• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

Truyền Thông Qua Lăng Kính Của Giáo Hội Học

Khoa Nam, OP.

 

Dẫn nhập

Khởi đi từ lệnh truyền của Chúa Giêsu: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” (Mc 16,15), Giáo Hội đã sử dụng các phương tiện truyền thông của xã hội từ truyền khẩu, viết sách trên giấy da, giấy cói cho đến khi xuất hiện kỹ thuật in ấn và nhất là mạng lưới truyền thông Internet hiện nay, để loan truyền Tin Mừng cứu độ cho mọi người khắp nơi trên thế giới, trước là cho các tín hữu trong Giáo Hội, sau là cho mọi người ngoài Giáo Hội. Tất cả mọi thành phần dân Chúa, từ hàng giáo phẩm cho đến người giáo dân, đã sử dụng những công cụ có trong tay để truyền thông cho mọi người Tin Mừng cứu độ và tình yêu của Thiên Chúa đối với con người qua hình ảnh Chúa Giêsu. Hành động truyền thông đó được khởi đi từ việc hiệp thông của cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi với Chúa Giêsu qua các tông đồ đầu tiên, để thi hành ý muốn của Chúa Cha là cứu độ con người.

I. SỨ MẠNG TRUYỀN THÔNG CỦA GIÁO HỘI

1. Giáo Hội được hình thành thế nào?

Đức Giêsu đến thế gian là để thực thi ý định của Thiên Chúa. Ý định đó là kêu gọi và quy tụ mọi người để làm thành một dân duy nhất của Thiên Chúa.Đức Giêsu đã đi rao giảng Tin Mừng, loan báo về Nước Thiên Chúa, và bắt đầu thiết lập Nước Trời, thiết lập Giáo Hội để hoàn tất ý định mà Thiên Chúa đã báo trước.

Nếu Giáo Hội Công giáo được định nghĩa là những tín hữu vây quanh Chúa Cứu Thế và vâng lời Người, thì Giáo Hội đã có từ khi bốn ngư phủ: Phêrô và Anrê, Giacôbê và Gioan đáp lời mời của Chúa Giêsu bỏ thuyền lưới tại hồ Galilê, đi theo Đức Giêsu để trở nên những ngư ông “đánh cá người” (x. Mt 4,18-22).

Và khi giờ đã đến, Giáo Hội được sinh ra từ cạnh sườn của Chúa Giêsu khi Ngài chịu chết trên thập giá. Nhờ máu và nước chảy ra từ cạnh sườn của Chúa Giêsu, sự sống của Chúa được trao ban cho ta và Giáo Hội trở nên phương tiện để Thiên Chúa ban ơn cứu độ cho mọi người. Giáo Hội đón nhận sự sống từ Chúa Kitô, và Giáo Hội có sứ mạng phân phát sự sống đó như Chúa Kitô đã truyền dạy.Nhưng Giáo Hội phải chờ đến ngày lễ Ngũ Tuần khi Chúa Thánh Thần ngự xuống thì Giáo Hội mới bắt đầu sứ mạng của mình.

Thực ra, Đức Giêsu đã ban Thánh Thần cho các Tông đồ ngay khi Ngài hiện ra lần thứ nhất tại nhà Tiệc ly vào buổi chiều hôm Phục sinh. Sau khi chào các ông, Đức Giêsu đã ban Thánh Thần cho các ông khi Ngài thở hơi và nói:Các con hãy nhận lấy Chúa Thánh Thần. Các con tha tội ai, thì người ấy được tha, các con cầm giữ ai thì người ấy bị cầm giữ”(Ga 20,22-23). Còn ngày lễ Ngũ tuần chỉ là dịp Đức Giêsu ban Thánh Thần cho các ông một cách đặc biệt, với đặc sủng ngôn ngữ, đồng thời cũng là dịp giới thiệu Giáo Hộicho muôn dân và chính thức sai các môn đệ đi rao giảng Tin Mừng cứu độ cho mọi người.

2. Bản chất của Giáo Hội là truyền thông

Truyền thông Công giáo khởi sự từ Thiên Chúa, do sáng kiến tình yêu của Thiên Chúa, được thể hiện và đạt đỉnh cao nơi Chúa Giêsu Kitô, được lưu truyền và tiếp nối theo lệnh truyền của Chúa qua Giáo Hội cho đến ngày tận thế(x. Mt 28,19). Như thế, Giáo Hội lãnh nhận sứ mạng từ Chúa Giêsu là rao giảng Tin Mừng cứu độ dưới sự thúc đẩy của Chúa Thánh Thần, nhờ gương mẫu đời sống, lời giảng dạy và các Bí tích mà dẫn người ta đến đức tin. Trải qua hai thiên niên kỷ, Giáo Hội vẫn luôn trung thành và cố gắng để chu toàn sứ vụ đem Tin Mừng đến tận cùng trái đất. Có thể nói Giáo Hội tồn tại là nhờ sứ mạng truyền thông.

Cho nên tự bản tính Giáo Hội lữ hành phải truyền giáo, vì chính Giáo Hội bắt nguồn từ sứ mạng của Chúa Con và Chúa Thánh Thần theo ý định của Chúa Cha. Chúa Giêsu đã thiết lập Giáo Hội với sứ mạng loan báo Tin Mừng. Sứ mạng đó đã được Chúa trao phó cho Giáo Hội qua các Tông Đồ khi Người còn tại thế: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” (Mc 16,15). Và như thế, loan báo Tin Mừng không chỉ là lời mời gọi nhưng còn là một mệnh lệnh Chúa Giêsu truyền cho Giáo Hội.

Giáo Hội cũng ý thức mình được thiết lập để tiếp tục việc truyền thông của Chúa Giêsu Kitô bằng lời nói, việc làm và cách sống. Thông điệp mà Giáo Hội đang nắm giữ, cần đến được với con người hôm nay bằng mọi phương cách. Đức Giáo Hoàng Phaolô VI khẳng định trong Tông huấn EvangeliiNuntiandi: “Giáo Hội sẽ có lỗi trước mặt Chúa nếu không tận dụng các phương tiện truyền thông mạnh mẽ hôm nay mà tài năng con người đang làm cho ngày càng hoàn hảo hơn. Nhờ các phương tiện này, Giáo Hội rao giảng thông điệp mà mình nắm giữ trên các mái nhà..”..[1]

Sắc lệnh Inter Mirifica (1963) của Công Đồng Vatican II được xem là văn kiện tiên phong liên quan đến các hoạt động truyền thông, mở ra một cái nhìn mang tính đối thoại với nhân loại và ngỏ lời muốn dấn thân cộng tác với xã hội. Văn kiện này là nền tảng cho các văn kiện khác của Giáo Hội về truyền thông, khi mà các phương tiện truyền thông ngày càng trở nên một khả thể vạn năng như hiện nay. Sắc lệnh mời gọi: “Mọi con cái Giáo Hội phải đồng tâm hiệp lực, chẳng những không ngần ngại, mà phải hết sức hăng say, sử dụng ngay những phương tiện truyền thông xã hội một cách đắc lực vào các công việc Tông Đồ khác nhau tuỳ theo những đòi hỏi cụ thể của hoàn cảnh và thời gian…”.[2]

c. Giáo Hội được sai đi với mục đích gì?

Mục đích của truyền thông Công giáo là truyền đạt đức tin và các giá trị Tin Mừng, và đó chính là truyền thông Đức Kitô cho thế giới nhờ các hình thức truyền thông do người Công giáo thực hiện, bắt đầu bằng chứng tá đời sống của họ. Như thế, truyền thông Công giáo có thể là các hoạt động truyền thông do các thành phần trong Giáo Hội đứng ra tổ chức hoặc điều hành, cũng có thể là sự cộng tác của giới Công giáo trong các chương trình truyền thông hữu ích, hoặc là sự dấn thân đơn lẻ của người Kitô hữu trong các hoạt động truyền thông xã hội… Nói cách khác, truyền thông Công giáo nhắm đến việc sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội trong tầm tay cho việc rao giảng Tin Mừng và phổ biến các giá trị của nền văn hóa Kitô giáo, làm cho sứ điệp Tin Mừng phù hợp với não trạng và cảm thức của con người hôm nay.

II. NHỮNG KIỂU MẪU TRUYỀN THÔNG TRONG GIÁO HỘI[3]

Những kiểu mẫu truyền thông của Giáo Hội bao gồm: Phẩm trật; sứ giả; tính Bí tích; cộng đoàn hiệp thông; đối thoại trong thế giới qua nhiều phương tiện khách nhau như: lời giảng, chữ viết, chứng nhân,…;…

1. Phẩm trật trong Giáo Hội [4]

Thánh Ignatiô phác họa hình ảnh Giáo Hội phẩm trật với sự chủ tọa của Giám mục cùng với sự cộng tác của các linh mục, sự phục vụ của các phó tế. Vậy các Giám mục, linh mục và phó tế có vai trò như thế nào trong lòng Giáo Hội đối với Giáo dân?

Đức Giám mục đóng vai trò chủ tọa và điều khiển cộng đoàn với tư cách là đại diện của Thiên Chúa, còn các linh mục hợp thành nghị viện chung quanh Giám mục, trong khi đó các phó tế bảo đảm công việc phục vụ Chúa Kitô. “Ý tưởng chức Giám mục đại diện Thiên Chúa làm cho chức vụ này có một sự cao cả siêu nhiên khiến người ta không thể tranh luận về quyền bính của Giám mục”.

Song song với việc đề cao chức Giám mục, thánh Ignatiô kêu gọi mọi người hãy tin tưởng vào Đức Giám mục, bắt chước các ngài mà sống đời sống thiêng liêng, ngài nói: “nếu lời cầu nguyện của hai người hợp lại có một sức mạnh như thế thì lời cầu nguyện của Giám mục và tất cả Giáo Hội còn có giá trị hơn biết bao”(Eph 4,1).

Giáo Hội theo thánh Ignatiô là một Giáo Hội phẩm trật với các chức vụ cụ thể và rõ ràng. Ngài cũng nhấn mạnh đến tính chất của phẩm trật ấy, và kêu gọi mọi người hãy đoàn kết, hiệp nhất với những người có trách nhiệm, những người lãnh đạo Giáo Hội.

Hiến chế Lumen Gentium viết: Sau khi lập Giáo Hội, Đức Giêsu đã tuyển chọn các thừa tác vụ khác nhau để chăn dắt và phát triển Thân Mình. Các thừa tác ấy phục vụ anh chị em để mọi người hưởng nhận phẩm giá Kitô hữu, đạt đến ơn cứu độ.[5]

Những nhiệm vụ mà các Giám mục, linh mục và phó tế nhận lãnh trong lãnh vực truyền thông:

a. Giám mục

- Nhiệm vụ giáo huấn

+ Dạy dỗ muôn dân và rao giảng Phúc Âm cho mọi người. Rao giảng Phúc Âm là một nhiệm vụ trổi vượt trong các nhiệm vụ chính của Giám mục.

+ Làm chứng cho Chúa Kitô đến tận cùng trái đất, trước mọi dân nước và vua chúa trần gian. Phục vụ, mà Kinh Thánh gọi rõ ràng là “diakonia” nghĩa là thừa tác vụ.

+ Nhiệm vụ giáo huấn - Rao truyền đức tin.

Qua những cách truyền thông này, Giám mục đem nhiều môn đệ mới về với Chúa Kitô, làm cho đức tin trổ sinh hoa trái, và luôn tỉnh thức loại bỏ mọi lầm lạc đang đe dọa đàn chiên mình.

- Nhiệm vụ thánh hóa

Giám mục quản lý ơn sủng của chức linh mục tối cao, nhất là trong hy lễ tạ ơn do chính ngài dâng hoặc lo liệu cho có lễ dâng, nhờ đó Giáo Hội luôn sống động và tăng triển. Mỗi lần Giám mục cử hành nhiệm vụ với cộng đoàn tụ hợp quanh bàn thờ, đó là biểu hiệu đức ái và “sự hiệp nhất của nhiệm thể, và nếu thiếu sự hiệp nhất đó, không thể có ơn cứu rỗi”. Như vậy, qua các Bí tích, Giám mục thông truyền ơn sủng cho Kitô hữu của mình.

- Nhiệm vụ cai quản

Các ngài chỉ dùng quyền bính để xây dựng đoàn chiên trong chân lý và thánh thiện. Quyền bính các ngài đích thân thi hành nhân danh Chúa Kitô, là quyền bính riêng biệt, thồng thường và trực tiếp. Nhưng việc thi hành cuối cùng còn lệ thuộc vào quyền tối cao của Giáo Hội, và có thể bị giới hạn phần nào vì lợi ích của Giáo Hội hay của các tín hữu.

Được trao phó trọn vẹn trách nhiệm mục vụ, tức là thường xuyên và hàng ngày săn sóc con chiên mình.Phục vụ chứ không phải để được phục và hiến mạng sống mình vì con chiên.Giám mục mắc nợ tất cả mọi người, cho nên hãy hăng hái rao giảng Phúc Âm cho mọi người, và khuyến khích các tín hữu làm việc tông đồ và truyền giáo.

b. Các linh mục

- Hiệp nhất với Giám mục trong chức vụ linh mục, để rao giảng Phúc Âm, chăn dắt tín hữu và cử hành việc thờ phượng Thiên Chúa.

- Tụ họp gia đình Thiên Chúa là cộng đoàn huynh đệ có cùng một tâm hồn, dẫn đưa cộng đoàn ấy về với Thiên Chúa Cha.

- Là hiện thân của Giám mục, linh mục thánh hóa và dẫn dắt một phần đoàn chiên Chúa trao phó cho mình.

- Phải săn sóc các tín hữu như những người cha trong Chúa Kitô, vì đã sinh ra họ cách thiêng liêng nhờ Bí tích Thánh Tẩy và giáo huấn.

- Phải nối kết cố gắng và khả năng mình dưới sự hướng dẫn của các Giám mục và Giáo hoàng, để toàn thể nhân loại hiệp nhất trong gia đình Thiên Chúa.

c. Các phó tế

Khi được những vị có thẩm quyền chỉ định, các phó tế được cử hành trọng thể Bí tích Thánh Tẩy, trao Mình Thánh Chúa, nhân danh Giáo Hội chứng kiến và chúc lành hôn phối, mang của ăn đàng cho kẻ hấp hối, đọc Kinh Thánh cho tín hữu, giáo huấn và khuyên nhủ dân chúng, chủ tọa việc phụng tự và kinh nguyện của tín hữu, cử hành các á Bí tích, chủ tọa lễ nghi tang chế và an táng.

Như vậy, kiểu mẫu truyền thông này quan tâm về “những mối quan hệ bên trong Giáo Hội giữa những người phục vụ lời và những người mà họ phục vụ cho”. Kiểu mẫu này tạo ra một sự phân biệt rõ ràng giữa phẩm trật là những thầy dạy quyền hành và những người tín hữu là những người học. Nội dung của nó là đạo lý có thẩm quyền của Giáo Hội. Những sự diễn tả về kiểu mẫu này thì nằm ở những bản văn phẩm trật, những lá thư và những cáo thị mục vụ.

2. Ngôn sứ [6]

Loan báo và làm chứng cho Đức Kitô là nhiệm vụ của toàn dân Thiên Chúa, không phải chỉ có hàng Giáo phẩm mới có trách nhiệm rao giảng và làm chứng cho Tin Mừng. Qua Bí tích Rửa Tội, người giáo dân cũng tham dự vào ba chức vụ Tư tế, Ngôn sứ và Vương đế của Chúa Kitô tuỳ theo vị trí của mình trong Giáo Hội.

Người giáo dân thi hành sứ mạng ngôn sứ của mình bằng chính đời sống của mình trong những cấp bậc khác nhau trước mặt người đời để “họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời” (Mt 5,16).

Từ Công Đồng Vatican II trở đi, Giáo Hội đã có cái nhìn tích cực về người giáo dân. Vatican II đề cao vai trò của người giáo dân trong Giáo Hội. Các văn kiện của Công Đồng cũng như của các Giáo hoàng sau này dành khá nhiều tài liệu để nói về người giáo dân trong đời sống của Giáo Hội. Điều này được thấy qua Hiến chế Lumen Gentium, Sắc lệnh Apostolicam Actuositatem, Tông huấn Familiaris Consortio, Tông huấn Christifideles Laici và gần đây nhất là sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo.[7]

Ngoài nền tảng cùng chung một phẩm giá là Kitô hữu qua Bí tích RửaTội, thì người giáo dân còn có một tính cách riêng biệt, đặc thù đó là tính cách trần thế. Tính cách trần thế của người giáo dân là “tìm kiếm nước Thiên Chúa bằng cách làm các việc trần thế và xếp đặt chúng theo ý Thiên Chúa. Họ sống giữa trần gian, nghĩa là giữa tất cả cũng như từng công việc và bổn phận của trần thế, giữa những cảnh sống thường ngày trong gia đình và xã hội.[8]

Nhờ Bí tích Thánh Tẩy, người giáo dân được tham dự vào chức vụ Ngôn sứ của Chúa Kitô. Chúa Kitô đã thực hiện chức năng Ngôn sứ của mình bằng lời nói và bằng hành động thì người giáo dân cũng phải thực hiện chức năng đó trong cuộc sống của mình. Người giáo dân được tham dự vào sứ mệnh Ngôn sứ của Đức Kitô, nghĩa là mặc khải cho loài người về Chúa Cha và Tình Yêu của Người; nói một cách cụ thể, nghĩa là đem Tin Mừng cứu độ đến tận cùng trái đất, để xây dựng một nước Thiên Chúa, biến đổi trần gian thành một Đất Mới trong một Trời Mới đang được hình thành.[9]

Trần thế tính là nét riêng biệt và đặc thù của giáo dân. Người giáo dân có bổn phận tìm kiếm nước Thiên Chúa bằng cách làm các việc trần thế và xếp đặt chúng theo ý của Thiên Chúa. Tất cả những công việc trần thế dệt thành cuộc sống của họ. Họ đóng góp rất nhiều vào thiện ích của Giáo Hội.[10]

Họ được mời gọi làm bổn phận của mình được Tin Mừng hướng dẫn. Họ Phúc Âm hoá thế giới từ bên trong, như thế họ làm cho mọi người nhận biết Chúa Kitô bằng đời sống chứng tá tin, cậy, mến. Tóm lại, như linh hồn trong thân xác, người Kitô hữu cũng ở giữa thế giới như vậy”.[11]

Dĩ nhiên mọi thành phần của Giáo Hội đều phải tham gia vào lãnh vực trần thế nhưng bằng những cách thế khác nhau. Đặc biệt là sự tham gia của người giáo dân. Theo Công Đồng Vatican II, Kitô hữu giáo dân là những người tín hữu đang dấn thân vào các sinh hoạt trần thế với mọi người, như mọi người, trong tương giao nghề nghiệp, văn hóa, xã hội và bằng hữu. Mảnh đất nhân bản và sinh hoạt trần thế được coi là môi trường riêng biệt, nơi người giáo dân thực hiện sứ mệnh làm người và lý tưởng Kitô hữu của mình. Đây chính là môi trường Thiên Chúa gọi họ sống lý tưởng Tin Mừng, bằng chính cuộc sống chứng tá, nhằm biến đổi cuộc đời từ bên trong, theo lý tưởng như men trong bột, làm cho cả khối bột dậy men. Họ phải sống giữa trần gian và dấn thân vào tất cả mọi sinh hoạt trần thế với ý hướng biến đổi và thánh hoá môi trường sống đó từ bên trong. Như vậy, “giáo dân phải tự thánh hóa trong cuộc sống hàng ngày, cuộc sống nghề nghiệp và xã hội. Để đáp ứng ơn gọi của mình, người giáo dân phải xem đời sống thường nhật như một cơ hội kết hiệp với Chúa và thực hiện ý muốn của Ngài, như một cơ hội phục vụ tha nhân bằng cách đưa họ tới hiệp thông với Thiên Chúa trong Đức Kitô.[12]

Như thế, kiểu mẫu truyền thông này được nhận ra trong mối liên hệ với những người bên ngoài, trong khi kiểu mẫu đầu tiên ám chỉ nhiều hơn đến việc truyền thông nội bộ trong Giáo Hội. Vì bản chất của Giáo Hội là truyền thông, nên tất cả những người được chịu phép rửa là những người mang sứ điệp. Kiểu mẫu truyền thông này được đặt nền tảng trên những chiều kích truyền khẩu của nền văn hoá và sự đáp trả được mong đợi là cuộc đối thoại với người nghe.

3. Tính Bí tích[13]

Trong Hiến chế Dei Verbum viết rằng: “Thiên Chúa nhân lành và không ngoan đã muốn mặc khải và tỏ cho mọi người biết Bí tích Thánh Ý Ngài (x. Ep 1,9). Nhờ đó, loài người có thể đến cùng Chúa Cha, nhờ Chúa Kitô, Ngôi Lời Nhập Thể, trong Chúa Thánh Thần, và được thông phần bản tính của Thiên Chúa (x. Ep 2,18)”.[14] Chính Đức Kitô được nhìn nhận như một biểu tượng mặc khải siêu việt, một hình ảnh sống động diễn tả Thiên Chúa trong một số cách hữu hình. Đức Kitô truyền thông không chỉ bằng những gì Người nói nhưng còn bằng những gì Người làm. Như thế, nơi Đức Kitô, chúng ta thấy truyền thông tôn giáo xảy ra không chỉ nhờ lời nhưng còn nhờ những con người và những sự kiện để biểu lộ tình thương của Thiên Chúa cho loài người, bày tỏ lòng mong muốn cứu độ nhân loại của Thiên Chúa.

Giáo Hội cũng được mô tả là một dấu chỉ hoặc Bí tích (sacramentum) hữu ích mà qua đó Đức Kitô tiếp tục hiện diện và hoạt động như trong Hiến chế Lumen Gentium viết như sau: “Ánh sáng muôn dân chính là Chúa Kitô, nên Thánh Công Đồng đang nhóm họp trong Chúa Thánh Thần hết lòng mong ước soi dẫn mọi người bằng ánh sáng của Chúa phản chiếu trên dung nhan Giáo Hội bằng việc rao truyền phúc âm cho mọi tạo vật. Vì Giáo Hội ở trong Chúa Kitô như Bí tích hoặc dấu chỉ và khí cụ của sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa và sự hiệp nhất toàn thể nhân loại”.[15] Như thế, Giáo Hội là một dấu chỉ và dụng cụ về sự hiện diện sống động của Đức Kitô. Nơi đây, chiều kích truyền thông trong phụng vụ được nhìn nhận và “kiểu mẫu truyền thông Bí tích” nơi mà “những dấu chỉ được thánh hiến đem lại hiểu quả cứu độ”. Nói cách khác, Giáo Hội đóng vai trò “môi giới” giữa Thiên Chúa và nhân loại, qua nhiều công tác khác nhau:[16]

- Giáo Hội rao giảng Lời Chúa cho nhân loại. Chính nhờ Giáo Hội mà chúng ta nhận được Lời Mạc khải của Chúa, qua Sách Thánh, Truyền thống, Huấn quyền.

- Giáo Hội chuyển thông ơn cứu độ cho nhân loại, đặc biệt qua các Bí tích.

- Giáo Hội dìu dắt chúng ta không những qua các mục tử, nhưng còn qua các nhà hướng dẫn khác, tựa như các vị linh hướng, các huấn luyện viên, các nhà đồng hành,...

Vai trò “môi giới” của Giáo Hội được các giáo phụ diễn tả dưới hình ảnh “Mẹ Giáo Hội” (Ecclesia Mater), kẻ sinh thành và dưỡng dục chúng ta vào đời sống siêu nhiên nhờ lời giảng dạy và các Bí tích.

Như vậy, Giáo Hội chính là phương tiện truyền thông được biểu hiện qua dấu chỉ để giúp con người không chỉ nhận ra chính mình mà hơn nữa còn được nhận biết Ý Định Thiên Chúa và bước vào sống tương quan với Ngài.

4. Cộng đoàn[17]

Danh từ “Giáo Hội” hay “Hội Thánh” được dịch từ hạn từ “ekklesia” của Hy Lạp, được ghép bởi hai từ: giới từ “ek” (từ, ra khỏi từ, khỏi) và động từ “kaleô” (gọi, triệu tập). Thuật ngữ “Giáo Hội” chỉ những cuộc tập họp dân chúng, thường có tính tôn giáo. Và thuật ngữ này thường được sử dụng để chỉ cuộc tập họp của “Dân được tuyển chọn” trước mặt Thiên Chúa. Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo viết rằng: “khi tự xưng là Giáo Hội, cộng đoàn tín hữu tiên khởi nhìn nhận mình là thừa kế của cộng đoàn dân Chúa trong Cựu ước. Trong cộng đoàn này, Thiên Chúa tập họp Dân của Người từ khắp mặt đất”. Như thế, ngay trong danh từ Giáo Hội đã chứa đựng một sự truyền thông của Thiên Chúa đối với con người để dẫn đưa mọi người đến sự hiệp thông với Thiên Chúa.

Chính vì thế, Avery Dulles đã viết rằng: “Kiểu mẫu hiệp thông hay cộng đoàn của Giáo Hội truyền thông là koinonia (communion)”.[18] Sự hiệp thông xuất phát từ ý định của Thiên Chúa: “Thiên Chúa không muốn thánh hoá mọi người cách riêng rẽ, thiếu liên kết, nhưng Ngài muốn quy tụ họ thành một dân tộc để họ nhận biết chính Ngài trong chân lý và phụng sự Ngài trong thánh thiện. Vì thế, Ngài đã chọn dân Israel là dân Ngài.... Tuy nhiên, tất cả những điều ấy chỉ là chuẩn bị và là hình bóng của giáo ước mới và hoàn hảo, sẽ được ký kết trong Chúa Kitô.... Chúa Kitô đã thiếp lập giao ước mới, đó là giao ước mới trong máu Người. Người triệp tập dân chúng từ dân Israel và từ các dân ngoại, họp thành một khối duy nhất trong Thánh Thần chứ không theo xác thịt, để làm họ nên dân tộc mới của Thiên Chúa”.[19]

Hơn nữa, sự đa dạng giữa các bộ phận trong thân thể Giáo Hội không dẫn tới sự phân ly chia rẽ nhưng dẫn tới sự hiệp thông, nhờ chính Thánh Linh là nguyên ủy của hiệp thông. Trong lòng nội tại của Thiên Chúa, Thánh Linh là nguyên ủy hiệp thông liên kết giữa Ba Ngôi (x. 2Cr 13,13). Trong Hội Thánh, Thánh Linh cũng giữ vai trò tương tự: Ngài duy trì các phần tử trong sự hiệp nhất nhờ mối dây yêu thương (1Cr 12,13). Đó cũng là điều mà phụng vụ khẩn nài trong Bí tích Thánh Thể, nguyện xin Thánh Linh biến đổi các người tham dự bàn tiệc thánh trở thành một Thân Thể và một tinh thần trong Đức Kitô.[20] Chính Thánh Linh hướng dẫn con người trong nội tâm để dẫn đưa mọi người đi trên con đường sự thật mà tiến tới lãnh nhận sự sống đời đời là chính Đức Kitô (x. Ga 14,6).

Ngoài ra, một sự diễn tả của lối tiếp cận này trong Chương 2 của Hiến chế Lumen Gentium với tiêu đề là “Dân Thiên Chúa”.[21] Kiểu mẫu truyền thông này “ủng hộ việc làm chứng và việc đối thoại chung” với những Kitô hữu khác. Nhưng mô hình này còn được mở rộng vượt qua Kitô Giáo: “Ý định cứu độ của Thiên Chúa cũng hàm hàm những ai nhận biết Đấng Tạo Hoá: Trước tiên phải kể người Hồi Giáo, họ xưng rằng họ giữ đức tin của Abraham, cùng với chúng ta, họ thờ phượng Thiên Chúa duy nhất, nhân từ, Đấng sẽ phát xét loài người trong ngày sau hết. Những kẻ đang tìm kiếm Thiên Chúa trong bóng tối và qua ngẫu tượng, Thiên Chúa mà họ không biết, cả những kẻ ấy, Ngài cũng không xa họ, bởi vì chính Ngài ban cho mọi người sự sống, hơi thở và tất cả mọi sự, và vì là Đấng Cứu Thế, Ngài muốn mọi người đều được cứu độ”.[22] Do đó, mỗi tín hữu trong Giáo Hội cần phải truyền thông cho mọi dân tộc để họ nhận biết Thiên Chúa qua việc làm chứng và đối thoại.

Như vậy, ý định hiệp thông xuất phát từ chính Thiên Chúa, và Giáo Hội tiếp nối sứ vụ này qua việc làm chứng và đối thoại để dẫn đưa mọi người được hiệp thông vào sự hiệp thông của Ba Ngôi, được làm con Thiên Chúa và hưởng sự sống đời đời.

5. Giáo Hội đối thoại với thế giới

Công Đồng Vatican II nhấn mạnh ý thức của Dân Thiên Chúa là họ “thực sự liên kết mật thiết với nhân loại qua lịch sử của nhân loại”. Những ai công bố Lời Chúa buộc phải chú ý và tìm cách thấu hiểu “ngôn ngữ” của các dân tộc và các nền văn hóa khác nhau, ngõ hầu không chỉ học hỏi từ chúng, song còn giúp chúng nhận ra và chấp nhận Lời Chúa. Vì thế, Giáo Hội phải duy trì sự hiện diện tích cực, chăm chú lắng nghe đối với thế giới. Hơn nữa, vì Giáo Hội phải luôn luôn truyền thông sứ điệp của mình theo cách thức phù hợp với từng thời đại và các nền văn hóa của những quốc gia và dân tộc khác nhau, cho nên ngày nay, Giáo Hội phải thông truyền trong và cho nền văn hóa mới nảy sinh. Đây là điều kiện cơ bản nhằm đáp ứng lại điểm then chốt mà Công Đồng Vatican II đã chỉ ra là: “nhiều mối ràng buộc xã hội, kỹ thuật và văn hóa liên kết con người ngày càng chặt chẽ hơn đang xuất hiện khiến cho nhiệm vụ của Giáo Hội là đưa dẫn mọi người ‘kết hiệp trọn vẹn với Chúa Kitô’ có tầm mức khẩn cấp đặc biệt”.[23]

Trong bối cảnh đó, Giáo Hội luôn ý thức và biết mình phải làm gì để thế giới nhận thấy được tình yêu của Thiên Chúa. Hơn nữa, Công Đồng Vatican II đã vạch ra con đường mục vụ để làm sao Giáo Hội thấu hiểu hơn về thế giới, đồng thời cũng làm sao cho thế giới thấy được sự cần thiết của Giáo Hội đang hiện diện trong thế giới này. Chính vì thế, Công Đồng đã khẩn thiết đưa ra hai chiều kích đối thoại: đối thoại nội tại và ngoại tại. Đối thoại nội tại là đối thoại với chính mình; còn đối thoại ngoại tại là đối thoại với thế giới, như với các tôn giáo, các nền văn hóa, con người,…

a. Giáo Hội đối thoại với chính mình

Hiến chế Lumen Gentium xác định rằng:Đối với Thiên Chúa, Ngài không cứu độ từng người riêng lẻ, mặc dù từng cá nhân sẽ được cứu độ. Chính vì thế mà Ngài quyết định thành lập dân của Ngài trong khía cạnh gia đình, đó là Nước Thiên Chúa. Từ đó, chính Thiên Chúa đã cứu độ cá nhân trong gia đình của Ngài là Dân Thiên Chúa, mặc dù dân ấy chưa bao gồm toàn thể nhân loại. [24]

Khía cạnh khác, Dân Thiên Chúa được Đức Kitô thiết lập để thông dự vào sự sống thần linh và như là khí cụ cứu rỗi cho mọi người. Mặc dù Dân Thiên Chúa rất nhỏ bé, nhưng Thiên Chúa sẽ làm việc trên sự nhỏ bé ấy. Dân ấy cũng có bổn phận là thánh hóa thế giới qua sự hiện diện của mình ở mọi thời và mọi nơi bằng đức tin và đối thoại. Chính Thiên Chúa cứu độ mọi dân tộc và mọi người bằng con đường đối thoại. Bởi thế, nhờ đối thoại, Giáo Hội mới giới thiệu ơn cứu độ cho muôn dân, cũng như cho muôn dân nhận biết Thiên Chúa.

b. Giáo Hội đối thoại với các nền văn hóa

Giữa sứ điệp cứu độ và văn hóa nhân loại có nhiều mối liên hệ. Thực vậy, khi tự mặc khải với dân Ngài cho tới khi tỏ mình đầy đủ trong Ngôi Lời nhập thể, Thiên Chúa đã nói theo văn hóa riêng của từng thời đại.

Cũng vậy, trải qua các thế kỷ sống trong nhiều hoàn cảnh khác nhau, Giáo Hội đã sử dụng những tài nguyên của các nền văn hóa khác biệt để phổ biến và giải thích cho muôn dân sứ điệp của Chúa Kitô trong khi rao giảng, để tìm tòi và thấu hiểu sâu xa hơn, để diễn tả sứ điệp ấy cách tốt đẹp hơn trong các lễ nghi phụng vụ và trong cuộc sống muôn mặt của cộng đoàn các tín hữu.

Nhưng đồng thời, Giáo Hội không bị ràng buộc cách độc quyền và bất khả phân ly với một chủng tộc hay quốc gia, với một lối sống đặc thù hoặc một tập tục cũ hay mới nào, vì Giáo Hội được sai đến với mọi dân tộc thuộc mọi nơi và mọi thời. Trung thành với truyền thống riêng và đồng thời ý thức sứ mệnh phổ quát của mình, Giáo Hội có thể hòa mình với nhiều hình thức văn hóa khác nhau. Nhờ đó, chính Giáo Hội cũng như các nền văn hóa ấy đều được phong phú hơn.[25]

Mặt khác, Giáo Hội phải hiện diện trong các nhóm người mang những văn hóa khác nhau, hầu để mọi người nhận biết Thiên Chúa và nhận được ơn cứu độ của Ngài. Vì thế, Giáo Hội không thể nào am hiểu hay đồng hành với mọi nhóm người hay mọi dân tộc nơi những nơi xa xôi hẻo lánh. Chính vì thế, “Giáo Hội nhờ con cái mình là những người cùng sống chung với họ hay là được sai đến với họ”. Mọi Kitô hữu, dù sống ở đâu, để có thể làm chứng về Chúa Kitô một cách hiện hữu, thì chính các Kitô hữu phải lấy lòng kính trọng và tình bác ái liên kết với những người chung quanh, phải biết mình là thành phần của nhóm người mình chung sống và tham gia đời sống văn hóa, xã hội qua những giao tiếp và hoạt động khác nhau trong đời sống nhân loại. Họ phải làm quen với những truyền thống dân tộc và tôn giáo của những người sống chung; phải lấy làm sung sướng và kính cẩn khám phá ra những hạt giống Lời Chúa đang tiềm ẩn trong họ.[26]

c. Giáo Hội đối thoại với các tôn giáo

Tuyên ngôn Nostra Aetate của Công Đồng Vatican II nói rằng: “Trong thời đại chúng ta, nhân loại càng ngày càng liên kết chặt chẽ với nhau hơn, các mối liên lạc giữa các dân tộc cũng gia tăng, nên Giáo Hội đặc biệt chú tâm đến việc liên lạc với các tôn giáo ngoài Kitô giáo”.[27] Sứ mạng đó không chỉ dành riêng cho Giáo Hội hay các đấng bậc trong Giáo Hội, nhưng là lời mời gọi và sứ vụ của mọi người Kitô hữu:“Người công giáo phải tìm cách cộng tác với tất cả mọi người thiện chí để cổ động cho bất cứ những gì là chân thật, công bằng, thánh thiện và đáng yêu quý (x.Pl 4,8). Người công giáo hãy đối thoại với họ, hãy đến với họ cách khôn ngoan và tế nhị, hãy tìm cách kiện toàn những cơ cấu xã hội và quốc gia theo tinh thần Phúc Âm.[28] Vì thế, việc tiếp xúc, đối thoại và cộng tác với tín đồ các tôn giáo khác chính là một công việc mà Công Đồng Vatican II đã giao cho toàn thể Giáo Hội làm như một bổn phận và một thách đố.[29]

Những phương thế mà Giáo Hội đưa ra để đến với các tôn giáo là để tôn trọng và hiểu nhau hơn, để cùng nhau xây dựng thế giới ngày càng trở nên hoàn thiện hơn. Đối thoại với nhau là nói chuyện, trao đổi, thảo luận chứ không phải để thuyết phục hầu đưa họ về Kitô giáo, mà để biểu lộ tình thương, tình người qua sự quan tâm và giúp đỡ của mình.

Khi đối thoại hay tìm hiểu các tôn giáo giúp chúng ta tiếp cận với các nền văn hóa và các tôn giáo khác với cái nhìn tích cực. Các thánh Giáo phụ (Justino, Clemente, Irene) đã cho thấy trong từng nền văn hóa, tôn giáo luôn có sự hiện diện cách này hay cách khác của Thiên Chúa. Như thế, dưới lăng kính Kitô giáo, chúng ta có thể nói rằng, Đức Giêsu Kitô chính là ánh sáng, là chân lý, là đường để kiện toàn các tôn giáo và các nền văn hóa khác. Vì thế, Ngài đến thế gian để mang đến cho con người sự sống vốn đã được tác tạo bởi Thiên Chúa trở nên tốt hơn. Chính vì thế mà Giáo Hội nối tiếp sứ mạng của Ngài là đến với muôn dân nhằm để họ nhìn thấy tình yêu của Thiên Chúa, và từ đó họ có thể hưởng ơn cứu độ cách trọn hảo.

d. Giáo Hội đối thoại với con người

Bổn phận của Giáo Hội là rao giảng Tin Mừng cho muôn dân. Do đó, con người là đối tượng ưu việt mà Giáo Hội hướng tới, vì con người là hình ảnh của Thiên Chúa. Khi nói đến con người hôm nay, Giáo Hội không xem con người như là một thụ tạo xa lạ, không ai bị loại trừ, cũng không bị chia lìa, nhưng đúng hơn Giáo Hội nhìn nhận mình được thành lập từ chính con người và ý định của Thiên Chúa, được trở nên thân mình của Đức Kitô và mọi người là chi thể. Bởi thế, ngay từ đầu của Hiến chế Gaudium et Spes, Giáo Hội đã xác nhận: “Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay, nhất là của người nghèo và những ai đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Chúa Kitô”.[30] Như thế, không có gì liên quan đến nhân loại mà lại không có thao thức hay quan tâm từ trong cỏi lòng của các môn đệ Chúa Kitô và Giáo Hội. Giáo Hội luôn đồng hành và chia sẻ cách sâu xa với con người và toàn nhân loại. Trong tinh thần đó, Giáo Hội đã xác định con người là trung tâm, là bản lề của mọi vấn đề nhân sinh và xã hội. Một đối tượng mà mọi con người phải đối thoại với nhau, bất phân biệt người Kitô hữu hay ngoài Kitô hữu.[31] Chính Giáo Hội được thiết lập để đến cùng con người chứ không phải để chỉ sống cho mình mà thôi, Giáo Hội phải đối thoại với con người, đưa cho con người ánh sáng đức tin đã được trao phó cho Giáo Hội. Như thế Giáo Hội góp phần vào công việc chung nhằm cứu độ con người và cải thiện xã hội, đặc biệt giúp con người nhận ra con người toàn hảo là Đức Kitô.

Kết luận

Tóm lại, qua những điều đã phân tích ở trên, chúng ta nhận thấy rằng Giáo Hội trong sứ vụ loan báo Tin Mừng cứu độ theo lệnh truyền của Chúa Giêsu đã luôn đi bước trước để truyền thông đến với con người tình yêu của Thiên Chúa. Nhờ những công cụ và phương cách truyền thông mà con người có thể tạo ra được, như việc: Truyền khẩu, in ấn sách báo, Internet,… Giáo Hội đã sử dụng chúng, dưới ánh sáng của Tin Mừng, để đối thoại với con người ở mọi thời mọi nơi hầu tìm ra chân lý đích thực. Chân lý đích thực này chính là Đức Giêsu Kitô. Đây là điều mà Giáo Hội đã nhận lãnh được qua mặc khải của Thiên Chúa. Như thế, chúng ta có thể nói rằng, ngay từ khi được Chúa Giêsu thiết lập, Giáo Hội tự bản chất đã có tính truyền thông nơi mình. Giáo Hội với hàng giáo sĩ và giáo dân, qua một cơ cấu phẩm trật rõ ràng và vững chắc, đã hiệp thông với nhau trong sứ vụ truyền thông Tin Mừng cho nhân loại. Các giám mục, linh mục, tu sĩ và người giáo dân, tùy theo phận vụ của mình, đã truyền thông ơn cứu độ của Thiên Chúa đến với muôn người theo lệnh truyền của Chúa Giêsu Kitô.

 

 

 

 


[1] Đức Giáo Hoàng Phaolô VI, Tông huấn Evangelii Nuntiandi (Loan báo Tin Mừng), Ngày 08-12-1975, số 45.

[2]   Công Đồng Vatican II, Sắc lệnh Inter Mirifica (Những phát minh kỳ diệu), 1963, số 13.

[3] x. Franz-Josef Eilers, Communicating in community, an introduction to Social communication, fourth updated edition Manila: Logos Publications, 2009, tr. 61.

[4] Lê Văn Chính, Giáo phụ học. Đại chủng viện thánh Giuse Sài Gòn: 2009, tr. 33.

[5] Công Đồng Vatican II, Hiến chế Lumen Gentium (Ánh sáng muôn dân), số 17.

[6]x. Kinh Thánh, Bản Việt ngữ do nhóm Phụng Vụ Các Giờ Kinh thực hiện, Hà Nội: Tôn giáo, 2011; Công Đồng Vatican II,Hiến chế Lumen Gentium,Hiến chế Gaudium et spes, Sắc lệnh Inter Mirifica, Sắc lệnh Ad Gentes., Bản Việt ngữ do Ủy Ban Giáo Lý Đức Tin – HĐGMVN thực hiện, Tôn giáo: 2012; Đức Giáo Hoàng Phaolô VI, Tông huấn Evangelii Nuntiandi, 1975; Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Tông huấn Familiaris Consortio, 1981; Tông huấn Christifideles Laici, 1988; Sách Giáo Lý Của Hội Thánh Công Giáo, Bản Việt ngữ do Uỷ Ban Giáo Lý Đức Tin –HĐGMVN, Hà Nội: Tôn giáo, 2009.

[7] x. Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, các số 1700 – 1748 và 1879 – 1948.

[8] x. Công Đồng Vatican II, Hiến chế Lumen Gentium (Ánh sáng muôn dân), số 31.

[9] x. Ibid., số 12. 35.

[10] x. Ibid., số 31.

[11] Ibid., số 38.

[12] x. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Tông huấn Christifideles Laici (Sứ mệnh người kitô hữu), Ngày 30-12-1988, số 17.

[13] x. Franz-Josef Eilers, Communicating in community, an introduction to Social communication, fourth updated edition Manila: Logos Publications, 2009, tr. 61.

[14] Công Đồng Vatican II, Hiến chế Dei Verbum (Lời Thiên Chúa), số 2.

[15] Công Đồng Vatican II, Hiến chế Lumen Gentium (Ánh sáng muôn dân), số 1.

[16] x. Phan Tấn Thành, Đời Sống Tâm Linh, tập III, Roma: 2003, tr. 76-77.

[17] x. Franz-Josef Eilers, Communicating in community, an introduction to Social communication, fourth updated edition Manila: Logos Publications, 2009, tr. 61.

[18] Ibidem.

[19] Công Đồng Vatican II, Hiến chế Lumen Gentium (Ánh sáng muôn dân), số 9.

[20] x. Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, số 1108-1109; Phan Tấn Thành, Đời Sống Tâm Linh, tập III, Roma: 2003, tr. 76.

[21] x. Công Đồng Vatican II, Hiến chế Lumen Gentium (Ánh sáng muôn dân), các số 9-17.

[22] Công Đồng Vatican II, Hiến chế Lumen Gentium (Ánh sáng muôn dân), số 16.

[23] Hội Đồng Giáo Hoàng Về Truyền Thông Xã Hội, Huấn thị mục vụ “Aetatis Novae” (Thời đại mới), Ngày 22-02-1992, số 8.

[24] Công Đồng Vatican II, Hiến chế Lumen Gentium (Ánh sáng muôn dân), số 9.

[25] Công Đồng Vatican II, Hiến chế Gaudium et Spes (Vui Mừng và Hy Vọng), số 58.

[26] Công Đồng Vatican II, Sắc lệnh Ad Gentes (Đến với muôn dân), số 11.

[27] Công Đồng Vatican II, Tuyên ngôn Nostra Aetate (Thời đại chúng ta), số 1.

[28] Công Đồng Vatican II, Sắc lệnh Apostolicam Actousitatem (Phát động việc tông đồ), số 14.

[29] Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Tông huấn Ecclesia in Asia (Giáo Hội tại Á Châu), Ngày 06-11-1999, số 31.

[30] Công Đồng Vatican II, Hiến chế Gaudium et Spes (Vui Mừng và Hy Vọng), số 1.

[31] Ibid., số 13.

 

 

 

 

 

Catechesis.Net