng hướng về một Thiên Chúa. Đây là một thành tố của đoàn dân mới như Đức Giêsu dự định.

(2) Nhân tố liên kết mọi thành viên của dân mới này chính là Đức Kitô. Dân này được thành hình vì Đức Giêsu đã kêu gọi họ, và họ đã đáp lại lời mời gọi của Người, đáp lại chính bản thân Người.

Trước khi đi tiếp, xin trình bày thêm hai điểm vắn tắt nữa để làm sáng tỏ điều chúng ta vừa đề cập.

- Trong số rất nhiều hình ảnh Đức Giêsu dùng để nói về dân mới (chẳng hạn đàn chiên, khách dự tiệc cưới, đồn điền, nhà của Thiên Chúa, thành đô Thiên Chúa), có một hình ảnh dường như Người rất yêu thích, đó là gia đình của Thiên Chúa. Thiên Chúa là người cha của gia đình, Đức Giêsu là chủ nhà, và đó là lý do vì sao Người nhấn mạnh rằng các thành viên của dân mới là con cái cho dù họ đã trưởng thành; để hiểu đúng về bản thân, họ hãy từ bỏ ý tưởng muốn thoát ly ra ở riêng và nhìn nhận mình là con cái trước mặt Thiên Chúa.[6]

- Điều nhận xét vừa rồi dẫn chúng ta đến một đề tài khác. Các môn đệ đã xin Đức Giêsu dạy một lời cầu nguyện đặc biệt cho cộng đoàn của mình. Thực vậy, “đối với các nhóm tôn giáo trong vùng, thì quy tắc cầu nguyện chính là huy hiệu của cộng đoàn”.[7] Do đó, có thể khẳng định: chính khi xin Đức Giêsu dạy cho biết cầu nguyện, các môn đệ đã ý thức rằng nhóm của mình là một cộng đoàn hoàn toàn mới, khởi nguồn từ Thầy Giêsu. Các môn đệ xuất hiện như tế bào nguyên thuỷ của Giáo hội, và đồng thời, họ tỏ cho thấy Giáo hội là sự hiệp thông được liên kết với nhau dựa trên lời cầu nguyện – lời cầu nguyện cùng với Đức Giêsu, có khả năng mở rộng tâm hồn mỗi người hướng về Thiên Chúa.

Hai bước kế tiếp mà tôi sẽ phân tích ở đây là hệ quả của điều chúng ta vừa kể đến. Cần nhớ rằng cộng đoàn các môn đệ của Đức Giêsu không phải là một đám đông ô hợp. Trung tâm của cộng đoàn ấy là nhóm Mười Hai, tạo thành nòng cốt chặt chẽ. Và theo Tin Mừng Luca,[8] nhóm hạt nhân này được củng cố thêm bởi nhóm Bảy Mươi (hoặc đúng hơn là Bảy Mươi Hai). Chúng ta đừng quên chỉ sau biến cố Phục Sinh, nhóm hạt nhân của cộng đoàn các môn đệ Đức Giêsu mới nhận danh hiệu tông đồ, còn trước đấy, họ chỉ được gọi một cách đơn giản là Nhóm Mười Hai. Con số 12 quan trọng đến độ sau khi Giuđa phản bội, các ông phải tìm cách bổ sung thành viên để số lượng được bảo toàn.[9] Tác giả Máccô diễn tả ơn gọi của họ với cụm từ “và Đức Giêsu lập Nhóm Mười Hai”.[10] Nhiệm vụ căn bản trước tiên của các ông là hợp thành một cộng đoàn với mười hai thành viên; hai chức năng bổ túc theo sau là “để họ ở với Người và để Người sai họ đi”.[11]

Thế nên, giá trị biểu tượng của Nhóm Mười Hai vô cùng quan trọng và mang tính quyết định: 12 là số những người con của ông Giacóp, số các chi tộc con cái Israel. Khi thành lập Nhóm Mười Hai, Đức Giêsu tỏ ra chính Người là vị Tổ Phụ của dân Israel mới, thiết đặt mười hai môn đệ như nguồn gốc và nền tảng của dân mới này. Không còn cách nào rõ ràng hơn nữa để diễn tả sự khởi đầu của dân Israel mới, một dân vốn không còn được hình thành theo phương thức di truyền về thể lý, mà được hình thành nhờ việc “ở với Đức Giêsu”, từ đó Nhóm Mười Hai được thành hình và được sai đi làm trung gian cho các dân khác. Chủ đề hiệp nhất và đa dạng cũng đã có thể đề cập ở đây, tuy dù khía cạnh nổi bật là sự hiệp nhất của dân mới, xét theo sự hiệp thông bền chặt của Nhóm Mười Hai, biểu tượng cho sứ mạng của họ.

Nhóm Bảy Mươi (hoặc Bảy Mươi Hai) mà Luca nói đến sẽ bổ túc cho tính biểu tượng này. Theo truyền thống Hípri, số 70 nhắm đến các sắc dân không phải là Do thái trên thế giới.[12] Sự quy gán bản dịch Kinh Thánh Cựu Ước bằng tiếng Hy Lạp (xuất hiện ở Alexandria) với bảy mươi dịch giả ngầm diễn tả điều sau đây: với sự xuất hiện của bản văn Hy Lạp này, Sách Thánh của người Israel đã trở thành Kinh Thánh của mọi dân tộc. Và thực tế, chúng ta biết rằng, Kitô giáo đã thâu nhận bản dịch này.[13] Bảy mươi môn đệ biểu thị cho lời khẳng định về tính phổ quát trên toàn thể nhân loại, một nhân loại đã được thiết đặt để trở thành đoàn người đông đảo bước theo Đức Giêsu. Bảy mươi người ngụ ý rằng dân Israel mới của Thiên Chúa sẽ bao gồm mọi dân tộc trên địa cầu.

Lời kinh chung mà các môn đệ đón nhận từ Đức Giêsu sẽ dẫn chúng ta đến một ý tưởng mới xa hơn nữa. Khi còn tại thế, đã nhiều lần Đức Giêsu cùng với Nhóm Mười Hai lên đền thờ cầu nguyện. Kinh Lạy Cha là bước đầu tiên của hành trình hướng về sự hiệp thông đặc biệt trong lời cầu nguyện cùng với Đức Giêsu và khởi đi từ Đức Giêsu. Vào đêm trước cuộc khổ nạn, Đức Giêsu thực hiện một điều thiết yếu, mang tính quyết định: Người biến Lễ Vượt Qua của Israel thành việc thờ phượng hoàn toàn mới, có nghĩa là cắt đứt khỏi cộng đồng của đền thờ (của người Do Thái), và thành lập một dân của “Giao ước mới”. Những lời thiết lập Bí tích Thánh Thể, trong truyền thống Maccô hoặc các thư Phaolô, nhắc đến biến cố Giao ước, gợi nhớ những gì đã xảy ra tại núi Sinai xưa kia và hướng tới một Giao ước mới như ngôn sứ Giêrêmia tiên báo. Thêm nữa, cả Nhất Lãm và Tin mừng Gioan, tuy mỗi bên trình bày một cách khác nhau, đều kết nối bữa tối của Đức Giêsu với các biến cố Vượt Qua. Cuối cùng, người ta cũng thấy có sự vang vong lại những lời ngôn sứ Isaia nói về Người Tôi Tớ đau khổ của Thiên Chúa.[14] Lễ Vượt Qua và nghi thức ký kết Giao ước tại núi Sinai - vốn là hai hành vi nền tảng, qua đó Israel đã trở thành và thậm chí vẫn đang trở thành một dân tộc - đã được tái hiện và quy tóm nơi Bí tích Thánh Thể. Việc nối kết nghi lễ thờ phượng cơ bản này với những lời then chốt của truyền thống ngôn sứ đã làm nên một dòng chảy liên tục cả quá khứ, hiện tại và tương lai trong viễn ảnh một Giao ước mới.

Ý nghĩa của tất cả những sự kiện vừa nói rất rõ ràng: “Cũng như dân Israel đã tôn kính đền thờ như trung tâm, xem đó là nơi đảm bảo cho sự hiệp nhất của cả dân tộc, và khi cùng nhau cử hành đại lễ Vượt Qua, dân Israel đã làm cho sự hiệp nhất này trở nên sống động giữa các sinh hoạt của cộng đồng, thì cũng vậy, bữa tiệc của Đức Giêsu là dây nối kết đoàn dân mới của Thiên Chúa. Không còn cần đến một trung tâm được đặt ở một đền thờ bên ngoài nữa… vì chính Thân Mình Chúa Kitô, vốn là trung tâm của Bữa Tiệc Thánh Thể, bây giờ trở nên như một Đền Thờ mới, gắn kết các Kitô hữu lại với nhau trong sự hiệp nhất mới, đích thực và vững bền hơn cả sự gắn kết của một đền thờ được xây dựng bằng gỗ đá”.[15]

Xin liệt kê một số bản văn từ nhiều truyền thống Tin Mừng để chứng minh cho điều chúng ta đang bàn ở đây. Các tác giả Matthêu, Máccô, cũng như Gioan (trong nhiều bối cảnh khác nhau) đều nhắc đến lời Đức Giêsu tiên báo về cuộc Vượt Qua của Người: trong ba ngày, các người cứ phá huỷ đền thờ này đi, Người sẽ thay thế đền thờ cũ bằng một đền thờ mới tốt hơn.[16] Rõ ràng cả truyền thống Nhất Lãm lẫn Tin Mừng Gioan đều cho biết Đền Thờ mới ‘không do con người làm nên’ chính là thân xác vinh quang của Đức Giêsu.

Điều này có nghĩa là “Đức Giêsu loan báo sự sụp đổ của những nghi lễ xa xưa, cùng với nó là sự sụp đổ của dân cũ và trật tự cứu độ cũ. Đồng thời, Đức Giêsu cũng hứa ban việc thờ phượng mới cao cấp hơn, với trung tâm là thân xác vinh quang của Người”.[17]

Từ những điều đã nói, chúng ta có thể đưa ra kết luận gì? Việc Chúa Giêsu thiết lập bí tích Thánh Thể vào đêm trước cuộc khổ nạn không thể được xem đơn giản chỉ là việc cử hành một hành vi phụng tự cô lập. Hành vi ấy nói lên rằng Người đã thiết lập một giao ước, làm nền tảng cho “dân mới”: dân mới bắt đầu hiện hữu qua tương quan giao ước với Thiên Chúa. Chúng ta cũng có thể nói, qua cử hành Thánh Thể, Đức Giêsu đưa các môn đệ bước vào mối tương quan của riêng Người với Thiên Chúa, từ đó cũng dẫn các ông bước vào sứ vụ của Người, nhắm đến việc đạt tới “muôn dân” ở mọi nơi và qua mọi thời. Các môn đệ trở thành “dân mới” nhờ hiệp thông với Mình và Máu Đức Giêsu, từ đó cũng hiệp thông với chính Thiên Chúa.

Giao ước, một chủ đề trọng tâm của Cựu Ước, được Đức Giêsu sát nhập vào lời giảng dạy của Người và nhận được một trung tâm mới là sự hiệp thông với Thân Mình Chúa Kitô. Chúng ta có thể khẳng định ‘Dân Giao Ước Mới’ là đoàn dân xuất phát từ Mình và Máu Chúa Kitô. Địa vị đoàn dân mới này chỉ trở nên xác thực nơi Thân Mình Chúa Kitô mà thôi. Từ đó, chúng ta cũng có thể gọi dân mới này là “Dân của Thiên Chúa”, vì thông qua sự hiệp thông với Đức Kitô, họ bước vào tương quan đích thực với Thiên Chúa, một tương quan vốn không thể tự thiết lập bởi sức riêng của đoàn dân.

Hướng đến chủ đề căn bản Giáo hội địa phươngGiáo hội hoàn vũ, chúng ta có thể nói rằng Bí tích Thánh Thể là cội rễ và là trung tâm vĩnh viễn của Giáo hội, gắn kết “nhiều người” (đã hợp thành đoàn dân) vào một Đức Chúa duy nhất và một Thân Thể duy nhất của Người. Điều này diễn tả chỉ có một Giáo hội mà thôi. Quả thực, có nhiều cử hành khác nhau cho thấy tính đa dạng của một Thân Thể duy nhất. Tuy nhiên, đã rõ là các buổi cử hành khác nhau không thể nào đứng liền kề bên nhau như là những thực thể độc lập, tự trị, nhưng luôn là sự hiện diện của cùng một mầu nhiệm duy nhất.

2. Giáo hội tự biểu hiện là một “cuộc quy tụ” - "ἐκκλησία" (ecclesia)

Sau khi đã rảo qua một vòng tìm hiểu những hành động diễn tả việc Đức Giêsu thiết lập Giáo hội, giờ đây chúng ta hãy tập trung chú ý vào Giáo hội non trẻ thời các tông đồ. Trong khung cảnh này, tôi muốn đề cập đến hai thuật ngữ có khả năng dẫn độc giả tới trọng tâm chứng từ của các thánh tông đồ. Cả hai thuật ngữ đều nảy sinh từ cấu trúc mà chúng ta vừa khám phá trong các hoạt động của Đức Giêsu: “Dân Thiên Chúa” và “Thân Mình Đức Kitô” (ý tưởng của thánh Phaolô). Tuy vậy, cụm từ “dân Thiên Chúa” tự nó hầu như ám chỉ dân tộc Israel chứ không phải Giáo hội; thuật ngữ “ἐκκλησία” mới được sử dụng để diễn tả Giáo hội, và thuật ngữ này được chuyển sang các ngôn ngữ gốc tiếng Latinh, trở thành lối diễn tả rất thích hợp về sự hiệp thông mới, xuất phát từ Đức Giêsu.

Tại sao lại chọn thuật ngữ này để diễn tả bản chất Giáo hội? Thuật ngữ này nói lên điều gì về sự hiệp thông mới mà chúng ta bàn ở đây? Trong những dữ liệu dồi dào thâu thập từ các cuộc nghiên cứu hiện đại, tôi muốn trưng dẫn một điểm nổi bật để làm sáng tỏ vấn đề. Thuật ngữ Hy Lạp “ἐκκλησία”, với hình thức La Tinh “ecclesia”, có gốc từ thuật ngữ “qahal” trong Cựu Ước. Thuật ngữ Hípri “qahal” thường được hiểu là “hội nghị nhân dân”. Thực tế, các cuộc quy tụ hay nhóm họp đại chúng cũng xuất hiện trong thế giới Hy Lạp.[18] Chính qua các cuộc quy tụ toàn dân mà Israel được thiết lập như một thực thể phụng tự, đồng thời cũng là thực thể pháp lý và chính trị.

Tuy nhiên có sự khác biệt giữa “qahal”trong Cựu Ước với “các hội nghị nhân dân” trong thế giới Hy Lạp.

- Trong thế giới Hy Lạp, phụ nữ và trẻ em không thể là tác nhân tích cực của các sự kiện chính trị; còn đối với qahal của người Do thái, hai thành phần này cũng được tham gia.

- Ở Hy Lạp, chính những người đàn ông tham dự có quyền quyết định về những gì cộng đồng phải thực thi; còn trong qahal, đại hội nhân dân được quy tụ là “để lắng nghe điều Thiên Chúa công bố và họ chấp thuận”.[19]

Quan niệm đặc trưng của Kinh thánh về đại hội nhân dân có thể gặp thấy trong cuộc họp tại núi Sinai, được xem như là mô hình quy phạm cho tất cả các cuộc quy tụ toàn dân về sau. Quả vậy, sau này khi trở về từ nơi lưu đày, đại hội đã được tái diễn bởi ông Et-ra như là việc tái lập dân tộc. Nhưng bởi vì Israel cứ tiếp tục bị phân tán và rơi vào ách nô lệ, cho nên họ càng tăng niềm hy vọng vào một qahal đến từ Thiên Chúa như là sự quy tụ và thiết lập dân tộc. Lời khẩn nài cho việc quy tụ này – sự xuất hiện của ecclesia – là một thành tố trong kinh nguyện của dân Do thái vào thời cuối.[20]

Từ đó, chúng ta mới hiểu ý nghĩa của việc Giáo hội non trẻ tự gọi mình là “ecclesia”. Làm như vậy, Giáo hội muốn bày tỏ rằng: lời khấn xin Thiên Chúa ban cho một cuộc quy tụ đã được Người chấp thuận và thương ban. Đức Kitô, Đấng đã chết và sống lại, là núi Sinai hằng sống; còn những ai đến với Người là đang hợp lại thành dân mới của Thiên Chúa.[21] Trong ánh sáng này, chúng ta mới hiểu lý do tại sao thuật ngữ phổ biến “dân Thiên Chúa” không còn được sử dụng để diễn tả sự hiệp thông mới trong cộng đồng, và thuật ngữ “ecclesia” đã được chọn để thay thế nó nhằm diễn tả trọng tâm tinh thần và cánh chung của đoàn dân.

Sự hiệp thông mới của đoàn dân trước tiên được thực hiện qua tính cách năng động của việc quy tụ. Vì xuất phát từ Chúa Kitô và được nuôi dưỡng nhờ Thần Khí, nên tính cách năng động này luôn có tâm điểm ở nơi Chúa, Đấng trao ban chính Người trong Mình và Máu Thánh. Sự tự biểu hiện qua thuật ngữ “ecclesia” của đoàn dân mới vừa xác định căn tính của dân này là một cộng đồng giao ước trong lịch sử cứu độ, vừa cho thấy nét mới mẻ của mầu nhiệm Đức Kitô, đang mở ra hướng về phía trước. Nếu phải nói rằng tự ban đầu giao ước đã bao gồm “lề luật”, sự công chính như là thành tố tuyệt đối cần thiết, thì điều kéo theo bây giờ nơi giao ước mới là sự xuất hiện của “luật mới”, trở thành trung tâm có tính quyết định, với tiêu chuẩn tối hậu của nó được Đức Kitô thiết lập khi Người trao hiến mạng sống trên thập giá.

Điều đã nói cũng giúp chúng ta hiểu thêm nhiều ý nghĩa khác nữa gắn liền với “ecclesia” trong Tân Ước. Thuật ngữ này không chỉ diễn tả một cuộc quy tụ đoàn dân với lễ nghi thờ phượng mà thôi, nó còn nói đến chính cộng đồng địa phương đang quy tụ nữa: đó là một cộng đoàn Giáo hội cụ thể xác định trong một vùng địa lý. Và cuối cùng, thuật ngữ này cũng nói đến Giáo hội phổ quát và duy nhất của Đức Giêsu Kitô.

Có một sự chuyển dịch liên tục từ ý nghĩa này sang ý nghĩa khác, vì mọi ý nghĩa đều gắn với tâm điểm là Đức Kitô, được thực hiện một cách cụ thể qua cuộc quy tụ các tín hữu bên Bàn Tiệc của Chúa. Chính Chúa Kitô, trong hiến lễ duy nhất của Người, đã quy tụ một và chỉ một đoàn dân mà thôi. Dù Giáo hội xuất hiện ở nhiều nơi, nhưng vẫn chỉ là cuộc quy tụ đoàn dân duy nhất của Chúa Kitô.

Trong Thư gửi tín hữu Galát, thánh Phaolô diễn tả khía cạnh này rất rõ ràng. Ngài ám chỉ đến lời hứa dành cho tổ phụ Abraham, và sử dụng phương pháp ám dụ theo kiểu chú giải của các rabbi. Chúng ta thấy rằng trong cả bốn bản văn nói về việc lời hứa được chuyển trao đến thế hệ hôm nay, tác giả dùng danh từ ở số ít: “Dòng dõi của người”. Từ đó, tác giả kết luận, chỉ có duy nhất một dòng dõi của lời hứa chứ không có nhiều. Nhưng vấn đề đặt ra là làm thế nào mà điều này lại có thể tương hợp với ý muốn cứu độ phổ quát của Thiên Chúa? Thánh Phaolô đưa ra câu trả lời: thưa, nhờ Phép Rửa, chúng ta được tháp nhập vào Đức Kitô và được nên một với Người, vì thế chúng ta tuy nhiều nhưng vẫn chỉ là một trong Đức Kitô.[22] Nhờ Đức Kitô đã tự đồng hoá Người với chúng ta và chúng ta được hiệp nhất với Người, nên chúng ta trở thành những kẻ được thừa hưởng lời hứa. Mục đích tối hậu của cuộc quy tụ dân mới là hướng tới một sự hiệp nhất hoàn toàn – “trở nên một” với Chúa Con. Nhờ thế, chúng ta bước vào sự hiệp nhất hằng có đời đời trong Thiên Chúa, ngõ hầu Thiên Chúa có thể là tất cả trong tất cả.[23]

3. Đạo lý của thánh Phaolô: “Giáo hội là Thân Mình Chúa Kitô”

Chúng ta hoàn toàn không thể lĩnh hội được ý niệm về đoàn dân mới của Thiên Chúa trong Tân Ước nếu không có Đức Kitô, và đây cũng không phải là một lý thuyết trừu tượng, nhưng là một biến cố cụ thể diễn ra trong bí tích Thánh Tẩy và bí tích Thánh Thể. Nơi hai Bí tích cao trọng này, mầu nhiệm Đức Kitô mở rộng đến mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi.

Duy chỉ Đức Kitô phục sinh mới có thể làm nên sự rộng mở vô biên đến tận Thiên Chúa. Nhưng thánh Phaolô cũng nói về Đức Kitô như sau: “Chúa là Thần Khí”.[24] Nhờ Thần Khí tác động, chúng ta mới có thể hiệp cùng Đức Kitô thưa lên tiếng gọi thân thương “Abba”, vì chúng ta đã trở thành con cái của Thiên Chúa.[25] Như vậy, thánh Phaolô chẳng sáng tạo ra một điều gì mới khi khẳng định Giáo hội là “Thân Mình Chúa Kitô”, đơn giản ngài chỉ đưa ra một công thức ngắn gọn, diễn tả một thực tại vốn tự ban đầu đã định hình sự phát triển của Giáo hội.

Có người cho rằng thánh Phaolô đã áp dụng cho Giáo hội một hình ảnh ẩn dụ khá phổ biến trong tư tưởng triết học của phái Khắc Kỷ (Stoic) vào thời đại của ngài. Có thể nói, lời nhận định như thế là hoàn toàn sai lầm. [26] Phái Khắc Kỷ sánh ví nhà nước với một cơ thể sống động, trong đó mọi thành phần biết cộng tác làm việc. Lối ẩn dụ này diễn tả sự phụ thuộc lẫn nhau của mọi chi thể trong một tổng thể, và cũng cho thấy tầm quan trọng của việc duy trì nhiều chức năng khác biệt, hầu tất cả biết hiệp sức mà xây dựng lợi ích chung. Thực ra, hình ảnh phong phú này được sử dụng để xoa dịu các đám đông đang nổi loạn trong xã hội và nhắc nhở họ về phận vụ của mình; mỗi bộ phận đều cần thiết và có ý nghĩa riêng; thật là ngớ ngẩn nếu mọi thành phần đều muốn trở thành một bộ phận như nhau, hậu quả là các bộ phận sẽ không được nâng cao, chỉ hạ thấp và phá huỷ nhau mà thôi.

Hẳn là thánh Phaolô đã dùng đến những ý niệm như thế khi ngài nói với dân thành Côrintô, lúc ấy đang có bất hòa trong cộng đoàn, rằng thật lố bịch và đáng trách nếu chân lại muốn trở thành tay, hoặc tai lại ước mong làm mắt: “Giả như toàn thân chỉ là mắt, thì lấy gì mà nghe? Giả như toàn thân chỉ là tay, thì lấy gì mà ngửi. Nhưng Thiên Chúa đã đặt mỗi bộ phận vào một chỗ trong thân thể như ý Người muốn. Giả như tất cả chỉ là một thứ bộ phận, thì làm sao mà thành thân thể được? Như thế bộ phận tuy nhiều, mà thân thể chỉ có một mà thôi”.[27] Tuy nhiên, với quan niệm “Giáo hội là thân mình Đức Kitô”, thánh Phaolô đã không giới hạn vào một lối nhìn xã hội học hoặc luân lý như phái Khắc Kỷ. Nếu bó hẹp như thế, quan niệm của Phaolô chẳng qua chỉ là một chú giải bên lề phụ thêm vào danh từ “Giáo hội”. Thậm chí, ngay trong thế giới ‘tiền - Kitô giáo’ của người Hy Lạp và La Mã, hình ảnh một thân thể đã có ý nghĩa rộng lớn hơn rất nhiều. Plato từng cho rằng “toàn bộ thế giới là một thân thể, một sinh vật”; và quan niệm ấy còn được đẩy mạnh hơn trong triết học Khắc Kỷ, gắn liền với niềm tin rằng thế giới là thần linh (với xác tín “thế giới vũ hoàn rất linh thánh”). Nhưng chúng tôi không muốn bàn đến vấn đề này ở đây, bởi vì tư tưởng thánh Phaolô hoàn toàn dựa trên Sách Thánh. Có thể kể ra ba nguồn mạch của tư tưởng này.

- Thứ nhất là quan niệm “nhân cách cộng đồng” (corporate personality) của người Sêmít. Quan niệm này được diễn tả trong ý tưởng: tất cả chúng ta đều là Ađam, mà rõ ràng cũng là một cá nhân riêng biệt. Trong thời hiện đại, thời mà người ta thường tôn sùng chủ thể một cách thái quá, quan điểm Sêmít này ra như không thể hiểu được. Cái “tôi” bây giờ được củng cố vững chắc bằng những bức tường ngăn cách không thể vượt qua. Tiêu biểu cho hướng nhìn như thế của thời hiện đại là nỗ lực của triết gia Descartes khi ông xây dựng toàn bộ hệ thống triết học của mình trên “chủ thể suy tư” (cogito) - vì chỉ có cái “tôi” này mới khả thể tiếp cận trên mọi cách thức. Nhưng thực tế cho thấy quan niệm về chủ thể “tôi” như thế đang dần bị gỡ bỏ, bởi rõ ràng là một chủ thể “tôi” bị trói buộc trong chính mình không hề thực hữu, nhưng luôn có nhiều luồng tác động hoặc từ ngoài vào chúng ta, hoặc từ chính chúng ta xuất phát ra.[28] Đồng thời, cũng có một lối hiểu mới về chủ thể: cái “tôi” phải được xác định trong tương quan với tha nhân và cả hai đối tượng đan quyện vào nhau. Vì thế, một lần nữa quan niệm của người Sêmít về “nhân cách cộng đồng” đã trở nên dễ dàng tiếp cận hơn, và nếu không có quan niệm này, sẽ khó đón nhận ý tưởng về Thân Mình Đức Kitô.

- Nguồn mạch thứ hai cần ghi nhớ ở đây là Bí Tích Thánh Thể, và có lẽ, chính Đức Kitô đã gợi lên điều này. Trong cùng một lá thư đề cập đến đạo lý “Giáo hội là Thân Mình Chúa Kitô”, thánh Phaolô đã nói với các tín hữu ở Côrintô như sau: “Khi ta bẻ Bánh Thánh, đó chẳng phải là dự phần vào Thân Thể Người sao? Bởi vì chỉ có một tấm Bánh, và tất cả chúng ta chia sẻ cùng một Bánh ấy, nên tuy nhiều người, chúng ta cũng chỉ là một thân thể”.[29]  Ở đây, chúng ta tìm thấy nền tảng đích thực của đạo lý này: Chúa Kitô trở nên tấm bánh, trở nên lương thực cho nhân loại. Người trao ban cho chúng ta thân thể Người, vốn phải được hiểu trong ánh sáng Phục Sinh và trong lối diễn tả của ngôn ngữ Sêmít mà thánh Phaolô sử dụng. Thân thể là “cái tôi”, phần xác định một con người, vốn không đồng nhất với chiều kích cộng đoàn nhưng luôn gồm chứa chiều kích ấy như một thành phần ở giữa những thành phần khác. Chúa Kitô trao hiến chính Người cho chúng ta – sau khi Phục Sinh, Chúa Kitô vẫn tiếp tục sống trong “một loại thân thể mới”. Hành động tỏ lộ ra bên ngoài của việc ăn uống đã trở thành lối diễn tả về sự đan xen mật thiết của hai chủ thể mà chúng ta vừa nói đến một cách ngắn gọn. Sự hiệp thông có nghĩa là vùng ranh giới tưởng như không thể vượt qua của cái “tôi” nơi mỗi người chúng ta được mở rộng ra, và sự mở rộng ra ấy có thể xuất hiện là vì tiên vàn Đức Giêsu đã hoàn toàn tự mở rộng Người, rồi dẫn tất cả chúng ta vào trong Người và còn phó mặc chính Người vào tay chúng ta. Vì thế, hiệp thông có nghĩa là “sự hòa hợp của các chủ thể hiện hữu”. Trong việc ăn uống, chúng ta đón nhận vật chất bên ngoài đi vào cơ thể, rồi hấp thụ vật chất đó để nuôi sống cơ thể; cũng vậy, bản thân “tôi” được đón nhận vào Thân Mình Đức Giêsu, được biến đổi trở nên giống như Người trong một cuộc hoán chuyển ngày càng phá vỡ những gì tách biệt, phân ly. Điều tương tự cũng xảy ra nơi những người đang hiệp thông với nhau. Tất cả mọi người đều được đưa vào “tấm bánh”, nhờ thế, trở nên một thân thể duy nhất.

Trong cách thức này, sự hiệp thông đã làm nên Giáo hội, vì đã chọc thủng bức tường ngăn cách các chủ thể, đưa chúng ta vào sự liên hiệp sâu xa. Đây chính là cuộc “quy tụ” mọi thành phần, trong đó Chúa Kitô là dây liên kết. Công thức “Giáo hội là Thân Mình Chúa Kitô” có ý muốn nói rằng Bí tích Thánh Thể (nơi đó, Chúa Kitô trao hiến cho chúng ta thân mình Người và làm cho chúng ta trở thành một thân thể) mãi mãi là nơi khai sinh ra Giáo hội, là nơi Chúa Kitô không ngừng thiết lập Giáo hội luôn mới; trong Bí tích này, Giáo hội là chính mình cách chặt chẽ nhất – Giáo hội ở mọi nơi, nhưng vẫn chỉ là một, bởi vì Đức Kitô chỉ là một.

- Tất cả những suy tư này tiếp tục dẫn chúng ta tới nguồn mạch thứ ba, đó là ý tưởng về hôn ước (nói theo ngôn ngữ thế tục), hay tình yêu (nói theo triết lý Kinh Thánh), và cả hai đều không thể tách khỏi quan điểm thần học về Thánh Thể. Triết lý về tình yêu xuất hiện ngay từ những trang đầu tiên của bộ Kinh Thánh, phần kết luận của trình thuật sáng tạo, ở đó từ ngữ mang tính ngôn sứ được quy gán cho Ađam: “Người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một thân xác”.[30] Một thân xác ở đây là một hiện hữu mới. Trong thư thứ nhất gửi các tín hữu ở Côrintô, thánh Phaolô cũng sử dụng ý tưởng này: người nam và người nữ trở thành một thân xác vừa về mặt thể lý vừa về mặt tinh thần, và điều này được hoàn trọn trong sự hiệp thông: “Ai đã kết hợp với Chúa thì nên một tinh thần với Người”.[31] Một lần nữa, chúng ta không được giải thích thuật ngữ “tinh thần” ở đây theo phong cách ngôn ngữ hiện đại, nhưng phải hiểu đúng theo tư tưởng của thánh Phaolô: ý nghĩa của “tinh thần” không khác xa “thân mình” bao nhiêu. Thánh Phaolô có ý nói rằng phàm ai kết hợp với Chúa Kitô thì trở nên một hiện hữu tinh thần với Đấng mà đã trở nên “thần khí” sau phục sinh, tuy rằng họ vẫn sống trong một thân thể luôn mở rộng với Thần khí.

Điều chúng ta đã nói ở phần trước qua hình ảnh ăn uống bây giờ lại trở nên rõ ràng hơn và có thể hiểu tốt hơn qua ý niệm tình yêu giữa người với người: trong Bí tích Thánh Thể, vốn là hành động của tình yêu, hai chủ thể thấm nhập vào nhau, vượt qua sự khác biệt và được làm cho nên một với nhau. Vì thế, mầu nhiệm Thánh Thể, chính trong sự chuyển đổi bởi ý tưởng hôn ước, vẫn là nền tảng chính yếu cho Giáo hội, một Giáo hội được diễn tả là “thân mình Chúa Kitô”.

Nhưng có một khía cạnh mới quan trọng hơn mà nền một thần học Bí tích hạn hẹp có thể bỏ qua: “Giáo hội là thân mình Chúa Kitô” theo cách người nữ trở nên một thân mình, hay một thân xác, với người nam. Ta có thể diễn tả cách khác, Giáo Hội là một thân mình, không do bởi đồng nhất và không còn khác biệt, nhưng do một hành vi yêu thương phu phụ trong Thần Khí. Nói cách khác, Chúa Kitô và Giáo hội nên một thân thể, tựa như cách người nam và người nữ trở nên một thân xác với nhau, và cũng tựa như thân xác và linh hồn không thể tách rời, cả hai không trộn lẫn và tan biến vào nhau. Giáo hội không đơn thuần trở thành Chúa Kitô. Giáo hội vẫn chỉ là tôi tớ thấp hèn, được Chúa Kitô thương mến và nâng lên làm hiền thê của Người. Giáo hội vẫn không ngừng tìm kiếm thánh nhan Chúa cho đến ngày tận thế.

Từ lối trình bày quen thuộc với những từ ngữ “hiền thê” và “thân mình”, chúng ta cũng thấy nảy ra lối mệnh lệnh hay sứ mạng dành cho các Kitô hữu, cần phải làm cho tính năng động của thực tại Bí tích trở nên cụ thể và dễ hiểu. Bí tích không phải là một sự kiện thể lý đã được hoàn tất, nhưng diễn ra như một biến cố của cuộc đời. Chính mầu nhiệm tình yêu, được diễn tả qua hình ảnh phu thê, đã chỉ ra một đàng là nhiệm vụ của chúng ta, đàng khác là Giáo hội có nguy cơ thiếu sót điều đó. Giáo hội phải liên tục trở thành “cái mà Giáo hội là” thông qua một tình yêu kết hiệp, và kiên quyết chống lại cơn cám dỗ làm mất ơn gọi của mình qua việc chủ ý đi tìm sự tự lập. Chiều kích thần khí cùng với tính tương quan trong hai ý niệm “thân mình Chúa Kitô” và “hôn ước” đã trở nên sáng rõ. Đấy là lý do cho thấy Giáo hội chưa đạt đến mức thành toàn nhưng mà phải liên tục canh tân. Giáo hội vẫn đang lữ hành trên con đường tiến về sự hiệp nhất với Đức Kitô, cũng bao gồm sự hiệp nhất nội tại của chính Giáo hội. Vậy nên, chúng ta có thể nói rằng, nếu sự hiệp nhất của Giáo hội càng mong manh, thì Giáo hội càng xa cách tương quan nền tảng này.

4. Hình ảnh Giáo hội trong sách Công Vụ Tông Đồ

Những dòng suy niệm chúng ta trình bày ở đây chỉ là một phần nhỏ quan trọng của chứng từ Tân Ước về nguồn gốc và bản chất của Giáo hội; tuy nhiên, chỉ cần lưu giữ những điểm này trong tâm trí thôi cũng đủ để đưa ra câu trả lời chính xác cho những vấn đề thách thức hiện nay ở mọi khía cạnh. Tiêu chuẩn chi phối sự lựa chọn của tôi là tập trung vào điểm trọng yếu nền tảng, để khẳng định mạnh mẽ nhất có thể điều mà chính Đức Giêsu đã dự định cho Giáo hội của Người.

Tôi cố gắng đưa ra cốt lõi của chứng từ sau khi Chúa phục sinh liên quan đến Giáo hội bằng cách nghiên cứu một danh xưng, mà cộng đoàn hiệp thông mới, bắt nguồn từ Đức Giêsu, ưa thích gọi chính mình: đó là “ecclesia”. Sự lựa chọn danh xưng này diễn tả nội dung thần học về những dự định nền tảng của Đức Giêsu, thể hiện qua lời rao giảng của Người. Còn một điểm quan trọng nữa giúp chúng ta hoàn thành phần nghiên cứu ở đây: tìm hiểu thêm vài bản văn nền tảng khác trong truyền thống Tân Ước. Thiết nghĩ, một bản phân tích ngắn gọn sách Công Vụ Tông Đồ sẽ mang lại nhiều hoa trái cụ thể, vì tổng quát mà nói, tác phẩm này được xem như một thứ Giáo hội luận tường thuật.[32] Tuy nhiên, điều này vượt xa những giới hạn của vấn đề chúng ta đang bàn ở đây, vì thế tôi sẽ không đi vào chi tiết, chỉ muốn vạch ra theo kiểu kết luận rằng: ngay từ phần đầu của quyển sách quan trọng này về nguồn gốc và bản chất của Giáo hội, thánh Luca đã mô tả bản chất của Giáo hội với ba hình ảnh, với nội dung súc tích hơn là các khái niệm có thể diễn tả.

* Hình ảnh đầu tiên, các môn đệ quy tụ trong phòng tiệc ly. Các tông đồ và những kẻ tin vào Đức Giêsu quy tụ bên Đức Maria, chuyên cần cầu nguyện. Trong bối cảnh này, mỗi một chi tiết một đều rất quan trọng: phòng tiệc ly, “ở lầu trên”, là khung cảnh Giáo hội được khai sinh; nhóm Mười Một, bản văn liệt kê danh xưng cụ thể; Đức Maria, các phụ nữ và các anh em– tất cả hợp nên một qahal, một đại hội giao ước gồm có các thành phần khác nhau, đồng thời cũng là hình mẫu cho toàn thể dân mới của Thiên Chúa. Mọi người quy tụ, đồng tâm nhất trí trong lời cầu nguyện, và vì thế, cả cộng đoàn đón nhận sự hiệp nhất từ Chúa Kitô. Hành động của cộng đoàn trong giờ phút ấy là quy hướng lòng trí về Thiên Chúa hằng sống. Mọi người mở rộng tâm hồn đón chờ thánh ý Thiên Chúa. Con số 120 rõ ràng liên quan tới số 12, ngụ ý nói tới tính thánh thiêng của con số ấy bắt nguồn từ lời Thiên Chúa hứa, và cũng ám chỉ tới vận mệnh tương lai cho sự phát triển của thế giới. Cuối cùng, thánh Phêrô xuất hiện với tư cách người phát ngôn và hành động, từ đó cho thấy ngài cũng đảm nhận trách vụ do Chúa Phục Sinh uỷ thác là nâng đỡ, củng cố đức tin cho các anh em của mình.[33]

Việc các ông tiến hành bầu chọn ông Mátthia để bổ khuyết Nhóm Mười Hai (khi không còn Giuđa) nói lên mối tương tác giữa hành động của con người với thái độ vâng phục Thiên Chúa: Thiên Chúa là tác nhân chủ yếu trong mọi quyết định. Xét nơi hành động bầu chọn, về phía cộng đoàn, chỉ mang tính cách chuẩn bị. Quyết định cuối cùng đúng nghĩa tuỳ thuộc thánh ý Thiên Chúa. Ở đây, cộng đoàn ở trong tư thế “cầu nguyện”, chứ không biến thành quốc hội, và như thế cho thấy thế nào là Qahal, Giáo hội.

* Hình ảnh thứ hai được tìm thấy ở cuối chương 2 trong sách Công Vụ Tông Đồ. Giáo hội non trẻ vừa mới xuất hiện, được mô tả với bốn điều gắn bó: (1) gắn bó với giáo huấn của các tông đồ, đó là hình ảnh biểu thị cho việc kế nhiệm tông đồ và biểu thị cho những chứng từ chính thức được uỷ thác cho các vị kế nhiệm; (2) gắn bó với cộng đoàn; (3) gắn bó với việc bẻ bánh; (4) và cuối cùng, gắn bó với việc cầu nguyện.

Có thể nói rằng ở đây, Lời và Bí tích là hai cột trụ chính cho toà nhà Giáo hội. Nhưng cũng phải nói thêm rằng Lời gắn liền với vai trò thiết chế và trách nhiệm cá nhân của người làm chứng. Hơn nữa, chúng ta cần thêm rằng khi đặt tên cho bí tích là “Bẻ bánh”, Giáo hội muốn nói lên đòi hỏi xã hội của Thánh Thể: nó không chỉ là một hành vị phụng tự rời rạc, nhưng là một lối sống, mọi người cùng nhau chia sẻ sự sống, hiệp thông với Đức Kitô, Đấng đã trao cho chúng ta món quà đặc biệt là chính Người.

* Giữa hai hình ảnh vừa kể, thánh Luca chèn vào sự kiện Lễ Ngũ Tuần: cơn gió mạnh và lửa của Thần Khí thiết lập Giáo hội. Giáo hội xuất hiện không do quyết định của con người. Giáo hội không phải là sản phẩm từ sáng kiến của nhân loại, nhưng là công trình của Thần Khí, là ý định của Thiên Chúa. Thần khí này vượt xa tinh thần thế tục của Babylon thuở xưa. Thói ham muốn quyền lực của con người, được biểu tượng qua hình ảnh tháp Babel, là muốn đồng dạng, thâu tóm tất cả, để thống lãnh và cai trị, và chính điều này đã mang đến hận thù, chia rẽ. Hoàn toàn trái ngược, Thần Khí Thiên Chúa là tình yêu, Người giúp nhân loại nhận biết và kiến tạo sự hiệp nhất, thúc đẩy chúng ta đón nhận tha nhân cùng những khác biệt của họ, có thế, tuy nhiều ngôn ngữ khác biệt, chúng ta vẫn có thể hiểu nhau.

Ở điểm này có hai khía cạnh cần phải nhấn mạnh vì tầm quan trọng của chúng đối với chủ đề chúng ta đang bàn. Hình ảnh Lễ Ngũ Tuần được mô tả trong sách Công Vụ Tông Đồ cho thấy mối tương tác giữa sự đa dạng và hiệp nhất, từ đó giúp chúng ta hiểu đặc tính của Thần Khí, vốn hoàn toàn đối lập với tinh thần thế tục. Thế gian thì muốn thống trị và chiếm lĩnh, còn Thần Khí thì mở rộng và trao ban. Giáo hội bao gồm nhiều ngôn ngữ, văn hoá khác nhau, nhưng trong đức tin, mọi thành phần có thể hiểu biết và sinh hoa trái tốt lành cho nhau. Ở đây có thể nói rằng chúng ta nhận ra bức họa ban nguyên về một Giáo hội vốn sống trong nhiều cộng đoàn Giáo hội cụ thể, nhưng vẫn chỉ là một Giáo hội duy nhất của Chúa Kitô mà thôi. Đồng thời, qua hình ảnh này, thánh Luca muốn diễn tả một sự thật rằng ngay từ giây phút được khai sinh, Giáo hội đã mang đặc tính công giáo, một Giáo hội phổ quát. Vì thế, thánh Luca bác bỏ quan niệm cho rằng có một Giáo hội địa phương trước tiên nảy sinh ở Giêrusalem, trở thành nền tảng từ đó thiết lập dần dần các cộng đoàn Giáo hội địa phương khác, cuối cùng các Giáo hội kết hợp thành liên bang. Thánh Luca cho thấy điều ngược lại mới là chân lý: xuất hiện trước hết chỉ có một Giáo hội, nói qua nhiều ngôn ngữ khác nhau- Giáo hội phổ quát, thế rồi, Giáo hội phổ quát ấy sinh ra các cộng đoàn Giáo hội cụ thể trong nhiều vùng địa phương khác nhau. Giáo hội phổ quát thì có trước, xét về thời gian và bản chất; một Giáo hội không mang đặc tính công giáo sẽ không phải là Giáo hội đích thực.

Trong biến cố Lễ Ngũ Tuần, thánh Luca đã khéo léo dệt nên một trình thuật diễn tả khía cạnh năng động lịch sử của đặc tính công giáo, và khi làm như vậy, ngài cũng dự báo trước mức độ căng thẳng của toàn thể câu chuyện. Để diễn tả đặc tính công giáo của một Giáo hội do Thần Khí tác sinh, thánh Luca sử dụng mô thức cổ điển (có lẽ thuộc văn chương Hy Lạp) nói về mười hai dân tộc. Mô thức này rất gần với những bản liệt kê tên gọi các quốc gia, được biên soạn trong các thành bang thuộc đế chế Alexander. Thánh Luca cũng kể ra tên gọi và ngôn ngữ của mười hai dân tộc, là những đối tượng đón nhận lời thánh Phêrô rao giảng. Nhưng cuối cùng, ngài đã phá vỡ mô thức xưa cũ ấy bằng cách thêm vào dân tộc thứ mười ba: những người La Mã (Rôma).[34]

Tổng quan, sách Công Vụ Tông Đồ không thuần tuý được xếp đặt dựa theo những tiêu chuẩn thuần túy lịch sử, nhưng dựa trên một tư tưởng thần học. Tác phẩm này phác thảo con đường Tin Mừng lan truyền từ Giêrusalem đến các dân ngoại, và như vậy, tác giả cũng ngầm nói đến sự viên mãn, thành toàn của sứ vụ mà Đức Giêsu uỷ thác cho các môn đệ: “đi đến tận cùng trái đất” để làm chứng (Cv 1,8). Tuy nhiên, trong kế hoạch tổng thể của quyển sách này, con đường của các chứng nhân (cụ thể, của thánh Phaolô tông đồ) từ Giêrusalem đến Rôma trở thành một bản tổng hợp phác thảo con đường thần học này. Đối với Luca, Rôma là thủ phủ của thế giới các dân ngoại. “Việc Phaolô đến Rôma làm nổi bật chủ đích con đường khởi hành từ Giêrusalem; Giáo hội phổ quát - công giáo - được thành hình, tiếp nối đoàn dân được chọn thuở xưa cùng lịch sử của dân tộc ấy, đồng thời đảm trách sứ vụ được Thiên Chúa uỷ. Thế nên, Rôma là biểu tượng cho các dân tộc, có một vị thế thần học trong sách Công vụ tông đồ; Rôma không thể bị tách khỏi ý tưởng về đặc tính Công giáo của Giáo hội trong quan niệm của Luca”.[35]

Vậy, người ta có thể nói thánh Luca đã dự đoán trước nhiều vấn đề nhức nhối của thời kỳ hậu tông đồ, và với sự tổng hoà đặc tính đa dạng với hiệp nhất, phổ quát và cụ thể, thánh nhân cho chúng ta một lời chỉ dẫn để có thể hiểu rõ và trả lời cho những vấn nạn hiện nay dưới ánh sáng của các chứng từ về nguồn gốc Giáo hội.

 


[1] E. Peterson, trong một khảo luận ngắn nổi tiếng, xuất bản năm 1929, với đề tựa Die Kirche, (in lại trong Theologische Traktate, Munich, 1951, tr. 409-429), là tác giả đầu tiên đã nắm bắt được luận đề này và chuyển sang ý nghĩa Công giáo. Có lẽ chính tôi cũng là người góp phần phổ biến tư tưởng này khi tìm hiểu, nghiên cứu trong các bài làm (học) của mình, và tôi lấy lại từ Peterson và Schlier, tuy dù đã sửa chữa khá nhiều trong mục từ “Kirche”, đăng trong LThK. Thật không may mắn, tất cả những sự thích nghi này đã bị xóa bỏ trong tiến trình phổ biến bình dân; câu châm ngôn này đã được giải thích hoàn toàn nghịch với ý nghĩa nguyên thuỷ của Loisy, chẳng hạn như trong L. Boff, Chiesa, carisma e potere (Rome, 1983).

[2] Jeremias, Neutestamentliche Theologie (Gutersloh, 1971), 1: 167.

[3] Ibid.

[4] Cf. Mc 1,15.

[5] Cf. Ga 11,52; Mt 12,30.

[6] Jeremias, 166.

[7] Ibid.

[8] Cf. Lc 10,1-20

[9] Cf. Cv 1,15-26

[10] Cf. Mc 3,14

[11] Cf. Mc 3,14b.

[12] Cf. K. H. Rengstorf, Das Evangielium nach Lukas, 132f.

[13] Về tầm quan trọng của bản LXX, xin xem: H. Gese, Vom Sinai zum Zion, 2d ed. (Munich, 1984) 16f; Về bước tiến triển của nó trong Do Thái giáo, xin xem: R. Aron, Die verborgenen Jahre Jesu (Frankfurt am Mainz., 1962), 209- 217.

[14] Cf. Jeremias, Die Abendmahlsworte Jesu; J. Betz, Die Eucharistie in der Zeit der grechischen Vater, vol 2, bk I (Freiburg im Breisgau,1961); H. Schurmann, Traditionsgeschichtliche Untersuchungen zu den Evangelian (Dusseldorf, 1968) 159-247; J. A. Sayes, El misterio eucarístico (Dusseldorf, 1969), 3-108.

[15] J. Ratzinger, Das neue Volk Gottes (Dusseldorf, 1969), 79.

[16] Mc 14,58 và Mt 26,61; Mc 15,29 và Mt 27,40; Ga 2,19; cf. Mc 11,15-19 par.; Mt 12,6

[17] Ibid.,79f.

[18] Cf. L. Rost, Die Vorstufen von Kirche und Synagoge im Alten testament. Wortgeschichtliche Untersuchungen (1938, in lại 1958); R. Schnackenburg, Die Kirche im Neuen Testament. QD 14 (Freiburg im Breisgau, 1961); H. Schlier, Ekklesiologie des Neuen Testament, in: Mysterium Salutis 4, 1 (1972),101-214.

[19] O. Linton, “Ekklesia”, in: RAC 4:905-921 (ở đây trích ở trang 907).

[20] Ibid., 907.

[21] cf. ví dụ, Hr 12,18-24.

[22] Gl 3,16, 16-29

[23] 1 Cr 15,28

[24] 2Cr 3,17.

[25] cf. Rm 8,15; Gl 4,16.

[26] Để tìm hiểu điều này kỹ hơn, xin coi bài viết “sôma” của E. Shweizer, đăng trong ThWNT 7: 1024-91.

[27] 1 Cr 12,17-19

[28] Cf. J. Baur, Einsicht und Glaube (Gottingen,1978), 43f.

[29] 1Cr 10,16.

[30] St 2,24.

[31] 1Cr 6,17.

[32] Xin xem thêm nội dung này trong: J. Ratzinger, Behold the Pierced One (San Francisco,1986), 71ff; G. Schneider, Die Apostelgeschichte, vol 1 (Freiburg im Breisgau, 1980) và vol 2 (1982); R. Pesch, “Die Apostelgeschichte”, trong EKK 1 và 2 (Zurich, 1986).

[33] Cf. Lc 22,32.

[34] Cf. G Schneider, 253ff; R. Pesch, 105f.

[35] Ratzinger, Behold the Pierced One, 73.

Catechesis.Net