• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

Tất Cả Anh Em Đều Là Anh Em Với Nhau

  Bề trên Tổng quyền CARLOS A. AZPIROZ COSTA[1]

Roma,08/08/2009
Lễ trọng kính thánh Đa Minh, tổ phụ chúng ta

 

 

Anh em thân mến của tôi, những người cộng sự của Thiên Chúa trong việc rao giảng Tin mừng Đức Kitô (x. 1Tx 3, 2).

Trước khi kết thúc nhiệm kỳ mà anh em đã giao phó, tôi muốn suy tư về một khía cạnh chính yếu trong ơn gọi của chúng ta: chúng ta là anh em với nhau. Mặc dù bức thư này được gửi riêng cho anh em, nhưng tôi nghĩ rằng các chị em đan sĩ, nữ tu và giáo dân trong gia đình Đa Minh cũng có thể đọc những trang này rồi đem áp dụng vào đời sống và sứ vụ của mình.

Thú thực là khi nảy ra ý tưởng rao giảng này, tôi đã cố chạy trốn giống như một Giona mới. Nhưng khi suy ngẫm về một số khía cạnh quan phòng trong đời tôi, và nhất là những năm tôi có liên hệ với anh chị em trên toàn thế giới, tôi đã mạnh dạn viết cho anh em để chia sẻ kinh nghiệm riêng mình. Thực vậy, do sự quan phòng, một số trang trong cuộc đời đã dệt nên tấm thảm ơn gọi của tôi, ơn gọi sống như người anh em.

Một người anh em giữa các anh em

Tôi là người con thứ tám trong gia đình 14 người con (13 trai và 1 gái): tôi tin rằng đó là một dẫn nhập thực sự vào đời sống cộng đoàn tu viện, vào đời sống với các anh em, và giữa các anh em.

Từ 6 đến 18 tuổi, tôi theo học cấp một và cấp hai tại trường của các tu sĩ dòng Đức Maria ở Buenos-Aires, Argentina. Tôi đã học được biết bao điều từ họ! Chính từ các tu sĩ này mà tôi đã khám phá ra thế nào là trao ban chính mình, ý nghĩa của sự đơn sơ, tình yêu đối với Đức Giêsu và Mẹ Maria, đời sống tu trì và sự thánh thiện! Ngoài những kỷ niệm về lớp học, tôi còn lưu giữ trong ký ức nhiều hình ảnh khác nữa về đời sống huynh đệ của họ trong cộng đoàn: khi họ cùng tham gia các trò chơi, thể thao hay giải trí với chúng tôi; họ thực hành sự thinh lặng để nghiên cứu, chuẩn bị lên lớp; buổi tối, chúng tôi xếp hàng dài cùng đi bộ suy niệm kinh Mân côi trong sân trường rộng mênh mông không có một tiếng ồn ào nào của các học sinh, kết thúc một ngày học tập…

Để kéo dài trong trái tim anh em những điều đã được ghi khắc trong trái tim tôi, tôi xin giãi bày với anh em là trong những năm này, lần đầu tiên tôi cảm nhận một suy nghĩ về ơn gọi. Khi mới lên 10 tuổi, tôi đã tâm sự với mẹ tôi ước mơ muốn làm “một người như các tu sĩ ấy”: một người Anh Em (chữ anh em viết hoa!). Trong giai đoạn này, tôi nhận được món quà là cuốn hạnh thánh đầu tiên của tôi “cuộc đời của một vị thánh”: “Người tu sĩ quét nhà – Cuộc đời thánh Martinô Porres”. Người tu sĩ Đa Minh này một cách nào đó đã ghi dấu ấn trên ơn gọi của tôi, và Thiên Chúa quan phòng đã muốn rằng tập viện thuộc Tỉnh dòng Argentina nơi tôi bắt đầu năm tập vào tháng 02/1980, mang tên vị thánh này.

Kể từ dịp lễ mừng 800 năm thành lập cộng đoàn chiêm niệm Đa Minh đầu tiên tại Prouilhe, chúng ta đang sống khoảnh khắc sung mãn trong niềm hy vọng, trên đường tiến về ngày mừng kỷ niệm 800 năm Dòng được đức Hônôriô III châu phê (22/12/1216).

Đọc lại lịch sử thánh Đa Minh, chúng ta nhớ là vào tháng 03/1206 khi các vị đặc sứ do đức giáo hoàng Innocente III triệu tập để đi rao giảng ở miền Nam nước Pháp nhằm chống lại “lạc thuyết Albi” hoặc “Cathar”, đã có mặt ở Montpellier; các ngài họp công nghị với các hồng y và giám mục trong vùng. Trong cuộc họp, họ đón tiếp đức cha Diego, giám mục thành Osma ở Castille với vị tuỳ tùng là Đa Minh Guzman, phó bề trên kinh sĩ đoàn nhà thờ chính toà. Đã nghe biết vị giám mục nổi tiếng xứ Castille, nên các đặc sứ của đức giáo hoàng trao đổi với ngài về cách thức làm sao đối phó hiệu quả hơn với lạc giáo. Quan sát đoàn thừa sai đông đảo, đức cha Diego đề nghị các ngài một hình thức rao giảng mang tính tông đồ bằng sự nghèo khó Tin mừng cùng với sự khổ chế, đồng thời nhấn mạnh đến sức mạnh của gương sáng. Đức cha Diego và cha Đa Minh bắt đầu thực hành cách sống này, từ chối tất cả mọi thứ dấu hiệu quyền lực bề ngoài. “Theo cha Giođanô Saxonia, từ đó trở đi, Đa Minh chỉ để cho người ta gọi mình là tu sĩ (frère, người anh em. ND.), chứ không còn gọi là phó bề trên kinh sĩ đoàn nữa.”[2]

Chính trong tư cách người anh em giữa những người anh em, mà tôi viết những trang này giống như một suy tư được phát biểu lớn tiếng. Tôi mời gọi anh em chiêm niệm hơn nữa về “viên ngọc quý” hoặc “kho tàng” của Dòng, để khám phá ra chiều rộng và chiều dài, chiều cao và chiều sâu của tình huynh đệ Đa Minh.

Thiên Chúa là một mà cũng là ba (khuôn mẫu của “gia đình” và của “cộng đoàn”), Hữu Thể của Người tự bày tỏ một cách phong phú – cách thông dự – qua công trình tạo dựng, chứ không phải hoà lẫn hoặc “hoà tan” trong sự hiện hữu của các thụ tạo. Thiên Chúa bày tỏ chính mình qua công trình tạo dựng, qua lịch sử cứu độ, qua nhiệm cục ân sủng… bằng những cách thức khác nhau nhưng giống nhau, tương tự nhau!

Chúng ta đọc thấy trong thư gửi tín hữu Hípri: “Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy với cha ông chúng ta qua các ngôn sứ; nhưng vào những ngày sau hết này, Thiên Chúa đã phán với chúng ta qua một Người Con, mà Thiên Chúa đã đặt làm người thừa hưởng muôn vật, và cũng nhờ Người Con ấy mà Thiên Chúa đã dựng nên vũ trụ” (Hr 1,1-2). Chính Người Con đã mặc khải Chúa Cha cho chúng ta và dạy chúng ta gọi Cha là Abba với lòng yêu thương như chính Người đã gọi như thế. Chính Người Con nhắc nhở chúng ta: “Tất cả anh em đều là anh em với nhau” (Mt 23,8).

Trên con đường tiến về năm 2016, sự quan phòng mời gọi chúng ta mừng trong năm tới biến cố trọng đại của lịch sử Dòng chúng ta: 500 năm thành lập cộng đoàn đầu tiên của chúng ta tại Mỹ châu, vào năm 1510 trên hòn đảo Hispaniola (ngày nay chia thành nước Cộng hoà Dominica và Haiti). Không cần phải nhấn mạnh đến tầm quan trọng này là: tất cả chúng ta đều ghi nhớ sức mạnh lời rao giảng của các anh em đã làm nên cộng đoàn này, dưới sự điều động của tu viện trưởng là anh Pedro de Cordoba.

Các anh em thần học gia của chúng ta tại Salamanca đã suy tư một cách nghiêm túc về tất cả những thách đố nảy sinh từ công cuộc rao giảng Tin mừng tại “Tân thế giới”. Anh em truyền giáo của chúng ta tại Mỹ châu đã ghi nhận và nói lên một cách chính xác những thách thức, còn các giáo sư lại đóng góp những yếu tố để biện phân. Tất cả các anh em đó đều là anh em với nhau, không phân biệt giáo sư hay truyền giáo. Tình huynh đệ Đa Minh ôm ấp cả những người đang phải chịu đàn áp và bạo lực (những cư dân xuất thân từ thế giới mới, đã bị coi là nô lệ) và cả các môn sinh hoặc sinh viên của các giáo sư Salamanca.

Những lý tưởng của cuộc Cách mạng Pháp, vốn đã gây ảnh hưởng rất lớn lên những người đòi theo khuynh hướng độc lập của các quốc gia Mỹ châu, có thể được tóm lại bằng châm ngôn nổi tiếng “tự do, bình đẳng, huynh đệ”: mặc dù trong bối cảnh bài giáo sĩ, nhưng phải nhìn nhận rằng – như lời của đức giáo hoàng Gioan Phaolô II – câu châm ngôn này đã trình bày những giá trị cao đẹp, đặc biệt mang tinh thần Kitô giáo. Và điều đó hoàn toàn hợp lý bởi vì nền văn hóa của cả Âu châu đều đã được nuôi dưỡng và thành hình trong niềm tin của các tông đồ. Thường họ muốn chống đối Giáo hội, nhưng những anh hùng của cuộc cách mạng Pháp chắc chắn là những người mắc nợ tinh thần này.[3]

Từ năm 1220, Dòng luôn tìm cách để phân định ý nghĩa của đời sống huynh đệ và sứ vụ của Dòng trong những bối cảnh mới về văn hoá, lịch sử và địa lý, trong một thế giới không ngừng thay đổi. Qua mọi thời, các Tổng hội đã cố gắng bắt mạch thế giới và Dòng, bằng cách quan sát sự phát triển của các nước nơi anh em chúng ta hiện diện, suy nghĩ cùng với Giáo hội, và cảm nhận bằng chính con tim của Giáo hội, vì thánh Đa Minh đã muốn công trình của mình được vun trồng in medio Ecclesiae, ngay giữa lòng Giáo hội. Ngay từ Tổng hội năm 1256, các anh em họp tại Paris đã tuyên bố: chớ gì anh em chúng ta được gọi là anh em giảng thuyết chứ không phải danh xưng nào khác (Quod fratres nostri vocentur fratres praedicatores et non aliis nominibus).[4]

Trong những thập niên gần đây, các Tổng hội được hứng khởi bởi giáo huấn của Giáo hội,[5] đã nghiên cứu và xác định đời sống tu trì cũng như đời sống huynh đệ của chúng ta là trong cộng đoàn.[6] Các vị Tổng quyền gần đây cũng đã gửi thư hoặc những sứ điệp quan trọng cho chúng ta với đề tài giống như thế.[7]

Tôi không có ý định trình bày ở đây một khảo luận có hệ thống về “tình huynh đệ Đa Minh”. Những tài liệu trích dẫn đều phục vụ cho mục đích là tóm lược sự tiến triển của chủ đề này trong lịch sử Dòng. Tuy nhiên, tôi muốn chúng ta hãy tự hỏi: “Ngày hôm nay, làm một người anh em có nghĩa là gì?” và anh em hãy suy tư về một số khía cạnh trong đời sống huynh đệ của chúng ta. Tôi xin sử dụng “hình ảnh Kinh thánh” để trình bày, những hình ảnh này sẽ giúp chúng ta cầu nguyện, suy ngẫm, suy tư và trả lời cho câu hỏi trên. Vì thế, tôi mời gọi anh em cùng tôi khám phá một số yếu tố của bối cảnh bên trong đời sống huynh đệ của chúng ta, được hướng dẫn bởi một người “anh em” rất đặc biệt: Ông Giuse, con của ông Giacóp, “người hay chiêm bao”.

Ông Giuse (người hay chiêm bao)

Câu chuyện của ông Giuse phụ thuộc hoàn toàn vào câu chuyện của người cha là tổ phụ Giacóp. Cái chết của ông vừa là hồi kết của lịch sử các tổ phụ vừa là mở đầu cho thời kỳ Xuất hành. Tên ông không được nhắc đến khi Thiên Chúa tự mặc khải trong công thức “Thiên Chúa của Ápraham, của Ixaác và của Giacóp”. Trong cuộc đời ông, không có những lần can thiệp ngoạn mục của Thiên Chúa; không có những lần đối thoại thân mật với Thiên Chúa, như các tổ phụ của ông là Ápraham, Ixaác và Giacóp; ông cũng không đón nhận bất kỳ mặc khải mới nào hoặc một lời khẳng định về lời hứa của Thiên Chúa. Tuy nhiên, Thiên Chúa hiện diện trong mọi biến cố của cuộc đời ông, thậm chí đã sử dụng tội lỗi của con người để mang lại điều thiện hảo cho “người anh em” này của chúng ta. Hơn nữa, qua cuộc đời ông Giuse, Thiên Chúa đã kín đáo chuẩn bị cho việc thiết lập dân tuyển chọn, một dân tộc gồm những người anh em; dân tộc mà Người sẽ dẫn đến tự do. Tình huynh đệ và sự tự do chẳng phải là những đặc tính cơ bản trong ơn gọi của chúng ta hay sao?

Kinh nghiệm hằng ngày dạy cho chúng ta biết rằng: tội lỗi làm chúng ta xa lìa Thiên Chúa và đối nghịch với Người; nó làm chúng ta xa lìa và đối nghịch với anh em của chúng ta; nó làm chúng ta xa lìa công trình tạo dựng và đối nghịch với công trình đó. Trong nhiều hoàn cảnh mà chúng ta đang sống, vết thương hoặc sự chia tách này đạt đến những cấp độ không thể tưởng tượng nổi do sự u mê tức là sự mù lòa của con người. Hình như những lời nói cao ngạo và thù hận đang vang lên ngay đâu đây trong thời hiện đại này như lời của Laméc nói với vợ mình là Ađa và Xila! “Vì một vết thương, ta đã giết một người, vì một chút sây sát, ta đã giết một đứa trẻ. Cain sẽ được báo thù gấp bảy, nhưng Laméc thì gấp bảy mươi bảy!” (St 4,23-24).

Với lịch sử của các tổ phụ, ba sự chia lìa trên lần lượt bắt đầu được “nối kết lại” và những vết thương dần dần được chữa lành. Đức tin vâng phục của Ápraham nối lại tương quan với Thiên Chúa. Giacóp làm hoà với anh mình là Exau. Giuse, trong sự đơn sơ và thường xuyên hiện diện với Thiên Chúa, đã làm hoà với anh em mình và đã biết cách làm sao để xây dựng mối tương quan quảng đại với những của cải của công trình tạo dựng, một cách công bằng, bình đẳng và khôn ngoan. Quả vậy, ông Giuse là một người lương thiện, trung thành và không tham lam, là người sẵn sàng tha thứ. Ông ấy xử lý một cách công bằng những vấn đề xã hội và chính trị qua việc phân phối đồng đều của cải và cung cấp lương thực cho mọi người.

1/ Những giấc mơ của ông Giuse (những giấc mơ của chúng ta)

Ông Giuse được gọi là “người hay chiêm bao” với hàm ý coi thường. Các anh của ông có vẻ thù ghét ông, họ cố không nhận ra ông, thậm chí là không chào hỏi ông. Ông Giuse chiêm bao và kể lại cho các anh những giấc mơ của mình, nhưng các anh của ông không hiểu những giấc mơ đó có ý nghĩa gì, họ chế nhạo ông và loại trừ ông.

Chủ đích của chúng ta không phải là giải thích hay nghiên cứu thế giới của những giấc mơ, nhưng chúng ta dùng kiểu nói “những giấc mơ” để đối chiếu với những hoài bão, những chờ đợi của chúng ta…, niềm hy vọng của chúng ta! Cuộc sống thường ngày khiến chúng ta dần dần không còn mấy để tâm đến những giấc chiêm bao nữa: thường thường chúng đánh lừa giống như những ảo vọng, phù phiếm, phù vân! Tuy nhiên, mặc dù cũng chia sẻ nguyên tắc này, nhưng sách Huấn ca khẳng định trường hợp ngoại lệ: “Nếu (những giấc mơ) đó không phải do Đấng Tối Cao muốn viếng thăm mà gửi tới, thì con đừng để tâm làm gì” (Hc 34,1-7).

Tất cả chúng ta đều bước vào đời tu trì với con tim đầy ắp những ước mơ. Vấn đề đặt ra là: Chúng ta đã làm gì với những ước mơ đó? Những ước mơ đó đã trở thành cái gì? Tại sao lại dễ dàng từ bỏ những ước mơ đó đến vậy?

Trở lại trình thuật, các anh ông Giuse không hiểu những giấc mơ của ông ấy và họ ghen tức với ông vì ông được cha yêu mến hơn. Đối với họ, những giấc chiêm bao của ông Giuse đúng hơn là những cơn ác mộng. Điều đó đôi khi cũng xảy ra trong các cộng đoàn chúng ta. Các anh của ông Giuse hình như đã giải thích những giấc chiêm bao của ông theo kiểu “cạnh tranh”. Điều này thường xảy ra một khi chúng ta sống mối tương quan huynh đệ chỉ để “thăng tiến” hoặc “trừng phạt”. Trong viễn tượng này, chúng ta dường như hay lo lắng để biết “ai là người lớn nhất”, như đã xảy ra với các môn đệ của Đức Giêsu (x. Lc 9,46).

Mặc dù Giuse được cha mình yêu mến hơn, nhưng ông Giacóp cũng không hoàn toàn hiểu rõ ông. Bởi vì ông Giacóp “ghi nhớ điều này trong lòng” một cách đơn giản (như trường hợp Đức Maria, mẹ Đức Giêsu khi các mục đồng đến viếng thăm sau khi hài nhi giáng sinh; hoặc khi cùng chồng là ông Giuse – lại thêm một con người đang giấu kín những giấc mơ và ác mộng –, Mẹ gặp lại Đức Giêsu trong đền thờ giữa những người thông luật).

Các cuộc họp của chúng ta như tu viện hội, Tỉnh hội hoặc Tổng hội thông thường là một dịp để chúng ta cùng chất vấn, và cùng nhau tìm kiếm những lời giải đáp. Khởi đầu lịch sử cứu độ (sau tội nguyên tổ và sau vụ thảm sát huynh đệ đầu tiên), Thiên Chúa đặt ra hai câu hỏi, một cho Ađam và một cho Cain. Mỗi người trong chúng ta và toàn Dòng đều phải trả lời cho những câu hỏi này vào thời điểm phong phú hiện nay mà chúng ta đang được diễm phúc sống: “ngươi ở đâu?” (St 3,9); “em ngươi đâu rồi?” (St 4,9).

Dòng sắp nhóm họp Tổng hội.[8] Anh em từ mọi miền trên toàn thế giới sẽ lại gặp nhau để trả lời cho những câu hỏi này. Các nghị huynh sẽ nhận được từ các cộng đoàn của chúng ta một loại “nhiệm vụ” giống như nhiệm vụ mà Giacóp đã giao cho người con yêu dấu của mình: “Con hãy đi xem các anh con có được yên lành không, xem chiên dê có được yên lành không, rồi đem tin về cho cha” (St 37,14). Ông Giuse, giống như những người hay mơ mộng, cứ đi “luẩn quẩn trên cánh đồng” mà không xác định được phương hướng. Trong câu chuyện sách Sáng thế, có ai đó đã đưa ông Giuse trở về với hiện thực bằng cách hỏi: “Anh tìm gì đấy?” Ông Giuse trả lời: “Tôi đang tìm các anh tôi. Xin làm ơn chỉ cho tôi biết họ đang ở đâu…?” (St 37,15-16). Không cần trích dẫn nhiều, tôi tin rằng hai câu hỏi này đã cho ta một cái khung giúp hiểu sâu hơn đời sống và ơn gọi của “người hay mơ” (đời sống và ơn gọi mà những năm sau đó ông Giuse sẽ khám phá rõ ràng hơn, sâu sắc hơn và thực tế hơn). Tôi xin nhắc lại, đây là những câu hỏi mà chúng ta đang đặt ra ngày hôm nay và cũng là những câu hỏi mà Tổng hội sẽ cố gắng trả lời.

Các anh của ông Giuse thấy ông ở đằng xa liền nói: “Thằng tướng chiêm bao đang đến kia… Và “rồi ta sẽ thấy các chiêm bao của nó đi tới đâu!” (St 37,19-20).

Đời sống tu trì mang lại cho chúng ta khả năng chia sẻ cho người khác những ước mơ của chúng ta, chính vì “những người khác đó là anh em của chúng ta!” Chúng ta có kể cho anh em về những ước mơ của chúng ta? Điều gì ngăn cản chúng ta làm như thế nhỉ?

Giống như biết bao nam nữ tu sĩ khác, chúng ta đã chọn một lối sống; và lối sống này mặc dù có tuân giữ một số kỷ luật “tu trì” hoặc “đan tu” (x. LCO số 39-40), nhưng không bó buộc chúng ta vào một vị trí, một trách nhiệm, một nơi chốn, một sứ vụ nào đó… Chúng ta là những người lữ khách và lữ hành, những người đi ăn mày chân lý. Người lữ hành, sống theo lối sống của các tông đồ, biết rằng mình đã được sai đi và vì thế họ biết họ đang đi đâu. Họ tin tưởng vào người đã sai họ đi, nên họ yêu mến nơi họ được gửi đến. Khi chúng ta đến một tu viện mà “chúng ta không thể” hoặc “không muốn” trình bày những ước mơ của chúng ta cho anh em mình, thì chúng ta có nguy cơ trở thành những kẻ lang thang (không có định hướng và không có mục đích); những người chạy trốn (có thể chạy đi tìm kiếm ai đó ngoài tu viện để lắng nghe chúng ta); hoặc những người xa lạ qua đường, những người khách trong chính ngôi nhà của mình (chúng ta đánh mất những tiêu chuẩn đối chiếu và chúng ta không biết là phải hành xử làm sao).

Ông Giuse đau khổ vì bị các anh mình từ bỏ. Mặc dù không hiểu những gì xảy ra cho ông, nhưng dần dần ông nhận ra rằng Thiên Chúa không bỏ rơi ông. Thực tế là Thiên Chúa quan phòng đã dẫn dắt ông một cách mầu nhiệm.

Ông Giuse là một người chăn chiên giống như các anh mình. Chúng ta tất cả cũng có ơn gọi giống như thế: tất cả chúng ta đều là những anh em giảng thuyết. Khi người ta làm cùng một công việc giống nhau, thường người ta khó chấp nhận có ai đó khác biệt, nổi bật. Đây là một thách đố rất lớn. Chúng ta đang sống trong một thời đại mà hình như có một thứ “chủ nghĩa vị kỷ cá nhân” nào đó núp bóng dưới “chiếc mặt nạ của đoàn nhóm”. Nó tạo nên những nhóm khép kín, phe phái, băng đảng hoặc những fans (cổ động viên, tifosi, hooligans). Những nhóm này thậm chí còn đi đến chỗ rập theo từng chi tiết những thói quen và lối sống, để tạo nên những thần thoại mới. Chúng chỉ chấp nhận sự khác biệt làm cho chúng trở nên giống nhau, và bằng nhiều cách, chống lại những ai “không thuộc về nhóm” của chúng, giống như trường hợp vị tông đồ trẻ và hơi bất khoan dung là Gioan (x. Lc 9,49; 9,54)!

Trong đời sống cộng đoàn, những thái độ này thường được diễn tả bằng những câu như “ở đây, người ta luôn làm như thế đấy”; “nếu anh không cảm thấy thoải mái thì anh có thể ra đi”. Thật là kỳ khôi thậm chí là ngược đời. Trong khi ơn gọi tu trì ngày nay đang thiếu (ít là tại một số quốc gia hoặc vùng), chúng ta cầu xin Chúa gửi đến cho chúng ta nhiều ơn gọi thánh thiện, thì chúng ta lại dò xét nhau cứ như thể dưới một cái kính hiển vi (đương nhiên tôi không nói đến việc phải có những phân định cần thiết về ơn gọi). Thậm chí chúng ta có thể nghĩ rằng có lẽ sẽ hạnh phúc hơn nếu “những người đó” không đến với chúng ta mang theo một balô đầy những câu hỏi, ước mơ, hoài bão cũng như cách thức sống làm “người anh em” của họ.

Trong bối cảnh đó, tôi tự hỏi: Ngày nay, tại sao chúng ta còn muốn có thêm những anh em giảng thuyết? Vào thời điểm này của lịch sử, chúng ta còn đủ can đảm để đón tiếp những anh em có một đam mê cháy bỏng về Thiên Chúa và về Tin mừng như trường hợp những người mà chúng ta đã khâm phục trong quá khứ hay không?

2/ Những giấc mơ của những người khác (những giấc mơ của anh em chúng ta)

Chúng ta đã biết câu chuyện của ông Giuse và các anh ông. Họ tấn công ông và bán ông cho các thương nhân… Tuy nhiên, Đức Chúa luôn ở với ông. Trong cuộc đời ông Giuse, câu này sẽ được lặp đi lặp lại như một điệp khúc, như một kinh cầu.

Cuối cùng, Giuse được bán cho Potiphar, một trong những cận thần của Pharao. Potiphar nhanh chóng nhận ra những năng khiếu và phẩm chất của Giuse và đã đặt ông làm người thân tín, để ông coi sóc nhà cửa và giao phó cho ông quản lý gia sản của mình…

Thật không may cho những người hay mơ lại được đặt làm quản lý! Tuy nhiên, việc bổ nhiệm này lại giúp người anh em là ông Giuse học được cách “tiếp đất”, tức là đưa những giấc mơ về thực tế, nhập thể cho giấc mơ. Qua năm tháng, chúng ta được giao những nhiệm vụ khác nhau trong cộng đoàn và trong các cơ cấu tổ chức, nhờ đó, chúng ta dần dần nhập thể những giấc mơ của mình. Mỗi một cuộc gặp mặt anh em (các công nghị) phải giúp chúng ta trở lại với câu hỏi mà chúng ta đã đặt ra: Chúng ta đã làm gì với những ước mơ mà chúng ta mang vào đời sống tu trì? Chúng ta đã làm gì với tình yêu thuở ban đầu của chúng ta (x. Kh 2,4)?

Tính lương thiện của ông Giuse không được thưởng công xứng đáng, một lần nữa ông lại bị rơi vào một vụ dối trá. Chúng ta biết điều gì xảy ra với bà vợ của Potiphar. Tôi không nói về những cám dỗ nảy sinh khi những giấc mơ của chúng ta, tình yêu thuở ban đầu của chúng ta, phai nhạt dần theo năm tháng, do công việc chiếm hết thời gian của chúng ta… do cái thường nhật của mỗi ngày! Tôi chỉ muốn dừng lại ở hai khía cạnh liên hệ chặt chẽ với ý nghĩa hiện nay của tình huynh đệ Đa Minh.

Khi đi kinh lý các Tỉnh dòng và các cộng đoàn, tôi rất kinh ngạc khi thấy chúng ta quá dễ dàng dựa vào các lời tố cáo và buộc tội, nhất là để xét đoán những con người và ý định của họ. Chúng ta thường lợi dụng điều này để biện minh cho chính mình hoặc để chạy trốn khỏi những vấn đề hoặc biến cố đang xảy ra. Chúng ta sử dụng những lời cáo buộc đó để tránh xa những gì đang xảy ra cho người anh em chúng ta, hoặc những điều đang xảy ra cho chúng ta! (chúng ta không xa lạ gì với chủ nghĩa duy cơ muốn phóng dội những lo lắng của chúng ta lên những người khác).

Tôi nhớ lại những từ được sách Khải huyền sử dụng để mô tả công trình của Ma quỷ: “kẻ tố cáo anh em của ta, ngày đêm tố cáo họ trước toà Thiên Chúa” (Kh 12,10). Ngược lại, thư thứ nhất của thánh Gioan lại an ủi và luôn khuyến khích chúng ta bởi vì “nếu ai phạm tội, thì chúng ta có một Đấng Bảo Trợ trước mặt Chúa Cha: đó là Đức Giêsu Kitô, Đấng Công Chính” (1Ga 2,1). Chúng ta đóng “vai trò” gì đối với anh em chúng ta: là người tố cáo hay người bênh vực?

Ông Giuse bị giam trong tù… Tuy nhiên, Đức Chúa luôn phù trợ ông và bày tỏ lòng nhân hậu với ông. Thực vậy, Đức Chúa làm cho ông Giuse đẹp mắt viên cai ngục, ông này giao phó cho Giuse trông coi tất cả tù nhân. Từ đó, ông chịu trách nhiệm về mọi việc. Viên cai ngục không hề đoái hoài đến những gì mà y đã giao phó cho Giuse, bởi vì “Đức Chúa luôn phù trợ ông và làm cho những công việc của ông được thành công”. Hình như người hay mơ này đã dứt khoát bỏ quên “vai trò” của người hay mơ để trở thành một người quản lý tốt. Chúng ta biết thế nào là điều hành tốt: là cho người ta điều họ cần – chứ không nhất thiết phải là “điều họ xin”!

Cho đến lúc này, ông Giuse không được trả lương theo lẽ công bằng. Ông đã gặp sự thù hận của các anh mình; rồi tại nhà Potiphar, ông đã bị đối xử rất tồi tệ vì lòng trung thành của mình. Thế nhưng, Giuse là một người công chính. Trong Cựu ước, công chính là nhân đức trổi vượt, đức công chính mang các chiều kích của “sự thánh thiện”. Chúng ta dừng lại một chút về đức công chính của ông Giuse.

Những nguyên tắc căn bản của luật, được cho là của luật gia Ulpianô[9] rất nổi tiếng: Sống lương thiện, không làm hại ai, của ai trả cho người nấy (honeste vivere, alterum non loedere, suum cuique tribuere). Dựa theo truyền thống cổ điển La mã này, thánh Tôma Aquinô khẳng định rằng người công chính là người thực thi đức công bằng. Tuy nhiên, “là công chính” không có nghĩa là hành động theo đức công bằng trong một số trường hợp đơn lẻ. Khi nói về đức công bằng là chúng ta muốn nói đến ý chí kiên vững quyết trả cho mỗi người cái gì là của họ, cái thuộc về họ, theo quyền lợi của họ. Vì vậy, một trong những đặc tính chính yếu của đức công bằng là “tha tính” (altérité), sự hiện diện của “tha nhân”. Đức công bằng luôn luôn đòi hỏi mối tương quan với người khác. Đức công bằng hướng đến người khác (ad alterum) là sự biểu hiện tuyệt vời của đức chính trực toàn vẹn của ngôi vị, vì ngôi vị bao hàm tất cả mọi tương quan của con người với người khác, cách thức con người sử dụng sự vật, cũng như tương quan với chính mình. Đây là điều mang lại cho đức công bằng mối liên hệ với “sự thánh thiện”.

Anh Giođanô Saxonia giúp chúng ta diễn dịch điều đó theo ngôn ngữ và lối sống của Dòng. Theo Đời sống Anh em (Vitae Fratrum) do anh Gerard de Frachet biên soạn, có lần một giáo dân hỏi anh Giođanô Saxonia là anh đã tuyên khấn sống theo tu luật nào, anh trả lời: “Luật của anh em giảng thuyết là thế này: sống một cách lương thiện, nghiên cứu và giảng dạy (honeste vivere, discere et docere); đó chính là ba điều mà vua Đavít đã xin Chúa khi vua nói “xin dạy con lòng tốt, tri thức và kỷ luật” (Tv 118,66).”[10]

Trở lại với câu chuyện của “người hay chiêm bao”, chúng ta thấy rằng khi ông Giuse còn đang bị giam tù, thì hai vị cận thần của vua Aicập bị tống ngục: quan chước tửu và quan ngự thiện (những người hàng ngày dâng rượu và bánh cho Pharao).

Đêm đó, cả hai người đều chiêm bao, giấc mơ của mỗi người có ý nghĩa riêng. Hình như ông Giuse từ ít lâu đã không còn chiêm bao nữa (hoặc ít nhất là ông đã không còn can đảm kể cho người khác về những giấc mơ của mình). Kinh nghiệm đã dẫn ông đến một thực tế đau thương: sự thù hận của các anh, sự dối trá của bà vợ Potiphar, rồi bị tống ngục… quá nhiều sự lừa dối, tố cáo rồi bị kết án!

Trong những lần kinh lý các Tỉnh dòng và cộng đoàn khác nhau, và khi đọc lại các Công vụ Tổng hội, tôi thật thích thú khi quan sát cách anh em truyền đạt những thực tại anh em đang sống. Một số hoàn cảnh rất giống với những cơn ác mộng thực sự; một số hoàn cảnh khác lại cho thấy những kinh nghiệm ơn gọi quý báu, làm rộn ràng con tim và chúng ta dám mơ về một tương lai sáng ngời hơn.

Ông Giuse là một người quản trị. Khi quản trị “vì người khác”, lưu tâm đến “nhu cầu của người khác”, ông học được hoặc khám phá ra rằng trong giai đoạn này, kể cả khi bị ngồi tù, người khác cũng có khi hạnh phúc khi sầu khổ, cũng có những giấc mơ hoặc gặp những cơn ác mộng.

Là người bị giam tù, Giuse đã nghìn lần tự hỏi về ý nghĩa câu chuyện cuộc đời mình. Tuy nhiên, ông không tự khép kín trong những suy nghĩ riêng, tê liệt trong chủ nghĩa cá nhân khô cằn. Ngược lại, ông chia sẻ với các bạn tù, để ý và quan sát, và hình như chỉ có ông nhìn thấu những khuôn mặt lo âu của các viên cận thần vua Pharao. Ông hỏi họ: “Sao hôm nay mặt các anh buồn thế?” (St 40,7). Không phải trêu chọc hay quở trách, nhưng là một nhận xét quan trọng, đặc biệt trong nhà tù. Còn có thể có bộ mặt nào khác khi người ta bị mất tự do? Nhưng Giuse còn nhìn thấy xa hơn thế. Thực sự là không có một câu hỏi nào giản đơn và bình thường hơn câu hỏi này: tại sao anh lại có vẻ mặt buồn như vậy? Cuộc sống như thế thì chán biết bao! Cuộc sống cộng đoàn thường ngày làm cho chúng ta quen với những câu nói như thế, những câu nói rất bình thường nhưng cũng chất nặng cuộc sống. Có những cuộc đối thoại bắt đầu rất tầm thường nhưng kết thúc lại hết sức phong phú. Chúng ta biết lời xin đơn sơ của Chúa Giêsu với người phụ nữ Samari: “Chị cho tôi xin chút nước uống” (Ga 4,7), hoặc khi Đức Giêsu hỏi các môn đệ trên đường đi Emmau: “Các anh vừa đi vừa trao đổi với nhau về chuyện gì vậy?” (Lc 24,17). Chúng ta đã biết cả hai cuộc gặp gỡ đó kết thúc thế nào. Những câu chuyện đó mang nhiều ý nghĩa về ơn gọi.

Những bạn tù của Giuse trả lời: “Chúng tôi đã chiêm bao, mà không có ai giải thích cả.” Ông Giuse khiêm tốn nhìn nhận: “Giải thích chẳng phải là việc của Thiên Chúa sao? Nhưng xin hai ông cứ kể lại cho tôi” (St 40,8). Ông Giuse không phải là người duy nhất hay chiêm bao. “Những người khác” cũng có những giấc mơ (hoặc ác mộng)! Khi Giuse còn trẻ, chúng ta thời trẻ cũng vậy, mong muốn người khác dành thời giờ lắng nghe những giấc mơ của mình, nhưng như thế chưa đủ,… đến lúc chúng ta cần không những khám phá ra “sự hiện hữu” và/hoặc “sự hiện diện” của người khác, nhưng nhất là phải quan tâm đến những gì đang xảy ra; điều rất quan trọng là phải nhận ra rằng anh em chúng ta cũng có những ước mơ và những dự phóng.

Điều hết sức quan trọng là cần nhận ra những ước mơ của những người khác! Tôi muốn nói riêng đến những ước mơ của anh em chúng ta, những ước mơ của những người sống với chúng ta, và của tất cả những ai cách này cách khác chia sẻ cuộc sống với chúng ta, học trò hoặc đồng nghiệp, những người nghe chúng ta giảng, và những anh em giảng cho chúng ta. Tôi nghĩ về những ước mơ của những người mà chúng ta gọi là “những người bình dân”. Mở rộng vòng tròn tương quan, còn phải nhận ra những khuôn mặt và những ước mơ của những người mà chúng ta muốn phục vụ…

Chắc chắn là chỉ có Thiên Chúa mới có thể “giải thích” ý nghĩa của những giấc chiêm bao, nhưng chúng ta biết Thiên Chúa muốn chúng ta là những dụng cụ của Người. Hiểu, nắm bắt và quan sát những gì xảy đến cho anh em chúng ta (những ước mơ, mong đợi, hoài bão, sợ hãi và lo lắng của họ), đòi hỏi từ phía chúng ta phải biết thinh lặng và kiên nhẫn (hoà bình và nhận thức); lắng nghe và quan tâm; khôn ngoan và ngoan ngoãn; ý nghĩa của mầu nhiệm, cái thánh thiêng trong cuộc sống của người khác.

Khôn ngoan là một nhân đức luân lý cơ bản, nó là một người hướng dẫn và là một thầy dạy. Nhưng để khôn ngoan thì người ta phải ngoan nguỳ, dễ bảo. “Tính dễ bảo” (docilitas), là một phần của nhân đức khôn ngoan, chủ yếu không cốt ở việc chấp nhận điều người khác nói cho chúng ta, nhưng cốt ở việc “biết cách để cho người khác nói cho chúng ta điều gì đó”.

Chúng ta biết điều gì đã xảy ra cho ông Giuse. Người hay chiêm bao trước kia, bây giờ lại giải thích những giấc chiêm bao của các bạn tù (đối với người này, đó là một giấc mơ và được trở lại với cuộc sống; còn đối với người kia là ác mộng và cái chết). Những lời tiên đoán này đã ứng nghiệm. Giuse xin viên quan chước tửu đừng quên ông khi được ra khỏi tù, … nhưng viên quan này đã quên mất (sao người ta lại dễ quên những giấc chiêm bao dễ dàng thế nhỉ!) Một lần nữa ông Giuse lại phải đau khổ về thể xác bởi sự lãng quên của người khác.

Trong đời sống cộng đoàn và tông đồ của chúng ta, có biết bao khó khăn làm chúng ta đau khổ. Đó là những kinh nghiệm của sự tự do bị giới hạn do những cảnh huống khác nhau trong đời sống như nhiệm vụ, công việc, mối bận tâm, những bệnh tật thể lý hoặc tâm lý hay nỗi đau tinh thần nào đó, không được thông cảm, những hiểu lầm, v.v…

Dưới ánh sáng của kinh nghiệm đau khổ mà ông Giuse phải chịu, chúng ta có thể xem xét những thái độ của mình trong mối tương quan với anh em chúng ta. Vì Giuse cũng là một người anh em giống như chúng ta. Khi gặp những nghịch cảnh, ông không đóng vai trò của một nạn nhân liếm những vết thương của mình. Tại sao chúng ta lại hay có thói quen tố cáo người khác về điều xảy ra cho chúng ta cứ như thể họ là những người duy nhất phải chịu trách nhiệm hoặc phải mang tội về số phận của chúng ta? Giuse cũng không dung túng cho một tình cảm bi thảm về cuộc sống. Còn chúng ta đã chẳng cố ý làm cạn kiệt hay dứt bỏ tình huynh đệ, bằng những ca cẩm vô bổ, chẳng hạn như “cuộc sống chẳng có ý nghĩa gì”, hoặc “tôi đã chẳng nói với anh như thế sao?”. Đôi khi chúng ta giống như những tiên tri về những điều tai ác, thích thú vì mình có lý, hơn là quan tâm đến những gì có thể xảy ra. Giuse đã không quy những khó khăn mà ông gặp phải về câu hỏi “lỗi” do ai, (của ông và/hoặc của người khác) hoặc câu hỏi “tội” của ai. Chúng ta đã chẳng có khuynh hướng nhận lấy cho mình hết lỗi lầm đó hay sao, với hy vọng xảo quyệt là lôi kéo lòng trắc ẩn của người khác? Có phải chúng ta tin rằng mọi sự xảy ra cho chúng ta là lỗi lầm của ai đó? Ông Giuse không dung túng trong lòng mình một mong muốn trả thù hay hận thù nào. Điều gì xảy ra khi chúng ta bị cám dỗ bắt chước Herodiade, người tình của Herode, đòi lấy đầu của kẻ thù chúng ta đặt trên mâm, những kẻ thù bị coi như cản trở cuộc sống thoải mái hay hạnh phúc của chúng ta! Có buồn không khi chúng ta trình bày sự đau khổ của chúng ta, sự bạo hành thể lý hay tâm lý như một cách gây áp lực trên cộng đoàn hoặc thậm chí là để trừng phạt cộng đoàn?[11] Ông Giuse đã không phí thời gian kêu đến cấp thẩm quyền hầu làm họ xúc động. Đôi khi không vừa lòng với việc coi mình là cái rốn vũ trụ, chúng ta còn muốn tập trung cái nhìn của người khác về phía chúng ta. Đóng vai “nạn nhân” thì thật dễ chịu biết bao! Nói tóm lại, trong hoàn cảnh có vẻ không có lối thoát, nhưng Giuse, người con cưng của Giacóp đã không chọn cách tự làm tổn thương mình để lấy lòng thương hại của người khác. Ông hoàn toàn phó thác cho Thiên Chúa và sẵn sàng giúp các bạn tù bằng hết khả năng của mình. Bằng cách này, Thiên Chúa thanh tẩy con tim, trí khôn, tâm hồn và cuộc sống của ông!

Có khi chúng ta chơi trò cút bắt với anh em mình, với cuộc sống, với Thiên Chúa, bằng cách núp dưới nhiều hình thức của sự tự thương hại chính mình hoặc tự thoả mãn chính mình, ít nhiều được nguỵ trang bằng sự khiêm tốn.[12] Những thái độ như thế dần dần làm chúng ta xa cách tất cả (khỏi thực tại) và xa cách tất cả mọi người (khỏi cộng đoàn huynh đệ).

Câu chuyện bi đát của ông Giuse có vẻ bay bổng dần (crescendo). Đến lượt ông Pharao cũng chiêm bao, nhưng các nhà pháp sư và những người thông thái đất Aicập không thể tìm ra ý nghĩa của những giấc chiêm bao này! Viên quan chước tửu đã quên bẵng Giuse từ lâu, giờ đây bỗng sực nhớ đến ông; người ta cho vời “kẻ hay chiêm bao” đến để giải thích những giấc chiêm bao của người có thẩm quyền tối cao tại Aicập. Ông Giuse lại nhấn mạnh: “Không phải tôi, mà là Thiên Chúa sẽ cho câu trả lời mang lại bình an cho Pharao” (St 41,16).

Đời sống của người anh em, không có tham vọng nào khác ngoài tham vọng làm người anh em, sẽ giúp chúng ta biết lắng nghe niềm vui và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của mọi con người nam cũng như nữ trong thời đại hôm nay.[13] Biết bao nhiêu trẻ em, thanh niên, đàn ông và đàn bà, các anh và các chị đang ôm ấp những giấc mơ về những người thân của họ, về gia đình, về quê hương và dân tộc của họ! Tác vụ huynh đệ đòi hỏi chúng ta lắng nghe họ, nhận biết và giải thích những giấc mơ đó. Tại sao chúng ta lại không thỉnh thoảng tạo không gian cần thiết để anh em của chúng ta có thể kể về những ước mơ của họ? Hoàn cảnh hay thái độ nào đã ngăn cản điều này?

Pharao nhận thấy sự khôn ngoan và tài năng của Giuse và đã đặt ông làm Tể tướng, giao cho ông nhiệm vụ cai quản toàn cõi đất nước Aicập. Lúc đó Giuse mới 30 tuổi. Chúng ta có thể nói được rằng ông đã hoàn thành giai đoạn thụ huấn và “được kể như người trưởng thành, vì sẽ hướng dẫn những người khác và đảm đương nhiều phận vụ”.[14]

Vào giai đoạn này của cuộc đời, ông Giuse không để mình bị những giấc mơ thời niên thiếu lôi kéo nữa. Giờ đây, ông có thể xếp lại trang sử đầy sóng gió, cực khổ, buồn chán và đắng cay, để mở sang trang mới. Tên gọi mà ông đặt cho hai đứa con của mình nói lên ước muốn đó: Mơnase (Thiên Chúa đã làm cho tôi quên đi mọi gian khổ của tôi và tất cả nhà cha tôi) và Éphraim (Thiên Chúa đã cho tôi sinh sôi nảy nở trong xứ tôi phải chịu khổ cực).

Người quản lý tốt là người có đầu óc thực tế tuyệt vời: anh gieo và gặt, thu lượm và phân phát, trông coi và chăm nom, kiểm tra và giám sát, lượng giá và cân đong, trả lương và thu thuế. Đó là hình ảnh mà Đức Giêsu sử dụng trong nhiều dụ ngôn để nói về sự trung tín, đặc biệt chúng ta nhớ lại hình ảnh người quản gia tài năng.

Giuse là một người trung tín, và ông chứng minh điều này qua công việc của người quản gia. Ông trung tín trong những việc nhỏ cũng như trong những việc lớn. Cho đến lúc này, chúng ta đang chứng kiến một kết cục tốt đẹp và được mong đợi từ lâu. Nếu trong Cựu ước, phúc lành của Thiên Chúa được thể hiện chính yếu qua sức khoẻ tốt, con đàn cháu đống và sản nghiệp sung túc, thì chúng ta có thể nói rằng ông Giuse cuối cùng đã được Thiên Chúa chúc phúc! Giuse quản lý sự giàu có của toàn xứ Aicập và ông xây dựng gia đình trong đất nước đã nhận ông như là dưỡng tử. Ông là người công chính và khôn ngoan, biết kính sợ Thiên Chúa. Cuối cùng, ông đã có thể mãi mãi quên hết câu chuyện buồn đau của mình.

Nhưng chúng ta biết là trong Kinh thánh, hạn từ “quên” là không tốt tí nào. Dân tộc chịu đau khổ, người công chính, người bị bách hại, tất cả đều xin Thiên Chúa: “Xin Ngài đừng quên chúng con”. Thiên Chúa cũng yêu cầu dân Ngài không được quên Giáo ước và các Giới răn của Ngài, công trình tạo dựng, công cuộc giải thoát và ơn cứu độ Ngài đã thực hiện cho dân. Điều quan trọng là phải ghi nhớ và nhắc nhớ. Theo khoa chiết tự, từ recordar trong tiếng Tây Ban Nha có “re” nghĩa là làm lại, “cor-cordis” là con tim; cũng như từ “remember” trong tiếng Anh, có “re” nghĩa là làm lại, “member” là tổ chức hay liên kết những gì đã bị phân tán hoặc bị chia ly. Ông Giuse đã phải tìm thấy lại trong lòng mình và tập hợp lại những mảnh vụn của câu chuyện đời mình, một câu chuyện gắn liền với cuộc đời anh em mình: nhớ lại (bày ra trong tâm trí), nhắc nhớ (bày ra trong ký ức).

Khi những năm sung túc đã qua, dân bắt đầu đói khát và lớn tiếng kêu gào Pharao cho bánh ăn. Vua trả lời: “Cứ đến với Giuse; ông bảo gì, các ngươi hãy làm theo” (St 41,55). Những lời này giống như những lời mà Đức Maria nói với gia nhân trong tiệc cưới Cana ở miền Galilê, trước một tình cảnh tương tự (hết rượu).

3/ Những giấc mơ của Thiên Chúa (ơn gọi của chúng ta)

“Nạn đói hoành hành khắp nơi, dân chúng từ khắp thế giới tìm đến Aicập để mua thóc gạo từ ông Giuse”. Nơi quê cha đất tổ của ông, nạn đói cũng hoành hành, ông Giacóp nói với các con: “Sao các con lại ngồi nhìn nhau?” (St 42,1). Ông nghe nói ở Aicập có bán lúa gạo và ông bảo con cái: “Các con hãy xuống đó mua lúa về, để chúng ta sống chứ không phải chết” (St 42,2). Khi biết ông Giacóp, chúng ta có thể đoán được tính thực tế của ông Giuse xuất phát từ đâu. Cha của ông luôn luôn rất thực tế. (nhiều lần Giacóp đã tự cho phép mình sử dụng mưu mẹo – điều này khác với Giuse).

Chúng ta có thể giản lược ơn gọi của chúng ta, ơn gọi làm người “anh em”, thành vấn đề “sống sót” không? Thiên Chúa muốn sự sống, chứ không phải muốn chúng ta “sống sót”! Chúng ta hãy suy nghĩ điều đó, và nhớ đến sự hiện diện, sứ vụ, việc giảng thuyết của chúng ta cũng như những người nghe chúng ta rao giảng, tất cả những ai đang chờ đợi bánh được bẻ ra từ bàn tiệc Lời Chúa! Trực giác của những người, như thánh Đa Minh chẳng hạn, không lưỡng lự trao ban cuộc sống của họ, hao mòn cuộc sống và hết mình vì người khác “để rao giảng và cứu độ các linh hồn” (x. 2Cr 12,15; LCO số 1, §II), trực giác đó càng ngày càng rõ ràng và mang tính tiên tri. Thiên Chúa yêu quý sự sống, Ngài muốn chúng ta được sống và sống dồi dào (x. Ga 10,10). Trong suốt Tam nhật Vượt qua, chúng ta tưởng nhớ cuộc khổ nạn, cái chết và sự phục sinh của Đức Giêsu. Điều này hoàn toàn mới. Đôi khi chúng ta dường như chỉ là phát ngôn viên về sự sống lại của đứa con gái ông Giarô, hoặc của đứa con trai đầu lòng của bà goá thành Nain, hoặc của anh bạn Ladarô ở Bêtania. Họ đều trở về cuộc sống “như đã từng sống”, “đời sống mà họ đã sống trước khi họ chết”, để rồi họ lại phải chết! Chúng ta mơ về thời gian đã qua và chúng ta ước mong mọi thứ trở lại như trước đây, bởi vì quá khứ là thời gian đẹp hơn, khi chúng ta được bốn mươi hoặc ngoài bốn mươi tuổi! (Đối với người khác, điều này có thể xảy ra khi ngoài năm mươi, sáu mươi, bảy mươi hay tám mươi…).

Tôi không sợ sai lầm khi nói rằng sự nhục nhã tồi tệ nhất trong trình thuật về cuộc thương khó của Đức Giêsu không nằm ở những lời khinh thị, những cái khạc nhổ, những cái vả mặt, cũng không phải ở những roi đòn hay mão gai, cũng không phải ở sự kết án đóng đinh thập giá. Cái ô nhục của bi kịch thập giá và của nhân tính, chúng ta tìm thấy trong một câu ngắn gọn rất độc ác, ngày xưa cũng như hiện nay: “Ông hãy tự cứu lấy mình đi!” Các vị thẩm quyền tôn giáo, binh lính, những người qua đường, những người tò mò và tên trộm bên cạnh Đức Giêsu, tất cả mọi người đều thách thức Người bằng cách này hay cách khác với những lời lẽ như thế. Dường như họ muốn nói với Người: ông hãy tự mình lo lấy đi, đó là việc của ông…

Ông Giuse có toàn quyền tại Aicập và ông đã phân phát thóc gạo cho toàn dân. Ông là một người công chính. Chúng ta biết rằng ngoài công bằng “giao hoán” ra, còn có loại công bằng dành cho những người được uỷ thác một thẩm quyền nào đó mà chúng ta gọi là công bằng “phân phối”. Thực vậy, người cầm quyền không được ban phát cho những người dưới quyền mình một cách giống nhau. Họ chia sẻ hay phân phối, đòi hỏi hay yêu cầu “một cách tỉ lệ” (proportionnelle) chứ không chỉ là theo “số học” (1=1), tuỳ theo bổn phận hay nhu cầu của “người khác”.

Chúng ta có kinh nghiệm quen thuộc về đức công bằng phân phối này trong trường hợp ai đó phân phối thức ăn cho những người ngồi đồng bàn, anh phân phát theo nhu cầu của mỗi người hoặc theo khẩu vị của từng người mà không bị coi là bất công. Cũng thế, bề trên hoặc quản lý đòi hỏi hoặc yêu cầu mỗi anh em đóng góp phần mình, (những gì thuộc về mỗi người anh em), tùy theo sự công bằng có tính tỷ lệ (theo khả năng, khó khăn, nhu cầu… của mỗi người). Điều này không có nghĩa là “thiên vị” ai (về vấn đề này, dụ ngôn về người quản gia khôn ngoan lại rất có ý nghĩa). Chúng ta biết đời sống cộng đoàn, đời sống huynh đệ, không chỉ được xây dựng trên nền tảng đức công bằng giao hoán (theo số học) mà còn theo đức công bằng phân phối (hoặc tỷ lệ).

Dĩ nhiên, chính lòng từ bi nhân hậu là gốc rễ hay là giả định có tính thần học, là linh hồn và trái tim ban sự sống, làm sinh động và xác định cho mục đích tối hậu và siêu nhiên của ơn gọi chúng ta. Tình yêu này kiện toàn và vượt lên trên đức công bằng; tình yêu đó làm nền tảng và là giả thiết cho đức công bằng.[15]

Thánh Phaolô dạy chúng ta rằng đức công chính của Thiên Chúa được thể hiện trong ơn công chính hoá của tất cả những người tin vào Đức Giêsu (x. Rm 3,25-26). Mặc khải về đức công chính của Thiên Chúa làm cho chúng ta trở nên công chính (công chính hoá), và không những dẫn đưa chúng ta đến chỗ nhìn thấy rõ hơn mối tương quan giữa đức công chính và lòng thương xót nơi Thiên Chúa[16] nhưng còn đỏi hỏi một cách thức mới sống tình huynh đệ từ phía chúng ta (x. 1Cr 13,4-7; Gc 2,13).

Đức ái trổi vượt trên đức công bằng nhưng không bao giờ có đức ái nếu thiếu đức công bằng; công bằng thúc đẩy chúng ta trả cho người khác những gì “của họ”, tức là những gì thuộc về họ vì lý do cuộc sống và hoạt động của họ. Tôi không thể “cho” người khác những gì là của tôi mà trước tiên không trả cho họ những gì là của họ theo lẽ công bằng. Đức ái đòi hỏi phải có đức công bằng, đức ái vượt lên trên đức công bằng và kiện toàn đức công bằng trong lý luận của việc trao ban và tha thứ.[17]

Ông Giuse là một người quản trị, một người quản trị tốt. Cuối cùng ông đã được “mọi thứ dưới quyền kiểm soát của mình”. Tuy nhiên, khi mọi thứ có vẻ như xuôi xắn, thì các anh của ông đã đến Aicập! Họ không biết ai đang đón tiếp họ, nên họ phủ phục trước mặt ông. Còn Giuse nhận ra họ nhưng đối xử với họ cứ như những người xa lạ (chúng ta đều biết câu chuyện này, vì thế tôi miễn đề cập chi tiết ở đây).

Trong Kinh thánh, câu đầu tiên mà người đàn ông nói với người phụ nữ khi Thiên Chúa dẫn bà đến cho ông là: “Phen này, đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi!” (St 2,23). Những lời nói mang nét đặc trưng rất đông phương, tiếp theo truyền thống tốt đẹp của Hípri. Những hình ảnh mang tính thể lý hay vật chất –thịt và xương – được sử dụng để diễn tả những thực tại thâm sâu và thiêng liêng hơn: sự bổ túc lẫn nhau, “một trợ tá tương xứng”. Chúng ta thấy trong những hoàn cảnh vừa khác vừa giống đó, có một kiểu loại suy rất sâu sắc. Ở đây chúng ta cũng có thể áp dụng cho tình huynh đệ. Trước mặt ông Giuse là các anh của ông, thịt bởi thịt ông, họ đều cùng một huyết thống, “được làm từ cùng một loại gỗ” có thể nói được như vậy.

Khi ông Giuse tin rằng mình đã hoàn toàn dứt khoát với quá khứ (quá khứ mà ông muốn kiểm soát như ông kiểm soát tài sản do ông quản lý), thì ông lại diện đối diện với các anh của mình, đối diện với lịch sử và cuộc đời của mình. Chúng ta không thể che đậy những khía cạnh khác nhau trong cuộc đời của mình mà cũng không thể đặt chúng vào trong ngoặc đơn được. Dù thỉnh thoảng ta cố làm điều đó, nhưng khi đó chúng ta không còn thực sự là con người nữa, bề ngoài có vẻ là như vậy, nhưng thực chất chỉ là một cái xác mang hình hài con người. Đây là lý do tại sao, tôi xin lặp lại, trong Kinh thánh, “kỷ niệm” hoặc “ký ức” là quan trọng.

Ông Giuse “nhớ lại những giấc chiêm bao của ông liên quan đến họ” (St 42,9). Do đó, ông đối xử với họ một cách cứng rắn và thử thách họ. Nhưng dù sao, khi nhận ra họ là anh em của ông, cho dù sự hiện diện của họ gợi lại những nỗi đau, Giuse bắt đầu chữa lành lịch sử đời mình.

Chúng ta thường trích dẫn câu nổi tiếng của thánh Ghegorio Nazianzeno (329-391): “Cái gì không được đảm nhận thì không được chữa lành” (không được cứu chuộc, không được cứu rỗi). Chúng ta cũng học cách áp dụng, theo cách loại suy, chân lý Kitô học này vào nhiều lãnh vực tương tự: cuộc sống của chúng ta trước khi vào Dòng và đời sống tu trì của chúng ta; cộng đoàn và sứ vụ giảng thuyết; lịch sử và lịch sử của cá nhân chúng ta; đời sống thường ngày của các tu viện, các Tỉnh dòng và của toàn Dòng. Đó là hằng số đang từng ngày đụng chạm đến mọi lãnh vực khác nhau của cuộc sống chúng ta: thể lý và sinh học; tâm lý và xã hội; luân lý và tâm linh. Cái gì người ta không đảm nhận lấy thì không được chữa lành.

Khi “người hay chiêm bao” thích quên đi, thì câu hỏi Thiên Chúa đặt ra cho Cain lại đòi hỏi ông Giuse một câu trả lời mới: “Các anh của ngươi đâu rồi?” Câu hỏi này thời trẻ ông đã nghe –bắt đầu cho một thời kỳ đau khổ của đời ông – lại trở về một cách bi thảm: “Tôi đang tìm các anh của tôi. Xin làm ơn chỉ cho tôi họ ở đâu…?” Câu trả lời của Thiên Chúa quan phòng – Đấng không bao giờ bỏ rơi ông và cũng không bao giờ bỏ rơi những người thân thương của ông – làm cho trái tim ông xúc động rất mạnh: Kìa họ đang ở trước mặt anh! Ngay bên cạnh anh! Có điều gì giống như thế xảy ra cho chúng ta khi nhìn xung quanh và nhận ra những người anh em của chúng ta: đây là người anh em của tôi! Những người này là anh em của tôi! Không phải là những người lý tưởng như tôi tưởng tượng đâu! Chúng ta không thể đòi hỏi họ thay đổi rồi mới có thể đón nhận và yêu thương họ như những người anh em.

Khi Thiên Chúa hỏi Cain về người em của mình, anh đã trốn tránh không trả lời sự thật, anh che giấu đằng sau câu hỏi: “Con là người giữ em con hay sao?” Trong Đức Kitô và trong ơn gọi quy tụ chúng ta, không thể tái diễn màn kịch này. Bởi vì thực tế, nếu chúng ta không phải là “những người giữ anh em của mình”, thì chúng ta không còn là những người anh em của anh em chúng ta một tí nào nữa!

Có nhiều thứ cần phải hoà giải giữa gia đình ông Giacóp và gia đình Giuse. Cần phải có thời gian và kiên nhẫn. Trong sách Sáng thế, chúng ta thấy tầm quan trọng của việc tiến triển từng bước, từng giai đoạn. Không thể áp đặt một nhịp độ “cấp tốc” cho lịch sử, với ước mong chữa lành những vết thương của cá nhân và của cộng đoàn… những vết thương này chỉ có thể được chữa lành qua một nhịp độ chiêm niệm tuyệt vời. Thực tế cho thấy, chúng ta biết câu chuyện của ông Giuse và các anh của ông diễn tiến như thế nào: họ trở về Canaan; lần thứ hai họ sang Aicập cùng với Benjamin; họ gặp ông Giuse một lần nữa; ông Giuse thử thách các anh lần cuối; Giuđa can thiệp cho Benjamin…

Chúng ta đến đoạn kết. Giuse không thể cầm được xúc động, nói với các anh mình: “Tôi là Giuse đây (…). Hãy lại gần tôi” và khi họ lại gần, ông thêm: “Tôi là Giuse, đứa em mà các anh đã bán sang Aicập”… Rồi ông hôn các anh và ôm họ mà khóc, sau đó anh em ông nói chuyện với ông (St 45,3-4,15).

Nước mắt hình như đã rửa sạch cái nhìn của con tim ông. Qua cơn “tsunami” thực sự cảm động này, mười lăm năm sau thời kỳ khủng khiếp ông bị các anh bán sang Aicập, giờ đây ông có thể khám phá ra ý nghĩa toàn bộ cuộc đời mình và tất cả những gì đã xảy ra… ông đã phải đi trên một con đường dài và uẩn khúc để thanh luyện, xây dựng lại và hoà giải câu chuyện lịch sử về tình huynh đệ của mình.

Những lời của ông thật rõ ràng: “Nhưng bây giờ, các anh đừng buồn phiền, đừng hối hận vì đã bán tôi sang đây: chính là để duy trì sự sống mà Thiên Chúa đã gửi tôi đi trước anh em. Thật vậy, đây là năm thứ hai có nạn đói trong xứ, và sẽ còn năm năm nữa không cày không gặt. Thiên Chúa đã gửi tôi đi trước anh em, để giữ cho anh em một số người sống sót trong xứ, và để cứu sống anh em, nhằm thực hiện cuộc giải thoát vĩ đại. Vậy không phải các anh đã gửi tôi đến đây, nhưng là Thiên Chúa” (St 45,5-8). Phản ứng này không phải chỉ là kết quả của những tình cảm chóng qua. Nhiều năm sau đó, “Các anh ông Giuse thấy cha mình đã chết thì bảo nhau: “Không khéo Giuse còn hận chúng ta và trả lại cho chúng ta tất cả điều ác chúng ta đã gây ra cho nó!… Họ sai người đến nói với ông: “Cha của chú trước khi chết đã truyền rằng: Các con hãy nói thế này với Giuse: “Thôi! Xin con tha tội tha lỗi cho các anh con, vì họ đã gây ra điều ác cho con.” Bây giờ xin chú tha tội cho các kẻ làm tôi Thiên Chúa của cha chú! “ Ông Giuse khóc, khi họ nói với ông như thế. Các anh ông đích thân đến cúi rạp xuống trước mặt ông và nói: “Này chúng tôi là nô lệ của chú.” Ông Giuse nói với họ: “Đừng sợ! Tôi đâu có thay quyền Thiên Chúa! Các anh đã định làm điều ác cho tôi, nhưng Thiên Chúa lại định cho nó thành điều tốt, để thực hiện điều xảy ra hôm nay, là cứu sống một dân đông đảo. Bây giờ các anh đừng sợ, tôi sẽ cấp dưỡng cho các anh và con cái các anh.” Ông an ủi và chuyện trò thân mật với họ” (St 50,15.18-20).

Ông Giuse, người hay chiêm bao, gặp trục trặc với các anh ông vì đã muốn cho họ biết những giấc chiêm bao của mình. Điều đó ghi dấu ấn trên cuộc đời ông. Rồi chính cuộc sống đã làm cho ông dần dần nhận ra và khám phá ra rằng người khác cũng có những giấc mơ. Từ kinh nghiệm này, ông lắng nghe những ước mơ của người khác và cũng muốn – nhân danh Thiên Chúa – giải thích những giấc mơ đó. Nhưng khi có khả năng này (khả năng cảm nhận những nhu cầu của người khác như chính nhu cầu của mình, lắng nghe một cách kiên nhẫn, dành cho họ có chỗ đứng trong tim mình), ông không hình dung được rằng Thiên Chúa đã cho ông những giấc mơ của riêng ông: ơn cứu độ và sự giải thoát cho chính ông, cho anh em của ông và cho cả dân tộc ông nữa!

Nếu những giấc mơ của chúng ta diễn tả những dự phóng, hy vọng, lý tưởng của chúng ta, thì việc lắng nghe những giấc mơ của người khác có thể mở rộng trái tim chúng ta ra với những dự án, hy vọng, lý tưởng và những ước mơ của họ… nhưng những ước mơ của Thiên Chúa dành cho mỗi người trong chúng ta, cho tất cả anh em chúng ta còn cho thấy ý nghĩa thâm sâu của đời sống chúng ta, của ơn gọi chúng ta! Ơn gọi cá nhân từng người chẳng phải là cách diễn tả cụ thể về những giấc mơ của Thiên Chúa về mỗi người trong chúng ta và cho tất cả chúng ta hay sao? Những “giấc mơ” của Thiên Chúa là ơn gọi của chúng ta. Chính anh em đang nhắc nhở cho chúng ta điều đó. Khi Thiên Chúa mặc khải cho chúng ta biết những giấc mơ của Ngài (như Ngài sẽ làm cho ông Giuse, hôn phu của Đức Maria, vào lúc người thợ mộc muốn bỏ trốn cô một cách kín đáo), Ngài cho chúng ta biết con đường ơn gọi vượt trên tất cả những gì chúng ta có thể ước mong, hay tưởng tượng cho mình và cho người khác; vượt trên tất cả những gì mà người khác có thể mơ ước cho chúng ta… (x. Is 55,8).

Câu chuyện về ông Giuse kết thúc – còn có thể có cách nào khác nữa đâu – bằng “một giấc chiêm bao” cuối cùng (lần này nghe như “mặc khải”): “Ông Giuse nói với các anh em: “Tôi sắp chết, nhưng thế nào Thiên Chúa cũng sẽ viếng thăm anh em và đưa anh em từ đất này về đất mà Người đã thề hứa với ông Ápraham, ông Ixaác và ông Giacóp” (St 50,24). Đó là khúc dạo đầu cho lịch sử ơn gọi của một dân tộc, nhưng không phải chỉ là của gia đình ông Giacóp. Lịch sử này đạt đến đỉnh cao trong sứ vụ của Người Con yêu dấu. Người Con này cũng vậy, trên đường đi tìm anh em mình, bị bán với giá vài chục bạc và sẽ trở nên nguồn suối cho đời sống mới trải qua cái chết và sự phục sinh của Người.

Cuộc sống của chúng ta, của các cộng đoàn tu viện, của Tỉnh dòng và toàn Dòng cũng cần một lộ trình đi đến hòa giải. Không phải đạt đến hạnh phúc bằng phép ma thuật. Sự hoà giải đòi hỏi chúng ta “tự đặt mình vào vị trí của người khác” (x. St 44,33). Đây là điều mà chúng ta, với tư cách là những người anh em, học được qua một khoa sư phạm không dễ dàng gì. Để làm được điều đó, cần phải học đọc lịch sử của mỗi người chúng ta và của anh em chúng ta (của các cộng đoàn) để, với lòng kiên nhẫn, khiêm tốn và bền tâm, khám phá ra công trình của Thiên Chúa quan phòng đã và đang tác động nơi chúng ta.

Mọi người đều là anh em tôi

Giuse là mẫu người công chính, khôn ngoan và tài giỏi; một người anh em đích thực. Chúng ta đã nói về đức công bằng. Còn khôn ngoan lại là một nhân đức của lý trí thực tiễn có khả năng áp dụng những nguyên tắc luân lý với thực tế ở đây và lúc này. Đức khôn ngoan chủ yếu là phân biệt trong số muôn vàn vấn đề, cái gì là quan trọng, cần thiết, cái gì là phụ, là thứ yếu; điều nào là bản thể và điều nào là phụ thể.

Chúng ta đã đọc cuộc đời và sứ mệnh của ông Giuse theo một cách thức mới. Ông đã không muốn quy chiếu hay tập trung toàn bộ lịch sử đời mình vào chính mình. Từ quan điểm này, chúng ta có thể hiểu được ngôn sứ Isaia: “Các ngươi đừng nhớ lại những chuyện ngày xưa, chớ quan tâm về những việc thuở trước. Này Ta sắp làm một việc mới, việc đó manh nha rồi, các ngươi không nhận thấy hay sao? Phải, Ta sẽ mở một con đường giữa sa mạc, khơi những dòng sông tại vùng đất khô cằn” (Is 43,18-19)… Đấng ngự trên ngai phán: “Này đây Ta đổi mới mọi sự” (Kh 21,5).

Câu chuyện về tình huynh đệ, về vui mừng và hy vọng hoà lẫn với ưu sầu và lo lắng giúp chúng ta hiểu, dưới ánh sáng Tin mừng, thế nào là sống mầu nhiệm Phục sinh, chết và sống lại. Không phải là trở lại với quá khứ, lại bắt đầu sống như trước đây, như là phép lạ. Mọi người đã trưởng thành khi họ gặp lại ông Giacóp (người cha): một cách rất cụ thể và qua nhiều đau khổ, họ đã học biết cách yêu thương. Cuộc đời của mỗi người gắn bó một cách mầu nhiệm với cuộc đời của người khác (và tất cả đều đón nhận sự sống từ cùng một người cha). Qua những thăng trầm của cuộc sống, họ khám phá ra tình thương của người cha, người đã làm cho họ trở thành anh em với nhau. Sẽ không có tình huynh đệ nếu không có tình phụ tử. Cuộc gặp gỡ của anh em, có cả Giuse, quanh cha già Giacóp sau biết bao hiểu lầm, đố kỵ và ghen ghét, đã mở ra một chân trời mới mặc khải điều gì đó còn lớn lao vĩ đại hơn cả một sự hoà bình đơn điệu “trong gia đình”. Tình huynh đệ là một tặng ân nói lên một sứ vụ phổ quát: họ đã làm nên một dân tộc, dân tộc được tuyển chọn.

Những trang sách Sáng thế này giúp chúng ta canh tân công cuộc dấn thân cho Tin mừng: tình huynh đệ được xây dựng qua những lời của ân sủng và chân lý, của lắng nghe và tình thương. Kinh nghiệm cho chúng ta biết rằng những lời chúng ta nói có thể làm tổn thương, thậm chí là làm suy nhược anh em. Nhưng lời nói cũng có thể làm thức tỉnh những gì cao quý hơn nơi chúng ta, tạo nên những tiềm năng vô biên cho đời sống! Như những lời ông Giuse đã nói với anh em mình khi “ông an ủi và chuyện trò thân mật với họ” (St 50,21).

Câu chuyện về ông Giuse dạy cho chúng ta biết rằng Thiên Chúa không làm ngơ trước những điều chúng ta thưa với Ngài. Ông Giuse cũng đã học biết lắng nghe, ngay cả trong những hoàn cảnh hết sức bi đát như bị ngồi tù. Chúng ta biết có một mối liên kết chặt chẽ giữa “lắng nghe” (audire) và “vâng phục” (oboedere). Đức Chúa đã gieo vào lòng chúng ta khả năng biết lắng nghe. Biết bao nhiêu là thảm kịch của con người, gia đình hoặc cộng đoàn nảy sinh từ việc không biết lắng nghe nhau! Đó chính là lý do tại sao chúng ta có thói quen hội họp trong cộng đoàn để cùng lắng nghe tiếng của Thiên Chúa (cầu nguyện chung với nhau) và lắng nghe Thiên Chúa qua tiếng nói của người anh em chúng ta (những buổi gặp gỡ và những cuộc họp cộng đoàn). Cũng chính nơi cộng đoàn mà chúng ta được mời gọi lắng nghe những người cùng chia sẻ sứ vụ với chúng ta, và những đối tượng của sứ vụ này (sứ vụ của cộng đoàn).

Khi Giuse thấy anh em mình bị đói bên Aicập, cuối cùng ông hiểu ra rằng kế hoạch của Thiên Chúa đã biến đổi cái xấu mà họ có ý định làm cho ông thành điều tốt. Khi ông mở trái tim ra với những ước mơ của người khác, Thiên Chúa đã cho ông thấy rõ những giấc mơ của chính Ngài: những giấc mơ của Thiên Chúa về Giuse, về anh em của ông và về dân tộc ông. Vì thế, cũng giống như Thiên Chúa, Giuse động lòng thương xót và tha thứ cho các anh em của ông.

Là người anh em giảng thuyết, chúng ta cũng nhận thấy nơi thánh Đa Minh có một trái tim đầy từ bi và trắc ẩn. Tôi nghĩ rằng những lời đẹp nhất về người Cha chung của chúng ta là những lời được chân phước Giođanô viết trong cuốn sách Libellus: “Cha đón nhận tất cả mọi người vào lòng nhân ái bao la của cha, và bởi vì cha yêu thương hết mọi người, nên mọi người cũng đều yêu mến cha.”[18]

Chúng ta đọc thấy trong sách Hiến pháp của chúng ta: “Để mỗi tu viện là một cộng đoàn huynh đệ, mọi người hãy đón nhận và đùm bọc nhau như những chi thể của cùng một thân thể, mặc dù có khác biệt nhau về tài năng và phận vụ, nhưng bình đẳng trong mối dây liên kết của đức ái và của lời khấn” (LCO số 4, §I).

Vì thế, khi anh em “lấy đức tuân phục để đồng thuận, lấy kỷ luật của đức thanh khiết để liên kết bằng một tình yêu cao hơn, lấy đức thanh bần để lệ thuộc nhau khăng khít hơn, thì anh em hãy xây dựng Hội thánh của Thiên Chúa trong chính tu viện mình, trước khi dùng các công việc của mình mà mở rộng giữa thế gian” (LCO số 3, §II).

Chúng ta đã sống tình huynh đệ này hay chưa? Chúng ta đang sống trong một xã hội toàn cầu hoá. Xã hội đó có thể giúp chúng ta gần nhau hơn, nhưng chưa chắc đã làm cho chúng ta thực sự trở thành anh em với nhau. Bởi vì “lý trí, tự nó, có khả năng hiểu biết sự bình đẳng giữa con người với nhau và có khả năng thiết lập nên một cộng đoàn đời sống dân sự, nhưng lý trí không đưa đến việc tạo nên tình huynh đệ. Tình huynh đệ bắt nguồn từ ơn gọi siêu việt của Thiên Chúa Cha, Đấng đã yêu mến chúng ta trước tiên, dạy dỗ chúng ta những gì là bác ái huynh đệ qua trung gian Thánh Tử.”[19]

“Viên ngọc” quý này, tức là tình huynh đệ Đa Minh của chúng ta, là một lời công bố vang đến tận cùng trái đất, vọng ra toàn vũ trụ (x. Tv 19,4-5). Ước gì lời loan báo đó chiếu sáng rạng ngời như lời chúc tụng, ngợi khen và loan báo tốt nhất của chúng ta, bởi vì mọi người đều là anh em của tôi[20] và chúng ta được mời gọi đi rao giảng cho tất cả mọi dân tộc, an ủi khuyến khích họ, chuyện trò thân mật với họ.

“Nguyện xin Thiên Chúa là Cha, và nguyện xin Chúa Giêsu Kitô ban cho anh em ơn bình an và lòng mến cùng với lòng tin” (Ep 6,23).

Thân ái trong cha thánh Đa Minh.

 

 

 


[1] Cha Carlos A. Azpiroz Costa sinh ngày 30/10/1956 tại Buenos Aires, Argentina trong gia đình 14 người con (13 trai, 1 gái). Gia nhập Dòng ngày 01/3/1980, tuyên khấn lần đầu ngày 28/02/1981, tuyên khấn trọn đời ngày 10/3/1984.

Thụ phong linh mục ngày 14/8/1987.

Năm 1997 Tổng quản lý Dòng (Procurator general) năm 1997.

Bề trên Tổng quyền 2001 tại Tổng hội Providence, RI, USA.

Tổng Giám mục Giáo phận Bahía Blanca ngày 03/11/2015.

[2] x. Giođanô Saxonia, Libellus de principiis Ordinis Praedicatorum n. 21 {Ed. H. C. Scheeben, MOPH (1925) t.16}.

[3] x. Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II, Diễn văn đọc tại sân bay Tarbes (Pháp), 14/08/2004; Diễn văn đọc cho các giám mục Pháp nhân dịp Ad limina, 12/04/1997; và nhiều tài liệu khác giống như thế.

[4] x. Acta Capitulorum Generalium 1256, ed. B.M.Reichert, vol.I (Romae 1898) 81.

[5] Chỉ đề cập đến một số văn kiện quan trọng: Công đồng Vaticano II: Lumen Gentium (1964) Caput VI – De religiosis; Perfectae Caritatis (1965); Paul VI: Evangelica Testificatio (1971); Gioan Phaolô II: Redemptoris donum (1984); Vita consecrata (1996); Congregatio pro Religiosis et Institutis Saecularibus: Eléments essentiels (1983); Congregavit nos in unum Christi Amor (1994); Repartir du Christ (2002); Faciem tuam, Domine, requiram (2008).

[6] x. ACG 1977 (Quezonopoli) Caput IV – De vita nostra religiosa in mundo hodierno: ACG 1980 (Walberberg) Caput IV – De vita nostra religiosa in mundo hodiero, Caput V – De Vita Communi: ACG 1983 (Romae) Caput XIII – De gubernio et vita religiosa; ACG 1986 (Abulensis) Caput VII – De vita religiosa; ACG 1989 (Oakland) Caput II – De vita communi; ACG 1992 (Mexico) Caput III – De vita communi; ACG 1995 (Calorogae) Caput III – De Vita communi fraterna; ACG 1998 (Bononiae) Caput III – De formatione et vita communi; ACG 2001 (Providentiae) Caput IV – De vita contemplativa – de vita communi; ACG 2004 (Cracoviae) Caput IV – De vita communi; AGC 2007 (Bogotae) Caput IV – Passion for the Dominican life – Life of the brethren.

[7] Vincent de Couesnongle: La dimension contemplative de notre vie dominicaine (1982-IDI n. 200); Damian Byrne: The common life (1988-IDI n. 262); Timothy Radcliffe: Freedom and responsibility – Towards a spirituality of government (1997-IDI n. 353), Promise of Life (1998-IDI n.361).

[8] Nếu Thiên Chúa muốn, đây sẽ là Tổng hội thứ 287 của Dòng; x. Innocentius Taurisano OP, Hierarchia Ordinis Praedicatorum – Prima Pars (Romae 1916) 18-25; x. Angelus Walz OP, Compendium Historioe Ordinis Praedicatorum (Romae 1958) 699-700.

[9] Eneus Domitius Ulpianus (+Roma 228).

[10] Geraldus de Frachet, Vita Fratrum (ed. Reichert, MOPH t. 1), II pars, cap. XLV, III.

[11] Sự sửa lỗi huynh đệ mà Chúa Giêsu đã dạy chúng ta trong Tin mừng (x. Mt 7,15;18,15-18) không phải là than trách về điều gây xáo trộn hoặc làm tổn thương chúng ta. Sửa lỗi huynh đệ cốt ở việc sửa chữa người anh em do tình bác ái, chứ không phải trừng phạt anh em. Thánh Tôma coi đó là một trong những hành vi riêng hoặc hiệu quả của đức ái (x. Tổng luận thần học, II-II, q.31, prol. và q.33).

[12] x. Đức giáo hoàng Bênêđictô XVI, Bài giảng Lễ khai mạc Thượng hội đồng giám mục thế giới thường kỳ XI (02/10/2005).

[13] x. GS số1.

[14] x. LCO số 1, §VI.

[15] x. Tôma Aquinô, Tổng luận thần học, I, q.21, aa.3-4.

[16] x. Tôma Aquinô, Scriptum super libros Sententiarum, I, d. 43, q. 2, a. 2 ad 4.

[17] x. Đức giáo hoàng Bênêđictô XVI, Caritas in Veritate, n. 6.

[18] x. Giođanô Saxonia, Libellus de principiis Ordinis Praedicatorum n. 107 {ed. H. C. Scheeben, MOPH (1925) t. 16}.

[19] Đức giáo hoàng Bênêđictô XVI, Caritas in Veritate, n. 19.

[20] Đức giáo hoàng Phaolô VI, Sứ điệp ngày quốc tế hòa bình năm 1971 (14/11/1970).

 

 

Catechesis.Net